Tìm hiểu về luật căn cước công dân
PHAÙP LUAÄT // TAÏP CHÍ KHOA HOÏC CAÛNH SAÙT NHAÂN DAÂN
TÌM HIEÅU VEÀ LUAÄT CAÊN CÖÔÙC COÂNG DAÂN
ượng úy, CN. Nguyễn Văn Phên *
Tóm tắt nội dung: Luật Căn cước công dân (CCCD) năm 2014 đã được Quốc hội nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, Kỳ họp thứ tám thông qua ngày 20/11/2014
và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2016. Bài viết giới thiệu sự cần thiết và một số nội
dung cơ bản về Luật CCCD.
*****
1. Sự cần thiết ban hành Luật căn cước dân cư, ngày 18/8/2010 Chính phủ đã ban hành
công dân.
Nghị định số 90/2010/NĐ-CP quy định về cơ sở
Căn cước công dân có vai trò cần thiết dữ liệu quốc gia về dân cư và ngày 8/6/2013 Thủ
trong việc xác định một người cụ thể; phục vụ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số
quản lý Nhà nước về trật tự, an toàn xã hội, quản 896/QĐ-TTg phê duyệt Đề án tổng thể đơn giản
lý dân cư, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại, hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân và các
giao dịch của người dân. Chính phủ đã ban cơ sở dữ liệu liên quan đến quản lý dân cư giai
hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật quy đoạn 2013 - 2020.
định về căn cước công dân như Quyết định số
Có thể nói các văn bản quy phạm pháp
143/CP ngày 9/8/1976 của Hội đồng Chính phủ luật được ban hành đã tạo cơ sở pháp lý quan
về việc cấp giấy căn cước cho nhân dân trong trọng để cấp, quản lý CMND, tạo điều kiện thuận
cả nước; Nghị định số 05/1999/NĐ-CP ngày lợi cho việc đi lại, giao dịch của nhân dân, phục
3/2/1999 về Chứng minh nhân dân (được sửa vụ yêu cầu nghiệp vụ Công an, góp phần phòng
đổi, bổ sung bởi Nghị định số 170/2007/NĐ-CP ngừa, đấu tranh chống tội phạm và các hành vi
ngày 19/11/2007; Nghị định số 106/2013/NĐ- vi phạm trật tự, an toàn xã hội. Trên cơ sở các
CP ngày 17/9/2013); Thông tư 07/2014/TT-BCA văn bản này, hệ thống cơ quan quản lý căn cước
ngày 13/02/2014 quy định về quy trình cấp, đổi, công dân đã hình thành trên cả nước với đội ngũ
cấp lại Chứng minh nhân dân…
cán bộ, cơ sở vật chất ngày càng được hoàn
Cơ sở dữ liệu căn cước công dân hiện thiện; cơ sở dữ liệu CMND với hệ thống tàng
nay chủ yếu được lưu trữ thủ công, không được thư căn cước công dân đã và đang đáp ứng yêu
kết nối, chia sẻ thông tin với cơ sở dữ liệu quốc cầu cấp, đổi, cấp lại CMND và yêu cầu nghiệp
gia về dân cư. Việc cấp, quản lý, sử dụng Chứng vụ Công an.
minh nhân dân (CMND) chưa đáp ứng được yêu
Hiện nay, Bộ Công an lưu giữ tại tàng thư
cầu đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ căn cước công dân với hàng triệu tờ khai và chỉ
---------------------------------------------------------------
* Giảng viên, Khoa QLNN về TTATXH,
Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II.
công dân và thực hiện Chính phủ điện tử. Để
khắc phục các bất cập trong công tác quản lý
SOÁ 12 // THAÙNG 11 NAÊM 2015
19
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC CAÛNH SAÙT NHAÂN DAÂN // PHAÙP LUAÄT
định. Nhiều địa phương sắp xếp tờ khai, chỉ bản
bản của công dân đến làm thủ tục cấp CMND.
Tàng thư căn cước công dân đã được khai thác,
sử dụng phục vụ công tác cấp CMND và phòng
chống tội phạm, cụ thể như truy tìm tung tích
nạn nhân; tra cứu phục vụ công tác nghiệp vụ;
tra cứu phục vụ truy nã người phạm tội và nhận
diện đối tượng…
CMND không đúng quy định dẫn đến việc tra
cứu, xác minh phục vụ công tác cấp CMND và
yêu cầu nghiệp vụ khác gặp rất nhiều khó khăn.
Còn có hiện tượng tiêu cực, sách nhiễu
xảy ra trong cấp, quản lý CMND gây dư luận
không tốt trong nhân dân, ảnh hưởng tới uy tín
của ngành Công an và trực tiếp là công tác cấp,
quản lý CMND.Thực hiện các nguyên tắc, quy
trình, quy định, thủ tục cấp, quản lý CMND ở
một số địa phương chưa nghiêm túc dẫn đến
sơ hở, sai lệch như: không làm tốt công tác lập
danh sách những người thuộc diện cấp CMND,
những người đến tuổi nhưng chưa được cấp
CMND, không chú ý phối hợp chặt chẽ với công
tác đăng ký, quản lý cư trú, không ghi đầy đủ số
CMND vào sổ hộ khẩu theo quy định dẫn đến
sót lọt trong theo dõi, thống kê, gây khó khăn
trở ngại khi kiểm tra đối chiếu làm thủ tục cấp
CMND.
Công tác quản lý, khai thác tàng thư căn
cước công dân phục vụ yêu cầu nghiệp vụ quản
lý của ngành Công an và yêu cầu của công dân
đã từng bước được cải tiến, đổi mới đảm bảo
việc cấp CMND đúng đối tượng. Cùng với công
tác cấp, quản lý CMND, Bộ Công an đã chỉ đạo
việc tăng cường kiểm tra, chấn chỉnh việc mang,
dùng CMND; phối hợp giữa kiểm tra CMND với
kiểm tra cư trú, giao thông trật tự và ngành
nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh trật
tự phục vụ có hiệu quả các đợt tấn công, trấn
áp tội phạm, bảo vệ các ngày lễ lớn. Qua thực
hiện kiểm tra CMND thường xuyên, đột xuất đã
phát hiện nhiều đối tượng truy nã, đối tượng nghi
vấn hoạt động phạm tội và cung cấp hàng nghìn
nguồn tin cho các lực lượng điều tra khám phá
án; kịp thời phát hiện và ngăn chặn hàng nghìn
trường hợp khai man, giả mạo hồ sơ, dùng sổ
hộ khẩu của người khác để xin cấp CMND, tráo
người xin cấp…
Nhìn chung, công tác kiểm tra việc mang,
dùng CMND ở những thời điểm nhất định đã
phục vụ hiệu quả yêu cầu quản lý xã hội và yêu
cầu nghiệp vụ của ngành Công an; nâng cao ý
thức mang, dùng CMND của công dân; kịp thời
phát hiện những sơ hở, thiếu sót trong công tác
quản lý CMND để khắc phục, từng bước nâng
cao hiệu quả chất lượng công tác; đáp ứng nhu
cầu đi lại, giao dịch của nhân dân và phục vụ
hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh chống
tội phạm.
Việc tuyên truyền vận động nhân dân,
hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, xử lý vi phạm trong
mang, dùng CMND còn hạn chế, chưa thường
xuyên. Một số địa phương chỉ tập trung vào các
đợt cao điểm rồi buông lỏng. Công tác tra cứu
tàng thư căn cước công dân khi cấp mới, cấp lại,
cấp đổi một số địa phương thực hiện chưa tốt,
thiếu đồng bộ và chặt chẽ, vẫn còn trường hợp
tra cứu xác minh chậm dẫn đến việc hoàn thiện
CMND trả cho công dân chưa đảm bảo thời gian
hoặc để người dân phải đi lại nhiều lần.
Sau nhiều năm thực hiện các quy định
pháp luật về căn cước công dân cho thấy, các
quy định này còn tản mạn, chủ yếu được ban
hành dưới hình thức nghị định của Chính phủ
nên hiệu lực thi hành thấp. Trong khi đó, quyền
và nghĩa vụ của công dân về căn cước công dân
là quyền và nghĩa vụ cơ bản nên cần phải được
quy định trong một văn bản có hiệu lực pháp lý
cao là Luật. Mặt khác, trước sự phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước, nhất là bối cảnh thực
hiện các yêu cầu mới, cụ thể là:
Tuy nhiên, công tác này còn bộc lộ nhiều
hạn chế như: Một số địa phương chậm trễ, lúng
túng trong việc giao, nhận hồ sơ CMND; hiện
nay Công an các địa phương còn tồn đọng cặp
tờ khai, chỉ bản chưa được giao nhận theo quy
Yêu cầu phải đẩy mạnh đơn giản hóa
20
SOÁ 12 // THAÙNG 11 NAÊM 2015
PHAÙP LUAÄT // TAÏP CHÍ KHOA HOÏC CAÛNH SAÙT NHAÂN DAÂN
Luật Căn cước công dân là hết sức cần thiết
thủ tục hành chính, giấy tờ công dân, từng bước
thực hiện Chính phủ điện tử. Tuy nhiên, cơ sở dữ
liệu căn cước công dân hiện nay chủ yếu được
lưu trữ thủ công, không được kết nối, chia sẻ
thông tin với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Vì
vậy, cần thiết phải xây dựng Luật căn cước công
dân để tạo cơ sở pháp lý thực hiện các yêu cầu
và nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính
thì trình tự, thủ tục cấp, đổi, cấp lại CMND cần
phải được hoàn chỉnh theo hướng đơn giản hóa
thủ tục hành chính. Nơi làm thủ tục tiếp nhận hồ
sơ cấp, đổi, cấp lại CMND cũng cần phải được
quy định linh hoạt hơn để đáp ứng yêu cầu ngày
càng tăng của công dân.
Các thông tin về căn cước công dân có ý
nghĩa quan trọng phục vụ công tác quản lý nhà
nước, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
và yêu cầu giao dịch của cơ quan, tổ chức, công
dân nhưng lại gắn liền với bí mật đời tư cá nhân.
Song pháp luật hiện hành chưa quy định về thu
thập, cập nhật, quản lý, khai thác các thông tin
về căn cước công dân để đáp ứng yêu cầu quản
lý nhà nước cũng như đáp ứng quyền, lợi ích
chính đáng của công dân.
nhằm đảm bảo quyền của công dân được Hiến
pháp quy định cũng như đáp ứng yêu cầu cải
cách hành chính hiện nay.
2. Bố cục của Luật Căn cước công dân
gồm 6 Chương, 39 Điều
Chương I: Quy định chung gồm 7 điều (từ
Điều 1 đến Điều 7)
Chương II: Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân
cư, cơ sở dữ liệu căn cước công dân. Gồm 2 Mục
và 10 điều (từ Điều 8 đến Điều 17)
Chương III: Thẻ Căn cước công dân và
việc cấp, quản lý thẻ Căn cước công dân. Gồm
02 mục và 11 điều (từ Điều 18 đến Điều 28)
Chương IV: Bảo đảm điều kiện cho hoạt
động quản lý căn cước công dân, cơ sở dữ liệu
quốc gia về dân cư và cơ sở dữ liệu căn cước
công dân. Gồm 05 Điều (từ Điều 29 đến Điều 33)
Chương V: Trách nhiệm quản lý căn cước
công dân, cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và
cơ sở dữ liệu căn cước công dân. Gồm 4 điều (từ
Điều 34 đến Điều 37)
Chương VI: Điều khoản thi hành. Gồm 02
điều (Điều 38 và Điều 39)
3. Một số nội dung cơ bản của Luật
Căn cước công dân
Kỹ thuật, công nghệ cấp, quản lý CMND
còn lạc hậu, đã có trường hợp làm giả CMND để
thực hiện giao dịch bất hợp pháp hoặc thực hiện
hành vi phạm tội. Do đó, yêu cầu đặt ra là phải
áp dụng kỹ thuật, công nghệ tiên tiến vào sản
xuất CMND bảo đảm bền, đẹp, chống làm giả
và các thông tin trên CMND cần được nghiên
cứu quy định để có thể tiến tới bỏ sổ hộ khẩu,
đơn giản hóa giấy tờ cho công dân.
Pháp luật hiện hành quy định chưa cụ thể
quyền, nghĩa vụ của công dân cũng như trách
nhiệm của Chính phủ, các Bộ, ngành, Ủy ban
nhân dân và Công an các tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương trong quản lý căn cước công
dân nên cần phải hoàn thiện quy định này để
tạo cơ sở pháp lý đầy đủ cho các chủ thể thực
hiện quyền, trách nhiệm của mình trong lĩnh vực
này.
- Phạm vi điều chỉnh: Luật Căn cước
công dân quy định về căn cước công dân, cơ sở
dữ liệu căn cước công dân và cơ sở dữ liệu quốc
gia về dân cư; quản lý, sử dụng thẻ căn cước
công dân; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của
cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.Việc bổ
sung quy định cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư
trong Luật nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý cho
việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư,
cấp, quản lý số định danh cá nhân, tạo sự đổi
mới căn bản về tổ chức, hoạt động quản lý nhà
nước về dân cư theo hướng hiện đại, đơn giản
hóa thủ tục hành chính, công khai, minh bạch,
tạo thuận lợi cho người dân.
- Đối tượng áp dụng: Luật Căn cước
công dân năm 2014 áp dụng đối với công dân
Việt Nam; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên
Với những lý do nêu trên, việc ban hành
SOÁ 12 // THAÙNG 11 NAÊM 2015
21
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC CAÛNH SAÙT NHAÂN DAÂN // PHAÙP LUAÄT
Ngoài những vấn đề nêu trên, để bảo
quan trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam.
đảm giá trị sử dụng của những CMND được
cấp trước ngày Luật có hiệu lực, tránh gây xáo
trộn cho công dân trong các giao dịch, Luật quy
định đối với CMND đã được cấp trước ngày Luật
CCCD có hiệu lực vẫn có giá trị sử dụng đến hết
thời hạn theo quy định; khi công dân có yêu cầu
thì đổi sang thẻ căn cước công dân.
Đồng thời, để các địa phương có thời gian
bảo đảm về cơ sở vật chất, nhân lực cho triển
khai cấp thẻ căn cước công dân theo công nghệ
mới, Luật cũng quy định khi Luật CCCD có hiệu
lực, địa phương chưa có điều kiện về cơ sở vật
chất, kỹ thuật và cán bộ quản lý căn cước công
dân để triển khai thi hành thì công tác quản lý
công dân vẫn thực hiện theo các quy định của
pháp luật trước ngày Luật CCCD có hiệu lực.
Chậm nhất từ ngày 01 tháng 01 năm 2020 phải
thực hiện thống nhất theo quy định của Luật
Căn cước công dân.
- Trách nhiệm quản lý Căn cước công dân:
+ Trách nhiệm quản lý nhà nước về Căn
cước công dân:
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước
về căn cước công dân và cơ sở dữ liệu căn cước
công dân.
Bộ Công an chịu trách nhiệm trước Chính
phủ thực hiện quản lý nhà nước về căn cước
công dân và cơ sở dữ liệu căn cước công dân.
+Trách nhiệm của Bộ Công an:
Ban hành, phối hợp ban hành theo thẩm
quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban
hành văn bản quy phạm pháp luật về căn cước
công dân. Chỉ đạo và tổ chức thực hiện các văn
bản quy phạm pháp luật về căn cước công dân
và cơ sở dữ liệu căn cước công dân. Tổ chức
phổ biến, giáo dục pháp luật về căn cước công
dân và cơ sở dữ liệu căn cước công dân.
Đình chỉ, bãi bỏ theo thẩm quyền hoặc
kiến nghị cấp có thẩm quyền bãi bỏ những quy
định về quản lý căn cước công dân và cơ sở dữ
liệu căn cước công dân của cơ quan, tổ chức trái
với quy định của Luật CCCD. Chỉ đạo việc sản
- ẻ căn cước công dân:
+ Tuổi cấp thẻ căn cước công dân: Luật
quy định được cấp thẻ căn cước công dân người
từ đủ 14 tuổi trở lên. Việc cấp giấy khai sinh cho
trẻ em dưới 14 tuổi vẫn được thực hiện, điều này
là hoàn toàn phù hợp với quyền được khai sinh
của trẻ em, phù hợp với thông lệ quốc tế trong
bối cảnh hầu hết các nước đều cấp giấy khai
sinh để chứng minh thông tin khai sinh, phù hợp
với bản chất của việc cấp thẻ căn cước công
dân, khi các đặc điểm nhân dạng của một cá
nhân đã ổn định và đủ tuổi chịu trách nhiệm
hình sự trước pháp luật.
+ Thủ tục cấp, đổi, cấp lại thẻ căn cước
công dân: Công dân đến làm thẻ, cấp lại thẻ
căn cước công dân chỉ cần điền vào tờ khai cấp
thẻ căn cước công dân. Trường hợp đổi thẻ do
thay đổi thông tin về họ, chữ đệm, tên, đặc điểm
nhân dạng, xác định lại giới tính, quê quán hoặc
có sai sót về thông tin trên thẻ mà chưa có thông
tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư thì
công dân nộp bản sao văn bản của cơ quan có
thẩm quyền về việc thay đổi các thông tin này.
+ Nơi làm thủ tục cấp, đổi, cấp lại giấy tờ
về căn cước công dân: Luật quy định công dân
có thể lựa chọn một trong các nơi sau đây để
làm thủ tục cấp, đổi, cấp lại thẻ căn cước công
dân: Tại cơ quan quản lý căn cước công dân của
Bộ Công an; cơ quan quản lý căn cước công dân
của Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương; cơ quan quản lý căn cước công dân của
Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc
tỉnh; tại xã, phường, thị trấn, cơ quan, đơn vị
hoặc tại chỗ ở của công dân trong trường hợp
cần thiết.
+ Hạn sử dụng của thẻ căn cước công
dân: Thẻ phải được đổi khi công dân đủ 25 tuổi,
đủ 40 tuổi và đủ 60 tuổi. Trường hợp thẻ được
cấp, đổi, cấp lại trong thời hạn 2 năm trước tuổi
quy định nêu trên thì vẫn có giá trị sử dụng đến
tuổi đổi thẻ tiếp theo.
22
SOÁ 12 // THAÙNG 11 NAÊM 2015
PHAÙP LUAÄT // TAÏP CHÍ KHOA HOÏC CAÛNH SAÙT NHAÂN DAÂN
và việc quản lý, sử dụng phí khai thác, sử dụng
xuất, quản lý thẻ căn cước công dân. Quản lý cơ
sở dữ liệu căn cước công dân. Chỉ đạo, hướng
dẫn nghiệp vụ về quản lý căn cước công dân và
cơ sở dữ liệu căn cước công dân. Quy định chi
tiết thủ tục, trình tự cấp, đổi, cấp lại thẻ căn cước
công dân. Ban hành biểu mẫu dùng trong quản
lý căn cước công dân. Quy định về quản lý tàng
thư căn cước công dân.
Tổ chức bộ máy, trang bị phương tiện,
đào tạo, huấn luyện cán bộ làm công tác quản
lý căn cước công dân và cơ sở dữ liệu căn cước
công dân; tổ chức sơ kết, tổng kết, nghiên cứu
khoa học về công tác quản lý căn cước công
dân và cơ sở dữ liệu căn cước công dân. Thống
kê nhà nước về căn cước công dân và cơ sở dữ
liệu căn cước công dân. Kiểm tra, thanh tra, giải
quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm về quản
lý căn cước công dân và cơ sở dữ liệu căn cước
công dân theo quy định của pháp luật.
thông tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp
với Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Thông tin và
Truyền thông bố trí nguồn vốn đầu tư từ nguồn
ngân sách nhà nước để xây dựng, duy trì hoạt
động cho cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và cơ
sở dữ liệu căn cước công dân, bảo đảm cho việc
cấp, đổi, cấp lại thẻ căn cước công dân.
+ Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương:
Triển khai, tổ chức thực hiện các văn bản
quy phạm pháp luật về căn cước công dân, cơ
sở dữ liệu quốc gia về dân cư và cơ sở dữ liệu
căn cước công dân tại địa phương. Tổ chức phổ
biến, giáo dục pháp luật về căn cước công dân,
cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và cơ sở dữ liệu
căn cước công dân.
Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại,
tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về căn cước
công dân, cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và
cơ sở dữ liệu căn cước công dân theo quy định
của pháp luật.
Tóm lại, có thể khẳng định rằng, những
quy định trong Luật Căn cước công dân tạo nên
hành lang pháp lý quan trọng và là cơ sở để
chúng ta tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc
trong công tác cấp phát, quản lý căn cước công
dân và cơ sở dữ liệu căn cước công dân hiện
nay. Luật Căn cước công dân rất cần thiết trong
việc thực hiện sứ mệnh chung về cải cách thủ
tục hành chính và xây dựng Chính phủ điện tử
tại Việt Nam. Đồng thời để tạo điều kiện thuận
lợi cho người dân khi thực hiện các thủ tục hành
chính công, việc cung cấp dịch vụ công trực
tuyến liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân, phục vụ yêu cầu nghiệp vụ của
ngành Công an, góp phần phòng ngừa, đấu
tranh chống tội phạm và các hành vi vi phạm
trật tự, an toàn xã hội./.
- Hợp tác quốc tế về quản lý căn cước
công dân
+ Trách nhiệm của các Bộ, Ngành:
Hướng dẫn các cơ quan, tổ chức, cá nhân
thuộc thẩm quyền quản lý thực hiện các quy định
của pháp luật về căn cước công dân và cơ sở dữ
liệu quốc gia về dân cư. Phối hợp với Bộ Công
an, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương trong quản lý nhà nước về căn cước
công dân và cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Bộ Tư pháp tổ chức thực hiện và chỉ đạo
các cơ quan đăng ký hộ tịch cung cấp, cập nhật
thông tin về hộ tịch của công dân cho cơ sở dữ
liệu quốc gia về dân cư.
Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì,
phối hợp với bộ, ngành liên quan xây dựng cơ
chế, chính sách công nghệ thông tin có liên
quan về cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ
Công an bố trí kinh phí thường xuyên cho hoạt
động của hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về dân
cư và cơ sở dữ liệu căn cước công dân; kinh phí
bảo đảm cho việc cấp, đổi, cấp lại thẻ căn cước
công dân; quy định cụ thể đối tượng, mức thu
SOÁ 12 // THAÙNG 11 NAÊM 2015
23
Bạn đang xem tài liệu "Tìm hiểu về luật căn cước công dân", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tim_hieu_ve_luat_can_cuoc_cong_dan.pdf

