Tiêu chuẩn bảo hộ kiểu dáng công nghiệp trong CPTPP, EVFTA và yêu cầu đối với Việt Nam

BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
TIÊU CHUẨN BẢO HỘ KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP  
TRONG CPTPP, EVFTA VÀ YÊU CẦU ĐỐI VỚI VIỆT NAM  
Phan Quốc Nguyên*  
*TS. Khoa Luât, Đại học Quốc gia Hà Nội  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Từ khóa: Kiểu dáng công nghiệp,  
tiêu chuẩn bảo hộ kiểu dáng  
công nghiệp, CPTPP, EVFTA,  
Việt Nam.  
Trong thời gian gần đây, Việt Nam đã tham gia ký kết Hiệp định Đối tác  
toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định thương  
mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA). Đây là hai hiệp định tự do thế hệ mới  
điều chỉnh nhiều vấn đề quan trọng về thương mại, đầu tư, môi trường, tài  
chính,... và đặc biệt là vấn đề sở hữu trí tuệ. Tiêu chuẩn bảo hộ kiểu dáng  
công nghiệp quy định trong hai Hiệp định này không cao nhưng lại có một  
số điểm khác biệt, cụ thể hơn so với quy định hiện hành của Việt Nam. Điều  
này dẫn đến hệ quả là bên cạnh những thuận lợi và cơ hội, các tiêu chuẩn  
bảo hộ kiểu dáng công nghiệp quy định trong những Hiệp định lớn này còn  
đặt ra một số yêu cầu đối với Việt Nam.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 17/8/2021  
: 06/9/2021  
: 08/9/2021  
Article Infomation:  
Abstract:  
In recent years, Vietnam has entered CPTPP and EVFTA. Both new  
generation free trade agreements govern important matters such trade,  
investment, environment, finance, etc. and intellectual property in particular.  
Standards of industrial design protection in the Agreements are not high  
but more detailed and little bit different from that of Vietnam. Besides the  
opportunities, these standards of industrial design protection which are  
regulated in these agreements put some challenges for Vietnam.  
Keywords: Industrial design;  
standards for industrial design  
protection; CPTPP; EVFTA,  
Vietnam  
Article History:  
Received  
Edited  
: 17 Aug. 2021  
: 06 Sep. 2021  
: 08 Sep. 2021  
Approved  
1. Tiêu chuẩn bảo hộ kiểu dáng công  
nghiệp theo quy định của Việt Nam  
tiêu là mang lại tính thẩm mỹ. Tuy nhiên,  
trên thực tế, sự sáng tạo mang tính thẩm mỹ  
này lại được áp dụng vào các sản phẩm công  
nghiệp. Đẹp, độc đáo và khả năng áp dụng  
công nghiệp chính là các tiêu chí đi kèm  
khi nói đến kiểu dáng công nghiệp. Chính  
mối quan hệ chặt chẽ giữa tính chất mỹ học  
và tính hiệu quả về mặt kỹ thuật cùng nằm  
trong một sản phẩm đã tạo cơ sở cho một  
1.1. Khái niệm kiểu dáng công nghiệp  
Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên  
ngoài của sản phẩm được thể hiện bằng hình  
khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp  
những yếu tố này1. Bên cạnh những sự sáng  
tạo mang tính kỹ thuật còn tồn tại những sự  
sáng tạo mang tính chất trang trí mà mục  
1 Điều 4.13, Luật SHTT.  
34  
Số 18(442) - T9/2021  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
cơ chế bảo hộ đặc biệt đối với kiểu dáng  
công nghiệp. Kiểu dáng được bảo hộ chính  
là quyền độc quyền đối với hình dáng bên  
ngoài của sản phẩm mang kiểu dáng đó.  
1.2. Điều kiện chung đối với kiểu dáng  
công nghiệp được bảo hộ  
ngoài trước ngày nộp đơn, hoặc trước ngày  
ưu tiên, nếu đơn đăng ký kiểu dáng công  
nghiệp được hưởng quyền ưu tiên. Tính mới  
đối với sáng chế sẽ khác tính mới đối với  
kiểu dáng công nghiệp như sau:  
- Hai kiểu dáng công nghiệp không  
được coi là khác biệt đáng kể với nhau nếu  
chỉ khác biệt về những đặc điểm tạo dáng  
không dễ dàng nhận biết, ghi nhớ và không  
thể dùng để phân biệt tổng thể hai kiểu dáng  
công nghiệp đó.  
Hệ thống bảo hộ kiểu dáng công nghiệp  
có vai trò ngăn chặn sự giả mạo các sản  
phẩm mới được sáng tạo ra mang tính thẩm  
mỹ nguyên gốc. Do vậy, đối tượng được bảo  
hộ phải là các kiểu dáng có tính nguyên gốc  
và có tính thẩm mỹ liên quan đến hình dáng  
bên ngoài, kiểu cách hay màu sắc của sản  
phẩm. Hơn nữa, kiểu dáng được bảo hộ phải  
là những sản phẩm bắt nguồn từ những ý  
tưởng và hoạt động sáng tạo do con người  
thực hiện có giá trị về mặt thẩm mỹ.  
Theo quy định của Điều 63 Luật Sở hữu  
trí tuệ năm 20052 (Luật SHTT), kiểu dáng  
công nghiệp được bảo hộ nếu đáp ứng các  
điều kiện sau đây:  
- Kiểu dáng công nghiệp được coi là chưa  
bộc lộ công khai nếu chỉ có một số người có  
hạn được biết và có nghĩa vụ giữ bí mật về  
kiểu dáng công nghiệp đó.  
Kiểu dáng công nghiệp không bị coi là  
mất tính mới nếu được công bố trong các  
trường hợp sau đây với điều kiện đơn đăng  
ký kiểu dáng công nghiệp được nộp trong  
thời hạn sáu (06) tháng kể từ ngày công bố:  
a) Kiểu dáng công nghiệp bị người khác  
công bố nhưng không được phép của người  
có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 Luật  
SHTT về quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng  
công nghiệp, thiết kế bố trí;  
b) Kiểu dáng công nghiệp được người  
có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 Luật  
SHTT công bố dưới dạng báo cáo khoa học;  
c) Kiểu dáng công nghiệp được người  
có quyền đăng ký quy định tại Điều 86  
Luật SHTT trưng bày tại cuộc triển lãm  
quốc gia của Việt Nam hoặc tại cuộc triển  
lãm quốc tế chính thức hoặc được thừa nhận  
là chính thức.  
a) Có tính mới;  
b) Có tính sáng tạo;  
c) Có khả năng áp dụng công nghiệp.  
Có thể thấy rằng, điều kiện chung đối với  
kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ không  
khác gì so với điều kiện chung đối với sáng  
chế được bảo hộ. Tuy nhiên, cách tiếp cận ở  
đây là khác nhau và đương nhiên, từng tiêu  
chuẩn sẽ được quy định cụ thể khác nhau  
giữa điều kiện bảo hộ sáng chế và điều kiện  
bảo hộ kiểu dáng công nghiệp.  
1.3. Tính mới của kiểu dáng công  
nghiệp  
Theo quy định của Điều 65 Luật SHTT,  
kiểu dáng công nghiệp được coi là có tính  
mới nếu kiểu dáng công nghiệp đó khác biệt  
đáng kể với những kiểu dáng công nghiệp  
đã được bộc lộ công khai dưới hình thức sử  
dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình  
thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước  
1.4. Tính sáng tạo và khả năng áp dụng  
công nghiệp của kiểu dáng công nghiệp  
Theo quy định của Điều 66 Luật SHTT,  
kiểu dáng công nghiệp được coi là có tính  
sáng tạo nếu căn cứ vào các kiểu dáng công  
nghiệp đã được bộc lộ công khai dưới hình  
thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất  
2. Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 và năm 2019.  
Số 18(442) - T9/2021  
35  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
1.6. Thời hạn bảo hộ kiểu dáng công  
nghiệp  
kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc  
ở nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc  
trước ngày ưu tiên của đơn đăng ký kiểu  
dáng công nghiệp trong trường hợp đơn  
được hưởng quyền ưu tiên, kiểu dáng công  
nghiệp đó không thể được tạo ra một cách  
dễ dàng đối với người có hiểu biết trung  
bình về lĩnh vực tương ứng.  
Tương tự quy định về tiêu chuẩn tính  
mới, tiêu chuẩn về trình độ sáng tạo liên  
quan đến kiểu dáng công nghiệp có sự  
khác biệt với tiêu chuẩn về trình độ sáng  
tạo đối với sáng chế.  
Theo quy định của Điều 67 Luật SHTT,  
kiểu dáng công nghiệp được coi là có khả  
năng áp dụng công nghiệp nếu có thể dùng  
làm mẫu để chế tạo hàng loạt sản phẩm  
có hình dáng bên ngoài là kiểu dáng công  
nghiệp đó bằng phương pháp công nghiệp  
hoặc thủ công nghiệp. Có thể thấy, sự khác  
biệt trong quy định về tiêu chuẩn “khả  
năng áp dụng công nghiệp” của kiểu dáng  
công nghiệp với quy định về tiêu chuẩn  
cùng loại của sáng chế.  
1.5. Đối tượng không được bảo hộ với  
danh nghĩa kiểu dáng công nghiệp  
Theo quy định của Điều 64 Luật SHTT,  
các đối tượng sau đây không được bảo hộ  
với danh nghĩa kiểu dáng công nghiệp:  
a) Hình dáng bên ngoài của sản phẩm  
do đặc tính kỹ thuật của sản phẩm bắt buộc  
phải có;  
Theo quy định của Điều 93 Luật SHTT,  
bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp có  
hiệu lực từ ngày cấp và kéo dài đến hết năm  
(05) năm kể từ ngày nộp đơn, có thể gia hạn  
hai (02) lần liên tiếp, mỗi lần năm (05) năm.  
2. Tiêu chuẩn bảo hộ kiểu dáng công  
nghiệp trong CPTPP  
Hiệp định CPTPP3 không định nghĩa khái  
niệm kiểu dáng công nghiệp. Ngoài ra, tiêu  
chuẩn bảo hộ kiểu dáng công nghiệp trong  
CPTPP cũng không được quy định cụ thể.  
Điều 18.55 Hiệp định quy định về việc bảo  
hộ kiểu dáng công nghiệp như sau:  
“1. Mỗi Bên phải bảo đảm sự bảo hộ đầy  
đủ và có hiệu quả đối với kiểu dáng công  
nghiệp và cũng khẳng định rằng việc bảo hộ  
kiểu dáng công nghiệp cũng được áp dụng  
cho những kiểu dáng nào:  
(a) Được thể hiện ở một phần của một sản  
phẩm; hoặc, thay vào đó,  
(b) [Liên quan đặc biệt đến]/[có điểm nhấn  
vào], nếu phù hợp, một phần của một sản  
phẩm trong tổng thể của toàn bộ sản phẩm,  
2. Điều này phụ thuộc vào Điều 25 và 26  
của Hiệp định TRIPS”.  
Có thể thấy rằng, tiêu chuẩn bảo hộ kiểu  
dáng công nghiệp theo CPTPP phù hợp với  
các quy định trong Hiệp định TRIPS4 trong  
khi Việt Nam đã gia nhập WTO từ 2007. Do  
vậy, quy định về điều kiện bảo hộ kiểu dáng  
công nghiệp trong pháp luật hiện hành của  
Việt Nam phù hợp quy định có liên quan  
trong CPTPP.  
b) Hình dáng bên ngoài của công trình  
xây dựng dân dụng hoặc công nghiệp;  
c) Hình dáng của sản phẩm không  
nhìn thấy được trong quá trình sử dụng  
sản phẩm.  
Cụ thể, khoản 1 Điều 18.55 CPTPP đã  
yêu cầu các quốc gia thành viên phải bảo  
3 CPTPP “Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership” - Hiệp định Đối tác toàn  
diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương, gồm 11 thành viên trong đó có Việt Nam. Xem phiên bản tiếng Anh  
Partnership-CPTPP-English.pdf.  
4 Xem phiên bản đầy đủ tiếng Anh của Hiệp định tại https://www.wto.org/.  
36  
Số 18(442) - T9/2021  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
đảm sự bảo hộ đầy đủ và có hiệu quả các  
kiểu dáng công nghiệp đăng ký bao gồm  
kiểu dáng của sản phẩm hay một phần của  
sản phẩm. Theo cách hiểu này, các kiểu  
dáng công nghiệp nộp đơn, dù là sản phẩm  
hay một phần của sản phẩm, nếu đáp ứng  
đủ điều kiện được quy định theo pháp luật  
quốc gia thì sẽ được cấp văn bằng bảo hộ  
kiểu dáng công nghiệp. Như đã nêu ở trên,  
theo quy định của Điều 63 Luật SHTT, kiểu  
dáng công nghiệp, dù được nộp đơn từ bất  
kỳ cá nhân, tổ chức nào, sẽ được bảo hộ  
tại Việt Nam nếu đáp ứng đủ ba điều kiện:  
tính mới; tính sáng tạo và khả năng áp dụng  
công nghiệp. Hơn nữa, khoản 2 Điều 18.55  
CPTPP cũng dẫn chiếu đến Điều 25 Hiệp  
định TRIPS. Khoản 1 Điều 25 Hiệp định  
TRIPS chỉ yêu cầu bảo hộ các kiểu dáng  
công nghiệp được tạo ra một cách độc lập  
nếu chúng đáp ứng yêu cầu về tính mới và  
tính độc đáo. Tính độc đáo theo Hiệp định  
TRIPS được hiểu là tương đương với tính  
sáng tạo quy định trong Luật SHTT. Tuy  
nhiên, Việt Nam đã đặt ra điều kiện bảo  
hộ kiểu dáng công nghiệp cao hơn so với  
CPTPP, thêm điều kiện thứ ba là “có khả  
năng áp dụng công nghiệp”. Về thời hạn  
bảo hộ, Việt Nam cũng đưa ra thời hạn bảo  
hộ dài hơn so với quy định của CPTPP.  
CPTPP có dẫn chiếu đến thời hạn bảo hộ  
kiểu dáng công nghiệp theo Điều 26 Hiệp  
định TRIPS. Điều 26 Hiệp định TRIPS chỉ  
quy định thời hạn bảo hộ kiểu dáng công  
nghiệp tối thiểu cho các quốc gia thành viên  
là 10 năm trong khi Điều 93 Luật SHTT cho  
phép một kiểu dáng công nghiệp với tối đa  
hai lần gia hạn có thể được bảo hộ tại Việt  
Nam lên đến 15 năm.  
Giống với CPTPP, Hiệp định EVFTA5  
cũng không định nghĩa kiểu dáng công  
nghiệp. Tuy nhiên, khác với CPTPP, Hiệp  
định EVFTA quy định rất cụ thể về tiêu  
chuẩn bảo hộ kiểu dáng công nghiệp. Điều  
7.2 Hiệp định EVFTA quy định:  
“1. Các Bên quy định việc bảo vệ kiểu  
dáng công nghiệp được tạo ra một cách độc  
lập mới hoặc độc đáo. Việc bảo vệ này được  
thực hiện bởi việc đăng ký và dành quyền  
độc quyền đối với người nắm giữ các quyền  
và đăng ký theo quy định tại điều này.  
2. Một kiểu dáng được áp dụng hoặc kèm  
theo một sản phẩm mà tạo thành một bộ phận  
cấu thành của một sản phẩm phức tạp thì chỉ  
được coi là mới và độc đáo:  
(a) Nếu các thành phần cấu thành, đã  
được tích hợp vào các sản phẩm phức tạp,  
vẫn được nhìn thấy trong quá trình sử dụng  
bình thường các sản phẩm phức tạp, và  
(b) Đến mức mà những tính năng hữu  
hình của bản thân các thành phần cấu thành  
đạt được những yêu cầu để đạt được sự mới  
lạ và độc đáo.  
3. <Sử dụng bình thường> tại đoạn 2 (a)  
được hiểu là sử dụng bởi người dùng cuối,  
không bao gồm bảo trì, bảo dưỡng hoặc  
sửa chữa.  
4. Chủ sở hữu của một kiểu dáng đã đăng  
ký có quyền ngăn chặn các bên thứ ba thực  
hiện hoặc yêu cầu mua bán, nhập khẩu hoặc  
tàng trữ để bán hàng mang một sản phẩm có  
kiểu dáng hoặc thể hiện các biểu hiện kiểu  
dáng được bảo vệ khi hành vi đó được thực  
hiện cho mục đích thương mại.  
5. Thời hạn bảo vệ được tính ít nhất là  
15 năm”.  
Về tổng quan, có thể thấy rằng, quy định  
của pháp luật SHTT Việt Nam đã đáp ứng  
yêu cầu của EVFTA dù còn có một số điểm  
khác biệt, cụ thể:  
3. Tiêu chuẩn bảo hộ kiểu dáng công  
nghiệp trong EVFTA  
5
EVFTA (European-Vietnam Free Trade Agreement). Hiệp định EVFTA hay còn được gọi là Hiệp định  
thương mại tự do Việt Nam - EU, là thỏa thuận được ký kết giữa 28 nước thành viên liên minh châu Âu và Việt  
Số 18(442) - T9/2021  
37  
BÀN VỀ DỰ ÁN LUẬT  
Thứ nhất, EVFTA chỉ yêu cầu tiêu chí  
bảo hộ là mới hoặc độc đáo, hoàn toàn giống  
với Điều 25.1 của Hiệp định TRIPS, trong  
khi Điều 63 Luật SHTT quy định cả 03  
điều kiện: mới, sáng tạo và có khả năng áp  
dụng công nghiệp. Do vậy, về nguyên tắc,  
Việt Nam đã đặt ra điều kiện cao hơn so với  
EVFTA, thêm điều kiện thứ ba là “có khả  
năng áp dụng công nghiệp”.  
Thứ hai, nội hàm của yêu cầu về tính mới  
và trình độ sáng tạo không được quy định  
cụ thể trong TRIPS cũng như trong EVFTA,  
các quốc gia có thể tùy nghi quy định. Việt  
Nam lựa chọn quy định tách riêng hai tiêu  
chí này như điều kiện cần và đủ phải đáp ứng  
đồng thời. Đây cũng là phương án lựa chọn  
phổ biến phù hợp thông lệ quốc tế theo quy  
định của TRIPS. Do vậy, quy định của pháp  
luật SHTT của Việt Nam vẫn được xem là  
tương thích với TRIPS và EVFTA.  
Thứ ba, theo Điều 93 Luật SHTT, thời  
hạn bảo hộ của kiểu dáng công nghiệp của  
Việt Nam là 05 năm, được gia hạn không quá  
02 lần liên tiếp, nghĩa là tổng thời hạn bảo  
hộ kiểu dáng công nghiệp ở Việt Nam tối đa  
là 15 năm, trong khi thời hạn theo Hiệp định  
này quy định tối thiểu là 15 năm, nên về căn  
bản, quy định của pháp luật SHTT của Việt  
Nam vẫn phù hợp EVFTA.  
Bên cạnh đó, chúng ta cần lưu ý một số  
điểm khác biệt trong quy định về tiêu chuẩn  
bảo hộ kiểu dáng công nghiệp theo EVFTA  
so với quy định hiện hành của Việt Nam  
như sau:  
bộ phận của một sản phẩm. Trong khi Việt  
Nam chưa có quy định riêng về việc bảo hộ  
kiểu dáng công nghiệp riêng rẽ một bộ phận  
của một sản phẩm; vì vậy, cần sửa đổi Luật  
SHTT theo hướng bổ sung quy định riêng về  
việc bảo hộ kiểu dáng công nghiệp cho phù  
hợp với EVFTA.  
- EVFTAđã đề cập tới tiêu chí bảo hộ kiểu  
dáng công nghiệp của linh kiện. Hiệp định  
yêu cầu cụ thể là linh kiện khi đã được lắp  
vào sản phẩm hoàn chỉnh phải bảo đảm điều  
kiện là nhìn thấy được, đồng thời các đặc  
điểm tạo dáng nhìn thấy được này của linh  
kiện phải cùng lúc thỏa mãn điều kiện về tính  
mới và trình độ sáng tạo. Pháp luật SHTT  
của Việt Nam mới chỉ quy định gián tiếp về  
điều kiện nhìn thấy được trong Thông tư số  
01/2007/TT-BKHCN6 mà chưa quy định chi  
tiết, cụ thể vấn đề này trong Luật SHTT. Cụ  
thể, điểm 35.3.b.(iii) Thông tư số 01/2007/  
TT-BKHCN quy định, đối tượng nêu trong  
đơn đăng ký xác lập quyền kiểu dáng công  
nghiệp bị coi là không phù hợp với loại văn  
bằng bảo hộ kiểu dáng công nghiệp nếu đối  
tượng nêu trong đơn là hình dáng bên trong  
(phần không nhìn thấy được) trong quá trình  
sử dụng sản phẩm (khai thác công dụng của  
sản phẩm theo cách thức thông thường, được  
thực hiện bởi bất kỳ người sử dụng nào,  
không kể các công việc bảo trì, bảo dưỡng  
hoặc sửa chữa sản phẩm). Để bảo đảm phù  
hợp với EVFTA về tiêu chí bảo hộ kiểu dáng  
công nghiệp của linh kiện, cần sửa đổi Luật  
SHTT theo hướng bổ sung quy định tiêu chí  
- EVFTA đã đề cập cụ thể về việc bảo  
hộ kiểu dáng công nghiệp riêng rẽ cho một  
bảo hộ kiểu dáng công nghiệp của linh kiện.  
6 Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN của Bộ KHCN ngày 14/02/2007 hướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/  
NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về  
SHCN. (Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN đã được sửa đổi, bổ sung bằng Thông tư số 16/2016/TT-BKHCN  
ngày 30/6/2016 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN ngày 14/02/2007).  
38  
Số 18(442) - T9/2021  
pdf 5 trang Thùy Anh 10400 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tiêu chuẩn bảo hộ kiểu dáng công nghiệp trong CPTPP, EVFTA và yêu cầu đối với Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftieu_chuan_bao_ho_kieu_dang_cong_nghiep_trong_cptpp_evfta_va.pdf