Bàn về mối quan hệ và hiệu quả của các cơ chế giải quyết tranh chấp đất đai ở Việt Nam hiện nay
BÀN VỀ MỐI QUAN HỆ VÀ HIỆU QUẢ CỦA CÁC CƠ CHẾ
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
PGS.TS. Nguyễn Hoàng Anh
Khoa Luật ĐHQGHN
Theo Luật Đất đai hiện hành, các tranh chấp đất đai có thể được giải quyết bằng các cơ
chế sau đây: i) hoà giải cơ sở; ii) hoà giải tại UBND cấp xã; iii) yêu cầu giải quyết
tranh chấp đất đai tại cơ quan hành chính; iv) khởi kiện vụ án dân sự; v) khiếu nại
hành chính; vi) khởi kiện vụ án hành chính. Đó là các cơ chế chính thức hoặc phi
chính thức, cơ chế hành chính hoặc cơ chế tư pháp.
Các cơ chế trên không diễn ra đồng thời mà sẽ tuỳ thuộc vào loại tranh chấp đất đai cụ
thể, (tranh chấp giữa ai với ai; giấy tờ trong tranh chấp đó như thế nào; trình tự giải
quyết đã thực hiện đến đâu.v.v.). Mỗi cơ chế có ưu và nhược điểm riêng, tuy nhiên
trong thực tiễn vẫn còn tồn tại nhưng điểm “chồng lấn” giữa các cơ chế giải quyết
tranh chấp nói trên. Bài viết sau đây phân tích sơ bộ về từng cơ chế giải quyết tranh
chấp đất đai cũng như các bất cập trong sự chuyển tiếp giữa các cơ chế đó, nhằm mục
tiêu chung nhất: giải quyết công bằng, hiệu qủa các tranh chấp đất đai và đặc biệt là
bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong tranh chấp đất đai.
I.
Giải quyết tranh chấp đất đai giữa các cá nhân, tổ chức bằng cơ chế
hoà giải
Ở cấp cơ sở, giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện bằng các cơ chế chính thức
như hoà giải tại UBND cấp xã; yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai tại cơ quan hành
chính (UBND cấp xã, cấp huyện), và đồng thời cũng có cơ chế phi chính thức để giải
quyết các tranh chấp đất đai: hoà giải cơ sở.
1. Hòa giải cơ sở (HGCS)
Hoà giải cơ sở là việc các hòa giải viên (HGV) cơ sở (ở thôn, làng, ấp, bản) tổ chức
cho các bên cùng tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp, xích
mích… phát sinh trong đời sống hàng ngày ở cộng đồng.
120
Chủ thể tham gia HGCS gồm:
+ Hòa giải viên cơ sở;
+ Người đứng đầu đoàn thể quần chúng (Mặt trận Tổ quốc; Cựu chiến binh,
Nông dân…);
+ Trợ giúp viên pháp lý;
+ Người khác (có trình độ pháp lý, có kiến thức xã hội; già làng, trưởng bản,
chức sắc tôn giáo…)1.
HGCS không được tiến hành với các trường hợp mâu thuẫn, tranh chấp có liên
quan đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, các vi phạm pháp luật đủ điều
kiện xử lý vi phạm hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc không được hòa
giải theo pháp luật tố tụng dân sự hoặc các quy định pháp luật khác.2
2. Hòa giải tại UBND cấp xã
Hòa giải tại UBND cấp xã được áp dụng trong việc giải quyết tranh chấp liên quan
đến đất đai. Việc hòa giải được thực hiện tại Văn phòng UBND xã. Cơ chế này so
với HGCS về mặt chủ thể có sự tham gia của chính quyền – UBND xã, có tính bắt
buộc trước khi vụ việc được đưa ra giải quyết tại tòa án và phạm vi áp dụng đối với
xích mích/tranh chấp liên quan đến đất đai trên địa bàn một xã.
Hòa giải tại UBND xã chỉ được thực hiện khi các bên có yêu cầu.Thủ tục hòa giải
được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu
cầu giải quyết tranh chấp đất đai.
Ban hòa giải cấp xã gồm:
+ Trưởng ban là Chủ tịch hoặc phó Chủ tịch UBND xã
+ Thành viên gồm:
Đại diện của Mặt trận Ủy ban Nhân dân cấp xã;
Trưởng thôn/bản ở vùng nông thôn;
1Luật HGCS: Điều 19. Người được mời tham gia hòa giải: “Trong quá trình hòa giải, nếu thấy cần thiết, hòa
giải viên và một trong các bên khi được sự đồng ý của bên kia có thể mời người có uy tín trong dòng họ, ở nơi
sinh sống, nơi làm việc; người có trình độ pháp lý, có kiến thức xã hội; già làng, chức sắc tôn giáo, người biết rõ
vụ, việc; đại diện của cơ quan, tổ chức hoặc người có uy tín khác tham gia hòa giải”.
2Điều 3 Luật HGCS - Phạm vi HGCS.
121
Đại diện một số hộ dân lâu năm sinh sống ở xã, phường, thị trấn có hiểu
biết về nguồn gốc và quá trình sử dụng của mảnh đất liên quan;
Cán bộ địa chính, cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn.
Căn cứ vào trường hợp cụ thể, các đại diện khác bao gồm Hội Nông dân,
Hội Phụ nữ, Hội Cựu Chiến binh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí
Minh có thể được mời tham gia hòa giải.
Quá trình hòa giải phải được ghi lại bằng văn bản (Biên bản hòa giải) có chữ ký của
các bên liên quan và xác nhận của UBND xã.
Trong trường hợp hòa giải không thành, các bên có thể đưa vụ việc lên Tòa án cấp
huyện cùng với biên bản hòa giải để tòa giải quyết.
Sự khác biệt giữa hoà giải cơ sở và hoà giải tại UBND cấp xã là: nếu HGCS là cơ chế
phi chính thức, hoàn toàn dựa trên sự tự quản của cộng đồng, thì HG tranh chấp đất đai
tại UBND cấp xã là cơ chế chính thức – do có sự tham gia của chính quyền, và bước
này được coi là thủ tục bắt buộc để tiếp tục khởi kiện vụ án ra toà.
Tuy nhiên nhiều người hay nhầm lẫn giữa hai cơ chế này, do tính chất “cơ sở” – tức là
cùng được thực hiện ở cấp cơ sở (thôn làng ấp bản, hoặc cấp xã); tính chất chỉ là hoà
giải chứ không đưa ra phán quyết có hiệu lực thi hành; và chủ thể tham gia cũng có
nhiều thành phần giống nhau (đều có sự tham gia của đại diện cộng đồng dân cư, đại
diện thôn làng ấp bản; đại diện Mặt trận Tổ quốc xã; người có uy tín.v.v.)
Đánh giá:
Cơ chế giải quyết tranh chấp đất đai tại cấp cơ sở thông qua HGCS và HG tại UBND
cấp xã bộc lộ những ưu điểm – đó là tính chất gần dân, thân thiện, không tốn kém, khả
năng giải quyết bằng cả pháp luật và đạo đức, tập quán.v.v. Nhưng bên cạnh đó các
nhược điểm dễ thấy của cơ chế hoà giải này là:
Thứ nhất, đó là Tính khó khả thi – do cấp xã hay tổ hoà giải cơ sở thường khó nắm giữ
các hồ sơ giấy tờ hay các nguồn lực cần thiết, nên việc hoà giải dựa trên bằng chứng
hay thu thập điều tra cũng khó khăn. Theo chúng tôi thì HGCS và HG tại xã chỉ phù
hợp khi giải quyết các vụ việc mâu thuẫn nhỏ, lặt vặt, va chạm trong đời sống cộng
đồng, mang tính tình cảm .v..v chứ tỏ ra khó khăn đối với giải quyết tranh chấp đất
đai.
122
Cũng do quyết định đưa ra mang tính tự nguyện tự giác thi hành nên khả năng thực thi
không cao – chủ yếu dựa vào sự tự giác tự nguyện của các bên, nên dẫn đến sự hạn
chế thực thi của cơ chế này.
Gần đây hoà giải cơ sở - tức là hoạt động do Tổ hoà giải cơ sở tiến hành tại thôn làng
ấp bản – được trang bị thêm khả năng có hiệu lực pháp lý cao hơn. Bộ Luật tố tụng
dân sự 2015 tại Chương XXXIII đã có quy định về việc công nhận kết quả hoà giải
thành. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng và mạnh mẽ để nâng cao hiệu quả của HGCS,
làm cho HGCS trở nên thiết thực hơn. Tuy nhiên cách thức thực hiện, các điều kiện
thực thi và các chủ thể có thẩm quyền thực hiện – cần được quy định rõ ràng hơn để
tăng tính khả thi của chế định mới này, đồng thời để tránh các nguy cơ làm dụng, vi
phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.
Về công nhận kết quả hòa giải thành trong Bộ luật tố tụng dân sự 2015 ( Chương
XXXIII), ngày 05/5/2017, Bộ Tư pháp đã ban hành Công văn số 1503/BTP-PBGDPL
hướng dẫn thực hiện thủ tục yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành ở cơ sở.
Quy định này có mục tiêu nâng cao giá trị pháp lý của HGCS, giảm bớt các vụ việc
tranh chấp phải ra toà. Tuy nhiên các hướng dẫn về điều kiện, thẩm quyền và trình tự
công nhận kết quả hoà giải thành vẫn chưa được thể hiện trong một văn bản pháp luật
chính thức (mà chỉ là Công văn hướng dẫn của Bộ). Mặt khác trong các hướng dẫn đó
vẫn còn lại các khoảng trống như: chưa quy định về khả năng khởi kiện như thế nào
trong trường hợp Toà án không công nhận kết quả hoà giải thành; về cách tính thời
hiệu ; khởi kiện tiếp theo; về các giải pháp tránh rủi ro đẩy vụ việc phải hoà giải lên
toà án.v.v.
Trong thời gian tới Toà án nhân dân tối cao cần ban hành văn bản quy phạm pháp luật
chính thức hướng dẫn về vấn đề này; hoặc cần có Thông tư liên tịch giữa Bộ Tư pháp
với Chánh án TANDTC, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn về
nội dung này, trong đó quy định đầy đủ về các vấn đề đang để ngỏ ở trên.
Thứ hai, và cũng rủi ro nhiều hơn là tính chất “cào bằng” hoặc chưa bảo đảm sự công
bằng, công lý nếu áp dụng các phán quyết trong các kiểu hoà giải này. Theo Điều 4 về
Nguyên tắc tổ chức, hoạt động của HGCS3, “tự nguyện, khách quan, công bằng, tôn
trọng ý chí và quyền lợi của cac bên có liên quan, đảm bảo bình đẳng giới, tuân thủ
3 Luật Hoà giải cơ sở 2013
123
pháp luật và không vụ lợi” là các nguyên tắc cơ bản cần phải tuân thủ. Tuy nhiên trên
thực tế thì tuỳ bối cảnh mà có thể sự công bằng, bình đẳng chưa được áp dụng đồng
đều với các bên, hoặc vẫn còn tư duy “chín bỏ làm mười” trong hoà giải. Theo một
khảo sát của DEPOCEN thì “trong khi chỉ có khoảng 24% hoà giải viên đồng ý với
nhận định rằng phụ nữ chịu thiệt khi giải quyết mâu thuẫn giữa phụ nữ và nam giới thì
con số này trong khảo sát với người dân lên đến 37%. Một trong các lý do lý giải cho
thực trạng này là vì nữ giới dễ bị thuyết phục và ít hiểu biết hơn nam giới. Đặc biệt là
các trường hợp hộ gia đình đơn thân hoặc thiếu nam giới (bố hoặc chồng mất) thì
người phụ nữ thường đồng ý chấp nhận kết quả hoà giải nhanh chóng để cho xong
việc, tránh mâu thuẫn kéo dài. Bên cạnh đó trong một vài trường hợp hoà giải liên
quan đến hôn nhân gia đình mà nhóm khảo sát tiếp cận được thì cũng ghi nhận được ý
kiến rằng HGV khuyên “là phụ nữ nên nhường nhịn cho êm cửa êm nhà” hoặc “vì con
cái”. Bên cạnh đó cũng cần lưu ý rằng có 60% HGV đồng ý rằng khi hoà giải HGV
khuyên 1 trong 2 bên nhận lỗi hoặc chịu thiệt để giải quyết xong vụ việc thì tỷ lệ này
trong bảng khảo sát NHL lên đến 72%4.
Thứ ba: Bất cập lớn nhất là các cơ chế hoà giải này đôi khi có thể gây ra những rủi ro
về thủ tục cho người dân – mà dễ thấy là việc mất thời hiệu khởi kiện, khiếu nại.v.v.
do trông đợi vào các cơ chế này. Hoặc rủi ro là việc không thực thi đầy đủ cơ chế trên
sẽ dẫn đến việc mất khả năng khởi kiện tiếp theo.
Theo quy định của Điều 203 Luật Đất đai năm 2013 và Nghị định số 43/2014/NĐ-CP
ngày 15/5/2014 hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2013 thì hòa giải ở cơ sở là một
thủ tục bắt buộc trong giải quyết tranh chấp đất đai – quy định này làm cho việc hoà
giải tại UBND cấp xã là thủ tục tiền đề cho các bước giải quyết tranh chấp tiếp theo tại
Toà hoặc cơ quan hành chính.
Theo quan sát thì quy định này có thể làm kéo dài thời hạn giải quyết tranh chấp đất
đai: Với các quy định tại điều 202 Luật đất đai năm 2013 thì khi có tranh chấp bắt
buộc phải trải qua hai cơ quan có thẩm quyền giải quyết, cơ quan thứ nhất làm nhiệm
vụ hòa giải, nếu hòa giải không thành, không hòa giải được… thì mới được yêu cầu cơ
quan thứ hai là Tòa dân sự giải quyết. Những tầng nấc này làm cho vụ kiện kéo dài
4
UNDP – Depocen “Grassroots mediation of the Vietnam Lawyers Association: Assessing the current situation,
identifying good practices/models, and proposing initiatives to resolving disputes at the commune level” (2019).
124
một bước, nhưng nó chỉ làm chậm việc kết thúc giải quyết vụ tranh chấp về đất đai,
chứ không có vấn đề về pháp lý5.
Sẽ rủi ro cho các bên nếu các tranh chấp đó không được UBND xã tiến hành hoà giải.
Hoặc Ủy ban nhân dân triệu tập các bên để hòa giải trong nhiều trường hợp phía bị
đơn không đến (mặc dù đã được tống đạt giấy triệu tập hợp lệ), do vậy, phát sinh
trường hợp: Khi bị đơn không đến thì Ủy ban nhân dân không thể tiến hành hòa giải
được, trong biên bản hòa giải cũng không thể có chữ ký của bị đơn. Nếu Ủy ban nhân
dân có lập biên bản không hòa giải vì bị đơn không đến thì biên bản này có được coi là
biên bản hòa giải không thành không và Tòa án có được căn cứ vào đó để thụ lý giải
quyết các tranh chấp đất đai theo thủ tục tố tụng dân sự không? Đây là một vấn đề
vướng mắc trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp đất đai tại Tòa án, mà theo các
luật gia thì cần phải được hướng dẫn một cách cụ thể trong thời gian tới để việc áp
dụng pháp luật đất đai được thực hiện một cách thống nhất. Ngoài ra, kết quả hòa giải
thành tại Ủy ban nhân dân không có giá trị bắt buộc thực hiện đối với các bên đương
sự - điều này gây rủi ro nếu một bên chờ đợi sự thực thi - Vì trong thực tế, có nhiều
trường hợp trong thời gian chờ thực hiện kết quả hòa giải thành thì hết thời hiệu khởi
kiện6.
II.
Giải quyết tranh chấp đất đai giữa các cá nhân, tổ chức bằng cơ chế
hành chính và tư pháp
Trong Luật đất đai 2013 có điểm đổi mới so với Luật đất đai 2003, đó là quy định
ngoài cơ quan hành chính ra thì toà dân sự được giải quyết các tranh chấp đất đai khi
chưa có một giấy tờ nào7.
5 Tưởng Duy Lượng, “Những khó khăn vướng mắc trong quá trình giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất ,
tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và một vài kiến nghị, apchitoaan.vn/bai-viet/trao-doi-y-kien/tranh-chap-
quyen-su-dung-dat-thua-ke-quyen-su-dung-dat-mot-loai-tranh-chap-phuc-tap-vi-sao truy cập 6/11/2021.
6 Minh Tuấn, https://stp.bacgiang.gov.vn/hien-thi-noi-dung/-/asset_publisher/wtMnvtGfRUNi/content/vuong-
mac-bat-cap-kien-nghi-hoan-thien-pl-ve-tham-quyen-giai-quyet-tranh-chap-at-ai-theo-thu-tuc-ttds
7 Điều 203 Luật đất đai 2013 quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp như sau:
“Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:
…Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy
định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất
đai theo quy định sau đây:
a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều
này;
b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự”…
125
Dù đây là quy định đã đi vào đời sống từ lâu nhưng vẫn còn gây tranh cãi.
Theo một số tác giả thì đổi mới này gây áp lực đáng kể cho Toà án và cũng có vấn đề
về mặt lý luận. Theo tác giả Tưởng Duy Lượng: “…khi Điều 203 Luật đất đai năm
2013 quy định loại đất tranh chấp mà các bên chưa có bất cứ loại giấy tờ gì cũng thuộc
thẩm quyền tòa dân sự, là trao vượt quá thẩm quyền cho tòa dân sự trong việc giải
quyết tranh chấp đối với loại đất này (từ chỗ chỉ có quyền xác định ai vốn có quyền
dân sự đang bị người khác tranh chấp nay có thêm quyền xác định ai được quyền sử
dụng đất chưa có căn cứ pháp luật-chưa được công nhận về pháp lý, vì loại đất này
vốn đang được xác định là “đất công”), sẽ là một phức tạp rất lớn, xác xuất sai sót khi
tòa án giải quyết tranh chấp sẽ cao hơn. Bởi lẽ, theo quy định của pháp luật thì chỉ
những tài sản đã thuộc quyền sở hữu hợp pháp của một chủ thể, nay có chủ thể khác
xâm phạm, tranh chấp thì Tòa dân sự căn cứ vào tài liệu chứng cứ để xác định thực
chất tài sản đó là của chủ thể nào thì công nhận cho chủ thể đó, buộc bên đang chiếm
hữu bất hợp pháp phải trả lại tài sản cho bên có quyền, chứ Tòa dân sự không có
quyền ban phát quyền, lợi ích cho bất kỳ bên nào”8. Thực tế đối với “loại đất mà các
bên chưa có bất kỳ loại giấy tờ gì thì thường là đất bồi ven biển, đất rừng…(tức đất
đang thuộc quyền sở hữu toàn dân, chưa được cơ quan có thẩm quyền công nhận đất
đó của ai, và cũng chưa giao cho các chủ thể đang tranh chấp được khai thác)” – nên
việc phân định của toà án sẽ là phán quyết đầu tiên, có giá trị quyết định quyền và lợi
ích của các bên trong bối cảnh chưa hề có quyết định của cơ quan hành chính.
Tuy nhiên theo chúng tôi, việc mở rộng thẩm quyền cho toà án trong giải quyết tranh
chấp đất đai là phù hợp với nhu cầu thực tiễn – khi các tranh chấp đất đai chiếm đại đa
số trong các tranh chấp dân sự nói chung. Quy định này cũng hoàn toàn phù hợp với
nguyên lý của nhà nước pháp quyền – khi mà các tranh chấp phải được giải quyết bằng
con đường tư pháp – với các bảo đảm chặt chẽ nhất về tố tụng cho người dân, với tính
chất khách quan, công bằng của cơ chế tư pháp. Quy định này cũng hoàn toàn tương
thích với các nguyên tắc khác trong Bộ luật dân sự 2015, Luật Tổ chức Toà án nhân
dân 2014, ví dụ như bất khẳng thụ lý; quyền làm án lệ và giải thích pháp luật của toà
8
Tưởng Duy Lượng, “Những khó khăn vướng mắc trong quá trình giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất ,
tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và một vài kiến nghị, apchitoaan.vn/bai-viet/trao-doi-y-kien/tranh-chap-
quyen-su-dung-dat-thua-ke-quyen-su-dung-dat-mot-loai-tranh-chap-phuc-tap-vi-sao , đăng ngày 05/2/2020, truy
cập 6/11/2021.
126
án.v.v. Và việc mạnh dạn trao cho toà xét xử các tranh chấp đất đai trong bối cảnh
chưa có giấy tờ - cũng phù hợp với việc hướng tới tầm cao trong hoạt động của toà án
là “bảo vệ công lý”, mang tính chủ động của toà – chứ không chỉ là dựa trên quy định
của pháp luật, hay giấy tờ đã sẵn của cơ quan nhà nước – mà ra phán quyết.
Vả lại điều này cũng giải quyết được “lỗ hổng” về thực tiễn. Nếu theo Luật Đất đai
2003 thì toà chỉ có thể giải quyết các tranh chấp đất đai mà đương sự có GCNQSDĐ
hoặc một số loại giấy tờ quy định tại Khoản 1,2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai 2003. Như
vậy nếu đương sự không có giấy tờ sẽ không được bảo vệ quyền lợi ích theo cơ chế tư
pháp. Và điều này cũng gây ra mâu thuẫn thực tiễn: giải quyết tranh chấp đất đai về
bản chất là việc xác định phân diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ai, ai
là chủ sử dụng hợp pháp đất – nhưng nếu quy định như trên thì việc giải quyết lại căn
cứ theo người có giấy tờ về đất. Hơn nữa các giấy tờ về đất thường khó lưu giữ qua
nhiều thế hệ, hoặc không được cấp phát nhiều mà chủ yếu do cơ quan có thẩm quyền
nắm giữ, nếu không xin được các giấy tờ này thì đơn kiện của các bên sẽ không có cơ
hội được toà thụ lý.
Và về lý luận thì cơ quan tư pháp mới là chủ thể có thẩm quyền cao nhất trong việc
xác định quyền tài sản cho đương sự. Nếu cơ quan hành chính làm công việc này thì
có thể ảnh hưởng đến nguyên tắc phân công trong thực hiện quyền lực: vừa quản lý
hành chính vừa phán quyết về tranh chấp, và đặc biệt ra các phán quyết về quyền tài
sản (nên nhớ là trong xử phạt vi phạm hành chính, cơ quan hành chính không thể vừa
xử phạt vừa tuyên bố về trách nhiệm bồi thường dân sự giữa các bên). Vì vậy việc quy
định thẩm quyền xét xử của toà án trong các tranh chấp đất đai – kể cả tranh chấp chưa
có giấy tờ về QSDĐ – là đáp ứng được cả yêu cầu về thực tiễn cũng như các lý thuyết
về tổ chức quyền lực nhà nước, về pháp luật.
đaiTuy nhiên những lo ngại về năng lực và áp lực của toà khi giải quyết tất cả các loại
tranh chấp đất đai – vốn dĩ có giấy tờ hoặc chưa – cũng không phải hoàn toàn vô lý.
Trên thực tế thì tranh chấp đất đai không chỉ là phổ biến nhất trong các loại tranh chấp
hiện nay, mà cũng là tranh chấp phức tạp nhất, kéo dài nhất. Tính chất phức tạp của
tranh chấp đất đai có thể lý giải từ nhiều nguyên nhân:
Theo quan sát của thẩm phán Tưởng Duy Lượng, các khó khăn thực tiễn đến từ: “Sự
quản lý yếu kém kéo dài của cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước về đất đai được
thể hiện trong việc việc lưu trữ, quản lý hồ sơ về thửa đất không đày đủ, tình trạng hồ
127
sơ bị thất lạc, đứt đoạn thông tin là không hiếm, không cập nhật được di biến động về
thửa đất (do thực hiện các giao dịch, chuyển từ đất tập đoàn, hợp tác xã sang cá nhân,
hộ gia đình quản lý vv…); thông tin trong hồ sơ về thửa đất thiếu, không chính xác
(không chính xác về kích thước, số đo, diện tích, hình thù thửa đất, trên đất có tài sản
như các công trình xây dựng, nhà ở không được thể hiện trong giấy chứng nhận xuất
phát từ quy định, cách làm không hợp lý của cơ quan quản lý về đất đai tạo nên …);
chậm hoàn thiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân, doanh
nghiệp; nhầm lẫn trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, như thửa đất của
ông A nhưng giấy chứng nhận lại ghi ông B, đối với đất rừng khi giao không cụ thể
trên thực địa, không rõ ranh giới, chồng lấn khi giao dẫn đến tranh chấp; giấy chứng
nhận ghi cấp cho hộ gia đình nhưng chính cơ quan quản lý, cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất không biết những ai trong hộ có quyền đối với diện tích đất này;
nguồn gốc ban đầu là đất của thành viên trong hộ nhưng khi cấp giấy chứng nhận thì
trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi hộ gia đình, song hồ sơ không thể hiện
rõ việc chuyển từ đất của cá nhân thành đất của “hộ gia đình”9.
Hoặc việc lưu trữ, quản lý cập nhật hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của
cơ quan chức năng còn chưa chặt chẽ nên khi Tòa án có yêu cầu trích lục việc cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất của các đương sự thì có vụ việc không có hồ sơ để
cung cấp10.
Thêm nữa trong thực tiễn từ năm 2013 nước ta mới bắt đầu tiến hành đo đạc diện tích
đất chính quy, trước đó nhiều trường hợp người dân chỉ thực hiện việc “úp bộ”,
chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất thông qua diện tích trước đó đã kê khai,
do đó diện tích đất trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ có chênh lệch so với
thực tế, dẫn đến việc tranh chấp cũng gặp khó khăn để tìm ra cơ sở, tài liệu để giải
quyết vụ việc.
Thông tin giấy tờ đất đai không được lưu trữ lại; chưa cập nhật, chưa thực hiện hoặc
không chính xác – những yếu tố đó làm khó cho việc giải quyết tranh chấp đất đai tại
Toà. Chưa kể đến do biến động của địa giới hành chính – dẫn đến việc quản lý và giải
quyết tranh chấp đất đai bị chia cắt bởi nhiều cấp có thẩm quyền, việc xác minh, tìm
9 Tưởng Duy Lượng, sđd.
10 Kim Chúc, https://vks.haugiang.gov.vn/nghien-cuu-trao-doi/nhung-kho-khan-trong-qua-trinh-giai-quyet-vu-
an-lien-quan-den-quyen-su-dung-dat-tren-dia-ban-thi-xa-long-my-424.html, truy cập 24/10/2021.
128
lại các thông tin hay chứng cứ thực không dễ dàng. Và cuối cùng, do sự tồn tại đan
xen của nhiều cơ chế giải quyết tranh chấp cũng như tính hiệu quả chưa cao của các cơ
chế này dẫn đến việc giải quyết tranh chấp chồng lấn và kéo dài, cùng với thời gian sẽ
làm khó đi khả năng xem xét về ranh giới, giấy tờ cũng như người làm chứng.
III. Giải quyết tranh chấp giữa người sử dụng đất với cơ quan hành
chính trong lĩnh vực đất đai: Khiếu nại, khiếu kiện hành chính trong
lĩnh vực đất đai
Hai cơ chế này dành cho trường hợp: người sử dụng đất không đồng ý với quyết định
hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực đất đai. Nói cách khác, cơ chế này áp
dụng trong trường hợp có tranh chấp giữa người sử dụng đất với cơ quan hành chính
trong lĩnh vực đất đai
Có rất nhiều loại tranh chấp hành chính trong lĩnh vực đất đai: có thể là liên quan đến
quyết định/ hành vi giao đất, thu hồi đất; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; quy
hoạch, bồi thường hỗ trợ tái định cư; chuyển đối mục đích sử dụng đất.v.v.
Hiện nay để giải quyết tranh chấp này có hai cơ chế cùng tồn tại: hoặc là con đường
hành chính – tức là khiếu nại và giải quyết khiếu nại; hoặc là con đường tư pháp – tức
là khởi kiện vụ án hành chính.
Điều 204 Luật Đất đai quy định:
“ Người sử dụng đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất có
quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý
đất đai.
2. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về
đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại. Trình tự, thủ tục giải quyết
khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy
định của pháp luật về tố tụng hành chính”
Nhìn vào hệ thống pháp luật về khiếu nại và khởi kiện hành chính hiện hành – có thể
thấy rằng luật đã trao cho người sử dụng đất sự lựa chọn rộng rãi: có thể tự do tuỳ
chọn giữa hai con đường mà không chịu sự ràng buộc của thủ tục “tiền tố tụng” như
trước kia – tức là nhất thiết phải trải qua khiếu nại rồi mới khởi kiện hành chính.
Tuy nhiên hai con đường này có vài đặc thù ở Việt Nam – trong bối cảnh hiện nay:
129
1. Ở Việt Nam con đường giải quyết khiếu nại hành chính vẫn là con đường
chủ yếu.
Điều này dường như không giống theo suy luận chung – hoặc xu hướng của các nước
phát triển - ở đó khởi kiện hành chính luôn là con đường tối ưu để người dân bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Khiếu nại ít khi được coi là con đường cơ bản để
giải quyết tranh chấp – do tính thiếu khách quan, do vậy trở nên ít tin cậy so với quy
trình tố tụng hành chính. Với thủ tục tố tụng, người sử dụng đất có rất nhiều thiết chế
để tự bảo vệ mình: có thủ tục tranh tụng chặt chẽ, có sự hiện diện của luật sư, giám
định, người làm chứng, người phiên dịch. Người sử dụng đất có thể có vị thế bình
đẳng với công quyền - người bị kiện, và Thẩm phán là người ở giữa – đưa ra phán
quyết. Ở nhiều quốc gia trên thế giới, hầu hết các xung đột hành chính sẽ được giải
quyết bằng con đường tư pháp. Khiếu nại hành chính chỉ là thủ tục phụ trợ - và có tác
dụng làm kéo dài thời hạn kiện hành chính. Trong cách tiếp cận của pháp luật thực
định cũng như của các luật gia Pháp, khiếu nại dường như là hoạt động gắn liền với
quản lý hành chính. Người Pháp có câu ngạn ngữ “Juger administration c’est encore
administrer” (Phán xét hoạt động hành chính hãy còn là thực hiện hoạt động hành
chính). Do vậy hành chính - tài phán (bao gồm cả khiếu nại) vẫn được coi như một
phần của hoạt động hành chính – quản lý11.
Tuy nhiên ở Việt Nam, cho đến nay và trong thời điểm trước mắt, khiếu nại vẫn
là con đường cơ bản để giải quyết các tranh chấp giữa cơ quan hành chính và
người dân. Điều này được thể hiện qua các số liệu về giải quyết khiếu nại đất đai và
về giải quyết vụ án hành chính về đất đai.
Có nhiều lý do giải thích điều này.
Thứ nhất, so với khởi kiện vụ án hành chính, khiếu nại có ưu điểm là đơn giản hơn và
tiết kiệm hơn:
- Khiếu nại không đặt ra lệ phí. Điều này khác với khởi kiện tại Toà, nơi mà điều kiện
đầu tiên để được thụ lý là nộp án phí. Đối với người dân – khi mà thu nhập còn rất
thấp – thì án phí hành chính hoặc án phí dân sự vẫn là một khoản tiền đáng kể, đặc biệt
khi ra Toà, có nhiều khả năng phải trải qua nhiều cấp xét xử: sơ thẩm, phúc thẩm.v.v.
- Cũng liên quan đến kinh phí, có thể kể ra một loạt ưu điểm của khiếu nại như :
11 Le citoyen et son administration”, sous la direction de Celine WIENER and Michel LECLAINDRE, (Preface
de Guy BRAIBANT), Group Imprimeria National, France 2000, tr.163.
130
+ Cơ quan hành chính – nơi đã ra QĐHC lần đầu - thông thường ở rất gần dân. Trong
khi đó Toà án ở trung tâm của huyện lỵ, tỉnh lỵ, đối với người dân vùng sâu, vùng xa,
chi phí vận chuyển, đi lại sẽ là một khoản kinh phí không đáng kể. và thông thường,
khi chờ xét xử, người ta phải tính đến các khoản chi khác như : ở trọ, ăn uống, sinh
hoạtv.v.
+ Ngay cả việc gửi đơn kiện - nếu không trực tiếp đi lại thì thông qua đường bưu điện
- gửi thư bảo đảm. Trong khi đó nếu khiếu nại thì đương sự có thể tuỳ nghi lựa chọn :
hoặc gửi thư, hoặc trực tiếp đến trình bày miệng tại cơ quan có thẩm quyền (với điều
kiện cơ quan tiếp nhận sẽ lập văn bản và người khiếu nại ký tên hay điểm chỉ vào đó) ;
Hơn nữa đơn khởi kiện phải thỏa mãn những yêu cầu về nội dung và hình thức, còn
kèm theo các chứng cứ, giấy tờ.v.v. được quy định rất chặt chẽ theo thủ tục tố tụng
(Điều 118 Luật Tố tụng hành chính).
+ Chi phí thuê luật sư cũng là yếu tố đáng kể làm tăng gánh nặng tài chính cho người
khởi kiện. Thông thường khi ra Toà, người khởi kiện nghĩ đến việc thuê luật sư – còn
trong khiếu nại hành chính thì rất hiếm hoi. Có thể do trước kia luật pháp không cho
phép về thuê luật sư khiếu nại ; nhưng có thể lý giải từ nguyên nhân khác : trình tự
trước toà là trình tự tranh tụng – có nghĩa là có xét hỏi, tranh luận tại phiên toà ; trong
khi đó thủ tục giải quyết khiếu nại chủ yếu mang tính nội bộ, rất gần đây mới có quy
định về đối thoại giữa người giải quyết khiếu nại và người khiếu nại; về quyền thuê
luật sư, nhưng quy định này dường như chưa phát huy nhiều tác dụng do pháp luật
không bắt buộc người đứng ra đối thoại đồng thời là người có thẩm quyền giải quyết
khiếu nại.
Chính vì ít có khả năng được tiếp xúc, trình bày ý kiến, lý lẽ trước người có thẩm
quyền - nên trong khiếu nại, người dân thường ít khi mời luật sư. Đây là một bất cập
lớn về nội dung, tuy nhiên về góc độ nào đó, chi phí thuê luật sư cũng là một con tính
đặt ra – làm « nặng ký » thêm sự lựa chọn quy trình khiếu nại hành chính – thay vì quy
trình tố tụng - của người dân.
- Tính đơn giản của khiếu nại về mặt tâm lý, ý thức hệ: khiếu nại phù hợp hơn với suy
nghĩ, tư duy của người Việt, vốn có truyền thống ngại những gì là pháp đình, tranh
tụng. Tính chất của khiếu nại khá ôn hoà, quy trình giải quyết không mang tính gay
gắt, căng thẳng như trong tố tụng. Hơn nữa, Toà án và các thiết chế tư pháp – hãy còn
là những khái niệm xa lạ với người Việt Nam - nhất là khi so sánh với các cơ quan
131
hành chính tồn tại lâu đời và hàng giờ, hàng ngày động chạm trực tiếp đến đời sống
người dân.
Về vấn đề này, PGS. TS. Phạm Duy Nghĩa đã có nhận xét :
« người Việt nam có xu hướng « đóng cửa bảo nhau, ngại tranh tụng, Ý thức về tố
quyền của người Việt chưa cao. Nếu ở phương tây, pháp luật là nguyên tắc đối xử
mang tính bắt buộc chung thì ở nước ta, tư tưởng đó chưa trở thành nhận thức phổ
biến. hàng nghìn năm xã hội thần dân dưới các chế độ cũ đã tạo ra tâm lý chấp nhận
và nhẫn nhịn và chịu đựng của người bị trị và tâm lý đương nhiên được hưởng đặc
quyền đặc lợi của người cầm quyền : Hoàng đế được coi là thiên tử, quan lại được coi
là phụ mẫu, đạo đức phương Đông không cho phép thần dân quyền khởi kiện nhà
vua ».
Hơn nữa, Toà án, tư pháp là những thiết chế chưa có truyền thống ở Việt nam :
« trong truyền thống nước ta không có Toà án và ngạch thẩm phán riêng biệt như
Tây : công đường là nơi hành sự của quan cai trị, biến thành tụng đình – nơi xét
xử »12.
Với truyền thống đó, với văn hoá đó, hệ quả là người dân sẽ thấy con đường khiếu nại
là gần gũi hơn – thay vì việc khởi kiện ra Toà.
Một lý do nữa – cũng có thể lý giải cho vai trò quan trọng của khiếu nại: đó là sự hạn
chế ít nhiều của tòa hành chính ở nước ta hiện nay. Do nhiều lý do nhưng rõ ràng Tòa
hành chính hiện nay chưa thực sự trở thành thành trì vững chắc cho người dân trong
những vụ kiện chống lại công quyền.
Thực tiễn cho thấy rằng đối với các vụ án hành chính phức tạp (mà thường là liên quan
đến đất đai), người dân hầu như ngại ngùng khi lựa chọn con đường tòa án, mà vẫn ưa
chuộng khiếu nại hành chính. Ngoài tâm lý truyền thống ngại ngần tòa, ngoài gánh
nặng về thủ tục pháp lý, lý do khiến người dân lựa chọn khiếu nại là: i) việc thêm
quyền khiếu nại đồng nghĩa với việc tăng thêm cơ hội thắng kiện; ii) một khi đã chọn
con đường tòa án, người dân không còn cơ hội quay trở lại khiếu nại nữa, trong khi đó
nếu ngược lại – đã khiếu nại dù ở cấp nào người dân cũng luôn có khả năng được đưa
vụ việc ra tòa.
Tuy nhiên để tận dụng tốt các ưu thế của khiếu nại thì rất cần sự cải tiến trong cơ chế
giải quyết khiếu nại hiện hành, mà nội dung trọng tâm là trách nhiệm của cơ quan có
12 Phạm Duy Nghĩa, Chuyên khảo Luật Kinh tế, Khoa Luật ĐHQG HN, NXB ĐHQG HN, H. 2004, tr. 649-650.
132
thẩm quyền giải quyết khiếu nại. Đối mặt với các khó khăn khách quan trong xử lý các
tranh chấp đất đai, nếu cơ quan hành chính không thữc sự trách nhiệm thì việc giải
quyết khiếu nại đất đai sẽ khó hiệu quả. Điều này liên quan đến xử lý vi phạm trong
giải quyết khiếu nại, nhưng sâu xa hơn vẫn là cơ chế phân định thẩm quyền rành mạch
giữa các cơ quan hành chính. . Một vụ việc chỉ có thể được giải quyết dứt điểm nếu
thẩm quyền quyết định thuộc về một cơ quan cụ thể, không dàn trải theo nhiều cấp
khác nhau.
Điều này liên quan đến phân cấp phân quyền. Chỉ trên cơ sở quyền hạn được phân
chia rõ ràng giữa trung ương – địa phương; giữa các cơ quan hành chính ở từng cấp,
từng lĩnh vực – thì khi đó việc xấc định thẩm quyền (và cũng là trách nhiệm) của từng
cơ quan mới khả thi. Lúc đó, tình trạng đùn đẩy, trả đơn – mới khả dĩ cải thiện. Và chỉ
khi đó việc khiếu nại kéo dài, đơn thư vòng quanh , điểm nóng – mới cơ khả năng
chấm dứt. Quan hệ giữa công dân và cơ quan hành chính được trở về bản chất lý tưởng
của nó: dựa trên tiêu chí minh bạch, nhân văn và chịu trách nhiệm.
Thêm vào đó, cần hoàn thiện và số hoá cách quản lý đất đai – để việc lưu trữ và ban
hành các giấy tờ về đất đai thực sự chính xác, đầy đủ.
2. Trong mối quan hệ giữa khiếu nại và khởi kiện hành chính, dù có nhiều cải
tiến rõ ràng, nhưng vẫn tồn tại điểm mờ: sự chuyển tiếp giữa khiếu nại và
khởi kiện – câu chuyện về khiếu nại quá thời hiệu
Với những quy định mới của pháp luật hiện hành, sự cản trở của khiếu nại đến khởi
kiện hành chính hầu như đã không còn: bất kỳ khi nào người dân cũng có thể khởi
kiện hành chính mà không cần đã khiếu nại chưa, đã có quyết định giải quyết khiếu nại
hay chưa.
Tuy nhiên vẫn còn lại một tình huống khó: liệu có thụ lý hay không một khiếu kiện
hành chính được thực hiện ngoài thời hiệu khiếu nại?
Câu chuyện này đã được quan tâm nhiều từ những ngày đầu của xét xử hành chính. Để
thống nhất đường lối xét xử, Hội đồng thẩm phán TAND tối cao đã ra Nghị quyết số
03/2003/NQ-HĐTP ngày 18/4/2003 hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp
lệnh TTGQCVAHC, quy định tại Điểm 16 - việc xác định thời điểm để tính thời hạn
khởi kiện :
133
« Khi thi hành khoản 1 Điều 30 Pháp lệnh (về thời hạn khởi kiện – TG) cần chú ý là
trong trường hợp người khởi kiện vụ án hành chính do không đồng ý với quyết định
giải quyết khiếu nại lần đầu thì chỉ cần người khởi kiện làm đơn yêu cầu Toà án giải
quyết vụ án hành chính trong thời hạn 30 ngày (đối với vùng sâu vùng xa, vùng đi lại
khó khăn thì trong thời hạn 45 ngày), kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết
khiếu nại lần đầu mà không phụ thuộc vào việc quyết định giải quyết khiếu nại lần
đầu được ban hành vào thời điểm nào (TG nhấn mạnh)».
Và ý tưởng này đã được chấp nhận cả trong những điều khoản của Pháp lệnh
TTGQCVAHC sửa đổi 05/4/2006 : tại Điều 31 đã bỏ đi khoản 4 cũ – nghĩa là bỏ đi
một lý do để trả lại đơn kiện là « Đã hết thời hiệu khiếu nại lần đầu mà không khiếu
nại ».
Đó là một điểm sáng trong pháp luật về khởi kiện hành chính thời đó - thể hiện sự
dũng cảm và bản lĩnh của thẩm phán - những người trực tiếp xét xử và đóng góp vào
việc xây dựng luật thực định, cũng thể hiện quan điểm tôn trọng bảo vệ lợi ích của
người khởi kiện.
Tuy nhiên cho đến nay, Luật 2015 đã không còn quy định trên nữa. Theo Điều 116
Luật Tố tụng hành chính 2015:
“Thời hiệu khởi kiện
…3. Trường hợp đương sự khiếu nại theo đúng quy định của pháp luật đến cơ quan
nhà nước, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì thời hiệu khởi kiện được quy
định như sau:
a) 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định giải quyết khiếu nại lần
đầu hoặc quyết định giải quyết khiếu nại lần hai;
b) 01 năm kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật mà
cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền không giải quyết và không có văn bản trả lời
cho người khiếu nại.
4. Trường hợp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác làm cho người
khởi kiện không khởi kiện được trong thời hạn quy định tại điểm a và điểm b khoản 2
Điều này thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác không
tính vào thời hiệu khởi kiện”.
134
Theo quy định này thì không có nhắc đến khả năng thụ lý vụ án khi đã hết thời hiệu
khiếu nại mà lại có quyết định giải quyết khiếu nại.
Và theo khoản 6 Điều 11 Luật Khiếu nại thì
“Các khiếu nại không được thụ lý giải quyết
Khiếu nại thuộc một trong các trường hợp sau đây không được thụ lý giải quyết:
…6. Thời hiệu, thời hạn khiếu nại đã hết mà không có lý do chính đáng”
Thanh tra Chính phủ hướng dẫn tại điểm b khoản 1 Điều 28 Thông tư số 07/2014/TT-
TTCP ngày 31-10-2014 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình xử lý đơn khiếu
nại, đơn tố cáo, đơn kiến nghị, phản ánh thì: quy trình xử lý đơn khiếu nại, đơn tố cáo,
đơn kiến nghị, phản ánh hết thời hạn, thời hiệu theo quy định sẽ được xếp lưu đơn.
Vậy với các quy định của pháp luật hiện hành, có thể thấy rằng khả năng là không thụ
lý vụ án trong trường hợp này.
Về lý thuyết có thể suy luận việc thụ lý hay không đều có mặt tích cực cũng như hạn
chế. Nếu thụ lý thì quyền và nghĩa vụ của công dân luôn được theo đuổi bảo vệ đến
cùng bằng cơ chế toà án – nhất là đặt trong bối cảnh giải quyết khiếu nại hành chính
còn bất cập như hiện nay, nhưng mặt khác việc thụ lý lại mâu thuẫn với những quy
định về thời hiệu trong pháp luật khiếu nại.
Trên thực tế thì Toà án đã tuỳ tình hình mà hành xử. Theo quan sát từ thực tiễn: “Căn
cứ những quy định trên, TAND Tối cao kết luận khi khiếu nại đã hết thời hiệu, cơ
quan có thẩm quyền không thụ lý mà xếp lưu đơn.
Tòa án sẽ linh động xem xét và quyết định trong một số trường hợp cụ thể. Nếu cơ
quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản để giải quyết khiếu nại thì văn bản đó là
quyết định hành chính thuộc đối tượng khởi kiện. Khi giải quyết vụ án hành chính, tòa
án cần xem xét thêm tính hợp pháp của quyết định hành chính ban đầu.
Trường hợp cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản bằng hình thức công văn,
thông báo… có nội dung thể hiện diễn biến việc ra quyết định hành chính, quá trình
xác minh khiếu nại. Căn cứ văn bản này cùng những quy định liên quan, cơ quan,
người có thẩm quyền ra kết luận đối với việc khiếu nại. Đối với tình huống như vậy,
cơ quan chức năng xác định văn bản hành chính nói trên là quyết định giải quyết khiếu
135
nại. Tòa án cần xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính ban đầu trong quá
trình giải quyết.
Trái lại, văn bản do cơ quan, người có thẩm quyền ban hành (công văn, thông báo…)
với nội dung cho rằng việc khiếu nại đã hết thời hiệu thì văn bản hành chính này
không phải là quyết định giải quyết khiếu nại và không thuộc đối tượng khởi kiện
trong vụ án hành chính”13.
Tức là khả năng xem xét thụ lý vụ án dù đã quá thời hiệu GQKN vẫn còn, nhưng
không chính thức quy định mà tuỳ thuộc vào quyết định của toà.
13 https://nld.com.vn/ban-doc/xu-sao-voi-tinh-huong-khieu-nai-het-thoi-hieu-20200811154145787.htm
136
Bạn đang xem tài liệu "Bàn về mối quan hệ và hiệu quả của các cơ chế giải quyết tranh chấp đất đai ở Việt Nam hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
ban_ve_moi_quan_he_va_hieu_qua_cua_cac_co_che_giai_quyet_tra.pdf

