Một số quy định về giải quyết tranh chấp trong trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động có yếu tố nước ngoài và bảo vệ người lao động

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
TẠP CHÍ KHOA HỌC  
ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
Số 74 (02/2021)  
SAIGON UNIVERSITY  
SCIENTIFIC JOURNAL  
OF SAIGON UNIVERSITY  
No. 74 (02/2021)  
MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG TRƯỜNG  
HỢP ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG CÓ YẾU TỐ  
NƯỚC NGOÀI VÀ BẢO VỆ NGƯỜI LAO ĐỘNG  
Some provisions on settlement of disputes towards unilateral termination of labor  
contracts with foreign elements and employee protection  
ThS. Nguyễn Thị Thu Thủy  
Trường Đại học Lao động Xã hội (cơ sở 2), TP.HCM  
TÓM TẮT  
Chấm dứt hợp đồng lao động là một sự kiện quan trọng nên pháp luật có những quy định rõ ràng, chặt  
chẽ. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là một trường hợp cụ thể. Tuy nhiên so với các trường  
hợp khác như chấm dứt hợp đồng, hết hạn hợp đồng thì trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng là  
một trong những vấn đề vô cùng phức tạp bởi nó là hành vi chủ ý của một bên mà không phụ thuộc vào  
chủ thể bên kia. Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là tranh chấp về lợi ích giữa các  
bên trong quan hệ lao động, nó liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích của cả hai bên. Vì vậy cần đưa ra  
những quy định cụ thể để bảo vệ quyền và nghĩa vụ của người lao động trong việc đơn phương chấm  
dứt hợp đồng lao động.  
Từ khóa: đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, giải quyết tranh chấp, hợp đồng lao động, yếu tố  
nước ngoài  
ABSTRACT  
There are clear and strict provisions in the law towards contract termination since this is a crucial issue.  
Unilateral termination of labor contracts is a specific case; however, compared to others such as contract  
termination or contract expiration, the unilateral termination of contracts is one of the most complicated  
issues because it is an intentional act of one party without any consent of the other parties. Disputes in  
unilateral termination of labor contracts are the issues of interests among parties and their labor  
relations, which are directly related to the rights and benefits of both parties. Therefore, it is necessary  
to provide specific provisions to protect the rights and obligations of employees in unilateral termination  
of labor contracts.  
Keywords: unilateral termination of labor contract, settlement of disputes, labor contract, foreign  
elements  
lao động (NSDLĐ) trong quá trình lao  
động, thường là tranh chấp lợi ích giữa hai  
bên trong quan hệ lao động. Tranh chấp lao  
động là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ và  
lợi ích phát sinh giữa các bên trong quan hệ  
1. Một số quy định pháp luật về  
tranh chấp lao động  
Tranh chấp lao động là hiện tượng  
phát sinh trong quan hệ lao động giữa  
người lao động (NLĐ) và người sử dụng  
74  
NGUYỄN THỊ THU THỦY  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
lao động. Luật Norris - La Guardia (Hoa  
Kỳ) đã đưa ra định nghĩa về tranh chấp lao  
động và được kế thừa trong Luật quan hệ  
lao động quốc gia. Theo đó, tranh chấp lao  
động bao gồm bất kỳ tranh cãi nào về các  
điều khoản, thời hạn hay điều kiện thuê  
mướn lao động hay vấn đề liên quan đến tổ  
chức hoặc đại diện trong thương lượng,  
quyết định, duy trì, thay đổi, hay nỗ lực  
dàn xếp các điều khoản hay điều kiện về  
thuê mướn lao động, bất kể là các bên  
tranh chấp có cùng trong một quan hệ lao  
động hay không. Tại khoản 2, Điều 212  
Luật Lao động Philippines quy định:  
“Tranh chấp lao động bao gồm bất cứ tranh  
cãi hoặc vấn đề gì liên quan đến các điều  
khoản và điều kiện việc làm, đến hội hoặc  
đại diện của các bên trong thương lượng, tổ  
chức duy trì, thay đổi hoặc sắp xếp các  
điều khoản và điều kiện việc làm, cho dù  
những người tranh chấp có quan hệ gần gũi  
với NSDLĐ và NLĐ” hoặc theo mục 5  
Luật quan hệ lao động Thái Lan (1975),  
tranh chấp lao động là tranh chấp giữa  
NSDLĐ và NLĐ liên quan đến các điều  
kiện thuê mướn lao động. Theo pháp luật  
Indonesia, tranh chấp lao động là sự khác  
biệt về quan điểm dẫn đến tranh chấp giữa  
NSDLĐ hoặc tổ chức đại diện của NSDLĐ  
với NLĐ hoặc tổ chức công đoàn do bất  
đồng về quyền (hoặc) mâu thuẫn về lợi ích,  
tranh chấp về việc chấm dứt quan hệ lao  
động, hay tranh chấp giữa các tổ chức công  
đoàn trong một công ty. Luật lao động  
Malaysia định nghĩa tranh chấp lao động  
là bất kỳ sự tranh chấp nào giữa NSDLĐ  
với NLĐ mà có liên quan đến việc sử dụng  
lao động hoặc những điều kiện làm việc  
của bất kỳ NLĐ đó.  
đó có ít nhất một trong các bên tham gia là  
cá nhân, pháp nhân nước ngoài; các bên  
tham gia đều là công dân, pháp nhân Việt  
Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực  
hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại  
nước ngoài; các bên tham gia đều là công  
dân, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng  
của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài. Tranh  
chấp lao động có yếu tố nước ngoài có  
phạm vi rộng, vì không chỉ chủ thể quan hệ  
lao động (có yếu tố nước ngoài), mà còn  
quan hệ tài sản (có yếu tố nước ngoài).  
Việc đưa ra khái niệm tranh chấp lao động  
không chỉ là tiền đề giải quyết tranh chấp,  
mà còn xác định cơ quan có thẩm quyền  
giải quyết và các biện pháp phòng ngừa  
tranh chấp lao động.  
2. Giải quyết tranh chấp lao động  
trong trưꢀng hꢁp đơn phương chấm dứt  
hꢁp đồng lao động có yếu tố nước ngoài  
Tranh chấp lao động là những mâu  
thuẫn về quyền lợi, nghĩa vụ phải thực hiện  
giữa NSDLĐ với NLĐ. Tranh chấp lao  
động có thể xảy ra giữa cá nhân NLĐ và  
NSDLĐ về các nội dung trong hợp đồng  
lao động, nội quy lao động hoặc tranh chấp  
giữa tập thể người lao động với người sử  
dụng lao động về các nội dung trong thỏa  
ước lao động tập thể, nội quy lao động.  
Trong quan hệ lao động, hợp đồng lao  
động là hình thức pháp lý vô cùng quan  
trọng bởi đó chính là sự kiện làm phát sinh,  
dẫn đến việc thay đổi hoặc chấm dứt một  
quan hệ pháp luật theo hợp đồng. Thường  
quan hệ lao động mang tính ổn định, nhưng  
không được xem là vĩnh cửu nên nó có thể  
chấm dứt bất kỳ lúc nào bởi những lý do  
khác nhau. Đơn phương chấm dứt hợp  
đồng lao động là một trường hợp cụ thể,  
tuy nhiên so với các trường hợp khác như  
chấm dứt hợp đồng, hết hạn hợp đồng thì  
trường hợp đơn phương chấm dứt hợp  
Tranh chấp lao động có yếu tố nước  
ngoài được quy định tại khoản 2, Điều 663  
Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2015, theo  
75  
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY  
No. 74 (02/2021)  
đồng là một trong những vấn đề vô cùng  
phức tạp bởi nó là hành vi chủ ý của một  
bên mà không phụ thuộc vào chủ thể bên  
kia. Đó cũng là nguyên nhân mà các vụ  
tranh chấp lao động xảy ra chiếm tỉ lệ khá  
cao về các trường hợp đơn phương chấm  
dứt hợp đồng lao động.  
hoạt, năng động của thị trường lao động.  
Đó là lý do pháp luật hiện hành có những  
quy định chặt chẽ các luật định, các thủ tục  
đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.  
Trường hợp đối với loại hợp đồng không  
xác định thời hạn, nhiều nước trên thế giới  
đều cho phép NLĐ đơn phương chấm dứt  
hợp đồng lao động mà không cần đưa ra lý  
do. Ở một số nước châu Âu pháp luật quy  
định: “NSDLĐ chỉ được đơn phương chấm  
dứt hợp đồng lao động khi có lý do chính  
đáng đồng thời phải được báo trước, còn  
NLĐ chỉ cần báo trước mà không cần đưa  
ra lý do. Tại Hoa Kỳ, tòa án ở đây có  
khoảng thời gian thừa nhận việc thuê mướn  
lao động là không xác định thời hạn vì vậy  
các bên có quyền chấm dứt hợp đồng lao  
động bất kỳ vào thời gian nào không cần  
báo trước cũng như nêu lý do” (Nguyễn  
Thị Tú Uyên, 2002, tr.78-79). Điều này  
hoàn toàn khác với Australia khi cho rằng  
hai bên “đều có thể đơn phương chấm dứt  
hợp đồng lao động nhưng phải báo cho  
bên kia trong một thời hạn nhất định” (B.  
Creihgton and A. Stewart, 2005, pp.416-  
417). Có hai trường hợp đơn phương chấm  
dứt hợp đồng lao động: thứ nhất, đơn  
phương chấm dứt hợp đồng lao động từ phía  
NLĐ; thứ hai, đơn phương chấm dứt hợp  
đồng lao động từ phía NSDLĐ.  
Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao  
động là những trường hợp hợp đồng chấm  
dứt chỉ do ý chí của một bên chủ thể nhưng  
được pháp luật thừa nhận và đảm bảo thực  
hiện. Quy định này với mục đích để bảo vệ  
quyền lợi cho một trong các bên trong quan  
hệ lao động vì những lý do khách quan  
không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng hoặc  
vì sự vi phạm hợp đồng, vi phạm pháp luật  
từ phía bên còn lại. Đây là sự kiện pháp lý  
vô cùng quan trọng bởi nó là sự kết thúc  
quan hệ lao động. Vì vậy có ảnh hưởng đến  
NLĐ lẫn NSDLĐ, đồng thời tác động  
không nhỏ đến thị trường lao động giữa  
các bên. Nhìn chung pháp luật của quốc gia  
nào cũng cho phép NSDLĐ và NLĐ được  
quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao  
động với điều kiện là phải có căn cứ hợp  
pháp và phải thực hiện những nghĩa vụ  
nhất định. Vấn đề đơn phương chấm dứt  
hợp đồng lao động được thừa nhận và bảo  
hộ cần tuân theo các quy định về điều kiện  
nội dung và thủ tục nhất định bởi việc đơn  
phương chấm dứt hợp đồng đúng pháp luật  
sẽ “giải phóng” cho chủ thể khỏi các nghĩa  
vụ ràng buộc trong hợp đồng lao động.  
Hành vi này là một trong những biện pháp  
có hiệu quả để bảo vệ các bên của quan hệ  
lao động khi có sự vi phạm các cam kết  
trong hợp đồng, vi phạm pháp luật lao  
động từ phía bên kia hay các trường hợp  
mà pháp luật quy định. Bên cạnh đó, đảm  
bảo cho quyền đơn phương chấm dứt hợp  
đồng lao động là vấn đề quan trọng bậc  
nhất nhằm góp phần cân bằng mức độ linh  
Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao  
động có yếu tố nước ngoài là một trong  
những vấn đề được pháp luật các nước  
quan tâm, đặc biệt cả hai trường hợp NLĐ  
đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động  
hay NSDLĐ đơn phương chấm dứt hợp  
đồng lao động đối với các bên. Theo pháp  
luật các nước, việc xác định luật áp dụng  
đối với trường hợp đơn phương chấm dứt  
hợp đồng lao động có yếu tố nước ngoài  
được thực hiện theo một số nguyên tắc  
nhất định. Khi có tranh chấp xảy ra, vấn đề  
76  
NGUYỄN THỊ THU THỦY  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
đặt ra là pháp luật của quốc gia nào sẽ  
được áp dụng điều chỉnh quyền và nghĩa  
vụ của các bên, cũng như các vấn đề khác  
có liên quan đến tranh chấp hợp đồng lao  
động. Tranh chấp hợp đồng lao động xảy  
ra trong phạm vi của quốc gia nào do pháp  
luật của quốc gia đó điều chỉnh, nhưng  
tranh chấp đó xuất hiện yếu tố nước ngoài  
thì nó thuộc phạm vi điều chỉnh của tư  
pháp quốc tế.  
Thứ nhất, trường hợp NLĐ nước ngoài  
có thời gian cư trú lâu dài trên lãnh thổ  
nước sở tại thì pháp luật quốc gia sở tại  
quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ lao  
động của NLĐ. Họ hưởng mọi chế độ được  
đãi ngộ như công dân nước sở tại, tuy  
nhiên có hạn chế đối với một số ngành  
nghề nhất định vì lý do an ninh quốc phòng  
của quốc gia sở tại.  
Thứ hai, NLĐ không định cư lâu dài  
trên lãnh thổ nước sở tại thì quyền và nghĩa  
vụ lao động bị chối bỏ bởi một số nguyên  
tắc nhất định. Vì vậy nguyên tắc được các  
nước áp dụng đơn phương chấm dứt hợp  
đồng lao động là do NSDLĐ và NLĐ được  
quyền chọn luật áp dụng điều chỉnh cho  
quan hệ hợp đồng của mình. Bởi hợp đồng  
lao động bản thân nó mang bản chất hợp  
đồng dân sự nên chịu sự chi phối của  
nguyên tắc tự do thỏa thuận và tự do ý chí  
của các bên. Mặt khác khi tranh chấp đơn  
phương chấm dứt hợp đồng lao động xảy  
ra nhưng một trong các bên NLĐ hay  
NSDLĐ không chọn luật hay việc chọn  
luật không được chấp nhận thì phải thuộc  
vào luật nơi tiến hành lao động là luật mà  
nơi hành vi lao động được diễn ra, được ưu  
tiên áp dụng, nhằm điều chỉnh quan hệ lao  
động giữa các bên. Như vậy, theo pháp luật  
của các nước khi giải quyết tranh chấp đơn  
phương chấm dứt hợp đồng lao động thì  
nguyên tắc do các bên lựa chọn được ưu  
tiên áp dụng. Trường hợp các bên không có  
thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng hay việc  
chọn luật không được chấp nhận thì nơi  
tiến hành lao động, nơi ký kết hợp đồng lao  
động là những nguyên tắc được ưu tiên áp  
dụng.  
Ngoài ra, việc giải quyết tranh chấp  
đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động  
có yếu tố nước ngoài còn có sự tham gia  
của các điều ước quốc tế. Điều ước quốc tế  
là nguồn luật điều chỉnh các quan hệ hợp  
đồng có yếu tố nước ngoài. Phần lớn các  
Điều ước quốc tế đa phương về quan hệ lao  
động đều có trong khuôn khổ các thành  
viên của tổ chức lao động quốc tế. Tuy  
nhiên, ở đây không đưa ra giải quyết vấn  
đề một cách cụ thể mà chỉ đưa ra những  
quy định, nguyên tắc chung trong việc giải  
quyết những tranh chấp phát sinh trong quá  
trình lao động (Điều 672, 673, 674 Bộ luật  
dân sự Việt Nam năm 2015), (Quốc hội,  
2015, tr.304-305). Trong Điều 10, Công ước  
87 (được tổ chức ILO thông qua ngày  
9/7/1948) quy định rằng, “Người lao động và  
người sử dụng lao động có quyền thành lập  
hiệp hội của mình nhằm mục đích xúc tiến  
và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các  
thành viên. Nội dung cơ bản của Điều 1,  
Điều 2, Điều 3 Công ước 98 quy định các  
quốc gia thành viên phải có cơ chế, pháp  
luật bảo vệ người lao động trước việc bị  
phân biệt đối xử trong lao động, trong việc  
tham gia công đoàn” (Bành Quốc Tuấn, 2012,  
tr.470). Ngoài ra để giải quyết các tranh chấp  
phát sinh trong quá trình đơn phương chấm  
dứt hợp đồng lao động có yếu tố nước  
ngoài còn được điều chỉnh bởi các hiệp  
định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với  
các nước. Chẳng hạn như Hiệp định tương  
trợ tư pháp giữa Việt Nam và Ukraina năm  
2000; và Hiệp định tương trợ tư pháp giữa  
Việt Nam và Liên bang Nga năm 1998.  
77  
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY  
No. 74 (02/2021)  
Điều 44 Hiệp định tương trợ tư pháp giữa  
Việt Nam và Liên bang Nga quy định rằng,  
các bên tham gia hợp đồng lao động có thể  
tự lựa chọn pháp luật áp dụng đối với các  
quan hệ lao động giữa họ với nhau nếu  
điều này không bị cấm theo pháp luật của  
bên ký kết mà trên lãnh thổ của nước đó  
các quan hệ lao động này được thực hiện  
(khoản 1); nếu các bên không lựa chọn  
pháp luật áp dụng, thì việc xác lập, hủy bỏ,  
thay đổi, chấm dứt hợp đồng lao động và  
các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng lao  
động đó được xác định theo pháp luật của  
bên ký kết nơi công việc đang, đã hoặc cần  
được thực hiện. Nếu người lao động thực  
hiện công việc trên lãnh thổ của bên ký kết  
này theo hợp đồng lao động ký kết với  
doanh nghiệp ở trên lãnh thổ của bên ký  
kết kia, thì việc xác lập, thay đổi, chấm dứt  
(hủy bỏ) hợp đồng lao động và các tranh  
chấp phát sinh từ hợp đồng lao động đó  
được xác định theo pháp luật của bên ký kết  
đó (khoản 2).  
Theo nguyên tắc chung, việc giải  
quyết tranh chấp đơn phương chấm dứt  
hợp đồng lao động có yếu tố nước ngoài  
thường ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế.  
Khi các bên quan hệ lao động thoả thuận  
lựa chọn điều ước quốc tế làm cơ sở pháp  
lý điều chỉnh mà quy định của điều ước  
quốc tế trái với các nguyên tắc cơ bản của  
pháp luật trong nước thì áp dụng điều ước.  
Việt Nam cũng có quy định tương tự, ngoài  
ra tập quán quốc tế cũng được thừa nhận là  
nguồn của pháp luật khi các bên tham gia  
hợp đồng lao động có yếu tố nước ngoài  
quyền và nghĩa vụ của các bên còn được điều  
chỉnh bởi pháp luật quốc gia có liên quan.  
người lao động là người nước ngoài định  
cư lâu dài tại Việt Nam sẽ do các quy phạm  
pháp luật trong các văn bản pháp luật hiện  
hành của Việt Nam điều chỉnh, (ii) người  
lao động là người nước ngoài làm việc tại  
Việt Nam theo luật đầu tư chịu sự điều  
chỉnh của các điều ước quốc tế mà Việt  
Nam tham gia hoặc ký kết có quy định  
khác, (iii) người lao động là người nước  
ngoài làm việc trong các cơ quan nước  
ngoài hay các tổ chức quốc tế đóng trên  
lãnh thổ Việt Nam chịu sự điều chỉnh của  
nước thuê người lao động và các nguyên  
tắc do các tổ chức quốc tế ban hành, (iv)  
người lao động là người nước ngoài làm  
việc trong các doanh nghiệp của Việt Nam  
hay lao động cho các cá nhân Việt Nam  
trên lãnh thổ Việt Nam sẽ chịu sự điều  
chỉnh của pháp luật lao động Việt Nam, (v)  
người lao động là người Việt Nam định cư  
ở nước ngoài chịu sự điều chỉnh của pháp  
luật sở tại, và (vi) người lao động là người  
Việt Nam làm việc ở nước ngoài theo hợp  
đồng lao động được quy định tại Điều 44,  
45 Luật người lao động Việt Nam đi làm  
việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm  
2013.  
Tóm lại giải quyết tranh chấp lao động  
trong trường hợp đơn phương chấm dứt  
hợp đồng lao động có yếu tố nước ngoài là  
một yêu cầu mang tính khách quan để từ đó  
pháp luật bảo vệ và định hướng cho sự phát  
triển của các quan hệ này theo ý chí chủ  
quan của nhà nước đồng thời tạo ra khung  
pháp lý để hạn chế những ảnh hưởng tiêu  
cực của đơn phương chấm dứt hợp đồng  
lao động. Đơn phương chấm dứt hợp đồng  
lao động là quyền của các bên trong quan  
hệ lao động, từ đó dẫn đến việc hợp đồng  
lao động chấm dứt hiệu lực pháp lý trước  
thời hạn hoặc trước khi công việc theo hợp  
đồng được hoàn thành. Các quan hệ pháp lý  
Trong quá trình giải quyết các tranh  
chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng  
lao động có yếu tố nước ngoài, về quyền và  
nghĩa vụ trong các trường hợp như (i)  
78  
NGUYỄN THỊ THU THỦY  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
trở nên đa dạng hơn khi đơn phương chấm  
dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật sẽ  
giải phóng cho chủ thể thoát khỏi các ràng  
buộc trong hợp đồng lao động.  
3. Quy định bảo vệ ngưꢀi lao động  
trong trưꢀng hꢁp đơn phương chấm dứt  
hꢁp đồng lao động  
Hiện nay có nhiều quan điểm khác  
nhau về mối quan hệ lao động giữa người  
NLĐ và NSDLĐ. Có quan điểm cho rằng cần  
ưu tiên bảo vệ quyền của NSDLĐ; quan điểm  
khác lại cho rằng ưu tiên bảo vệ NLĐ;  
hoặc là cân bằng lợi ích giữa các bên khi  
tham gia quan hệ lao động. Khi tham gia  
vào quan hệ lao động, các bên đều có  
quyền và nghĩa vụ nhất định theo quy định  
của pháp luật. Vì vậy vấn đề đảm bảo  
quyền và lợi ích hợp pháp của các bên  
trong hợp đồng lao động là vấn đề quan  
trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội.  
Trường hợp đối với người lao động:  
dụng lao động chưa thanh toán đầy đủ cho  
người lao động. Việc chấm dứt hợp đồng lao  
động theo nguyện vọng riêng của NSDLĐ,  
mà không có thông báo trước, sẽ dẫn đến  
việc NSDLĐ phải đền bù cho NLĐ số tiền  
bằng với tiền lương và các phúc lợi mà  
người lao động đó được hưởng trong thời gian  
thông báo chính thức (Điều 73, 77 Luật Lao  
động Campuchia). Ở phương diện khác, Luật  
Lao động Lào quy định tại Điều 29: khi  
người lao động có thời gian làm việc từ 12  
tháng trở lên thì họ có quyền chấm dứt hợp  
đồng lao động trước thời hạn nếu họ đưa ra  
các lý do hợp lý như sức khỏe không đảm  
bảo, người sử dụng lao động vi phạm hợp  
đồng lao động và các quyền lợi khác được  
quy định trong quy tắc làm việc, với điều  
kiện phải thông báo trước cho người sử  
dụng lao động theo Điều 28 của Luật Lao  
động Lào.  
Đối với trường hợp hủy hợp đồng lao  
động do bất kỳ lý do nào nêu trên, người sử  
dụng lao động phải trả trợ cấp chấm dứt  
hợp đồng được tính bằng 10% mức lương  
hàng tháng mà người lao động được trả  
trước khi chấm dứt hợp đồng đối với người  
lao động làm việc dưới 3 năm và 15% mức  
lương hàng tháng đối với lao động có thời  
gian làm việc trên 3 năm. Tuy nhiên cũng  
có những trường hợp chấm dứt hợp đồng  
vì những lý do đặc biệt được quy định tại  
điểm 2, khoản 14 Bộ luật lao động  
Malaysia: khi người sử dụng sa thải người  
lao động, nhưng sau đó việc thẩm tra  
không phát hiện được hành vi vi phạm của  
người lao động thì người sử dụng lao động  
phải công khai hoàn trả đầy đủ khoản tiền  
công. Trường hợp chấm dứt việc làm do  
người lao động bị bệnh tật quy định tại  
Điều 284, Bộ luật lao động Philippines:  
chủ sử dụng lao động có thể chấm dứt việc  
làm của người lao động đang có bệnh mà  
Trong quan hệ lao động dù là NLĐ hay  
NSDLĐ đều được pháp luật của mỗi quốc gia  
bảo vệ dưới góc độ quyền công dân và pháp  
luật quốc tế công nhận, đảm bảo quyền của  
người lao động phải được bảo vệ như quyền  
con người. Ngoài ra pháp luật của mỗi quốc  
gia còn ghi nhận nguyên tắc đối xử quốc gia  
và nguyên tắc đối xử tối huệ quốc trong quan  
hệ đối với con người nói chung và quyền lao  
động nói riêng. Đây được xem là các nguyên  
tắc quan trọng và có ý nghĩa hàng đầu của luật  
lao động đó là bảo vệ quyền và lợi ích của  
người lao động. Khi NLĐ đơn phương chấm  
dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật thì  
NLĐ sẽ được giải phóng khỏi nghĩa vụ thực  
hiện quan hệ lao động, họ có cơ hội có quyền  
tìm việc làm mới, được hưởng trợ cấp thôi  
việc, NLĐ được nhận trợ cấp mất việc làm.  
Ngoài ra NLĐ còn được hưởng tiền lương,  
các khoản trợ cấp và các khoản khác trước khi  
chấm dứt hợp đồng lao động mà người sử  
79  
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY  
No. 74 (02/2021)  
luật pháp cấm hoặc tiếp tục làm việc có hại  
cho sức khỏe của anh ta cũng như các đồng  
nghiệp. Người lao động được trả một  
khoản thanh toán ít nhất bằng 1 tháng  
lương của mình hoặc ít nhất 1/2 tháng  
lương bình quân cho mỗi năm phục vụ,  
mức nào cao hơn thì lấy. Thời gian 6 tháng  
được coi là cả 1 năm. Luật Thái Lan dành  
riêng Chương 11 về trả bồi thường, trong  
đó Phần 118 của Luật quy định: ông chủ  
phải trả tiền bồi thường cho người lao động  
bị chấm dứt hợp đồng lao động. Luật  
Singapore quy định tại Điều 22: “Trong  
trường hợp sa thải người lao động thì tổng  
số lương và các khoản thanh toán sẽ được  
chi trả vào ngày sa thải, hoặc nếu không  
thể, sẽ thực hiện trong vòng 3 ngày sau đó,  
không tính ngày nghỉ hoặc ngày lễ. Còn  
trong trường hợp người lao động chấm dứt  
hợp đồng với chủ sử dụng lao động theo  
quy định tại Điều 10, 11 thì họ sẽ được trả  
lương vào ngày hợp đồng kết thúc” (Điều  
23). Đồng thời người lao động có quyền  
yêu cầu người sử dụng lao động trả sổ bảo  
hiểm và các giấy tờ có liên quan. Khi  
người lao động đơn phương chấm dứt hợp  
đồng lao động trái pháp luật (Điều 39, Bộ  
luật lao động Việt Nam năm 2019) thì  
không được hưởng trợ cấp thôi việc, vì đây  
là trường hợp người lao động có hành vi vi  
phạm về căn cứ hay thủ tục chấm dứt hợp  
đồng lao động. Nếu trước khi người lao  
động đơn phương chấm dứt quan hệ lao  
động nhưng người lao động có hành vi vi  
phạm kỷ luật thì người sử dụng lao động  
vẫn có quyền xử lý kỷ luật. Bên cạnh đó  
việc người lao động đơn phương chấm dứt  
hợp đồng lao động trái pháp luật phải bồi  
thường cho người sử dụng lao động khoản  
tiền lương (nửa tháng tiền lương), tiền bồi  
thường chấm dứt hợp đồng trái pháp luật.  
Đồng thời bồi thường khoản tiền kinh phí  
đào tạo (nếu có) cho người sử dụng lao  
động (khoản 3, Điều 43).  
Trường hợp đối với người sử dụng lao  
động:  
Tại khoản 2, Điều 57 Hiến pháp năm  
2013 đã quy định về bảo vệ người lao  
động, cụ thể Nhà nước bảo vệ quyền, lợi  
ích hợp pháp của người lao động, người sử  
dụng lao động và tạo điều kiện xây dựng  
quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn  
định. Điều này đã được cụ thể hóa trong  
Bộ luật lao động Việt Nam năm 2019, theo  
đó bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của  
người sử dụng lao động, quản lý lao động  
đúng pháp luật, dân chủ, công bằng, văn  
minh và nâng cao trách nhiệm xã hội  
(khoản 2, Điều 4). Trên thực tế, việc bảo vệ  
quyền lợi cho NLĐ khá nhiều nhưng đôi  
khi chưa chú trọng đến quyền lợi cho  
NSDLĐ bởi họ là nguồn tạo ra công ăn  
việc làm cho người lao động và thúc đẩy sự  
phát triển kinh tế của đất nước, đó là  
nguyên nhân dẫn đến sự mất cân bằng  
trong quan hệ lao động. Khi NSDLĐ đơn  
phương chấm dứt hợp đồng lao động trái  
pháp luật thì phải nhận NLĐ vào làm việc  
trở lại theo hợp đồng lao động đã ký, phải  
bồi thường một khoản tiền lương và phụ  
cấp (nếu có) trong những ngày NLĐ không  
được làm việc cộng với ít nhất hai tháng  
tiền lương và phụ cấp (nếu có). Trong  
trường hợp NSDLĐ vi phạm về thời gian  
báo trước về đơn phương chấm dứt hợp  
đồng lao động thì phải bồi thường cho  
NLĐ khoản tiền tương ứng với tiền lương  
của người lao động trong những ngày  
thông báo trước. Ngoài ra NSDLĐ đơn  
phương chấm dứt hợp đồng lao động trái  
pháp luật nếu gây hậu quả nghiêm trọng  
còn phải chịu trách nhiệm hình sự, vì vậy  
cần bảo vệ quyền của NSDLĐ.  
4. Kết luận  
80  
NGUYỄN THỊ THU THỦY  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
Trong bối cảnh của nền kinh tế thị  
trường, khi các tranh chấp lao động ngày  
càng diễn ra trên bề rộng cả về số lượng  
lẫn quy mô và hình thức, các tranh chấp  
đơn phương chấm dứt lao động cũng tăng  
nhanh. Đây là một hiện tượng khách quan  
tồn tại trong nền kinh tế thị trường và hội  
nhập quốc tế. Những quy định của pháp  
luật về giải quyết tranh chấp đơn phương  
chấm dứt hợp đồng lao động có yếu tố  
nước ngoài nhìn chung dần được NSDLĐ  
và NLĐ nắm và áp dụng để bảo vệ quyền  
và lợi ích hợp pháp của mình khi có tranh  
chấp xảy ra. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều  
trường hợp NSDLĐ chưa thực hiện đúng  
các quy định của pháp luật, làm ảnh hưởng  
tới quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ,  
làm nảy sinh nhiều vụ tranh chấp lao động  
trên thực tế.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Bộ Lao động - Thương binh xã hội. Vụ pháp chế. (2010). Pháp luật lao động các nước  
Asean. Hà Nội: NXB Lao động Xã hội.  
Breean Creihgton and Andrew Stewart. (2005). Labour law. The Federation Press.  
Fromont, Michel. (2006). Các hệ thống pháp luật cơ bản trên thế giới. Dương Trung Dũng  
(dịch). NXB Tư pháp.  
Quốc hội. (2012). Bộ Luật lao động. Hà Nội.  
Quốc Hội. (2015). Bộ Luật dân sự. Hà Nội.  
Quốc Hội. (2015). Bộ Luật tố tụng dân sự. Hà Nội.  
Bành Quốc Tuấn. (2012). Tư pháp quốc tế. NXB Lao động Xã hội.  
Nguyễn Thị Tú Uyên. (2002). Tìm hiểu những vấn đề cơ bản của Luật Lao động trong nền  
kinh tế thị trường. NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.  
Ngày nhận bài: 01/9/2020  
Biên tập xong: 15/02/2021  
Duyệt đăng: 20/02/2021  
81  
pdf 8 trang Thùy Anh 9720 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số quy định về giải quyết tranh chấp trong trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động có yếu tố nước ngoài và bảo vệ người lao động", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_quy_dinh_ve_giai_quyet_tranh_chap_trong_truong_hop_do.pdf