Asean và vấn đề an ninh mạng
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
ASEAN VÀ VẤN ĐỀ AN NINH MẠNG
Đặng Nhật Duy*
*ThS. Thư ký toa soạn Tạp chi Đời sống và Phap luât
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Trong những năm gần đây, an ninh mạng là vấn đề an ninh phi truyền
thống mà các quốc gia thường xuyên phải đối mặt. ASEAN nhận thấy sự
cần thiết của việc đảm bảo an ninh mạng khỏi các mối đe dọa phổ biến như
sự xâm nhập mạng xuyên quốc gia của các tổ chức tội phạm và khủng bố.
Lý do vì không gian mạng không có biên giới lãnh thổ nên việc các quốc
gia ban hành chính sách pháp luật đơn lẻ sẽ không thể giải quyết được
những vấn đề an ninh mạng phát sinh trong thực tiễn. Chính vì vậy, vai
trò của ASEAN là một cộng đồng chung trong việc đảm bảo an toàn trên
không gian mạng cần được nâng cao hơn nữa.
Từ khóa: ASEAN; an ninh mạng;
tội phạm mạng; chiến tranh
mạng; đội ứng cứu khẩn cấp sự
cố máy tính; Hiệp định khung
e-ASEAN, Đông Nam Á.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 09/9/2021
: 18/9/2021
: 21/9/2021
Article Infomation:
Abstract:
In recent years, cybersecurity is a non-traditional security concern that
several countries have been frequently facing. The ASEAN recognizes
the need to ensure cybersecurity from common threats such as transna-
tional cyber intrusions by criminal and terrorist organizations. Territorial
borderless of cyberspace is confirmed as the reason, so the enactment of
a single legal policy by countries will not be able to solve the cyberse-
curity problems arising in practices. Therefore, the role of ASEAN as a
common community in ensuring safety in cyberspace needs to be further
enhanced.
Keywords:ASEAN; cybersecurity;
cybercrime;
computer incident emergency
response team; e-ASEAN
cyber
warfare;
Framework Agreement, Southeast
Asia.Article History:
Received
Edited
: 09 Sep. 2021
: 18 Sep. 2021
: 21 Sep. 2021
Approved
1. Sự cam kết của ASEAN về vấn đề an
ninh mạng
tổ chức ở Singapore năm 2000, các quốc gia
thành viênASEAN đã ký kết Hiệp định khung
e-ASEAN. Đây là cơ sở pháp lý để đưa sáng
kiến đi vào áp dụng thực tiễn một cách có hệ
thống1. Hiệp định yêu cầu các nước thành viên
“thông qua các khuôn khổ pháp lý và luật lệ
về thương mại điện tử nhằm tạo dựng lòng tin
và sự tin cậy cho người tiêu dùng cũng như
tạo thuận lợi cho việc sắp xếp lại các doanh
ASEAN bắt đầu thể hiện sự quan tâm
của mình đối với vấn đề không gian mạng
thông qua Sáng kiến e-ASEAN năm 1999,
với trọng tâm là xây dựng cơ sở hạ tầng công
nghệ thông tin thông qua việc xúc tiến hoạt
động thương mại điện tử, thương mại, đầu tư
và nâng cao năng lực. Tại Hội nghị cấp cao
ASEAN không chính thức lần thứ IV được
1 Được thông qua ngày 24/11/2000 (chưa có hiệu lực do Hiệp định yêu cầu lưu chiểu văn kiện bởi phê chuẩn
hoặc chấp nhận bởi tất cả các quốc gia ký kết để có hiệu lực). Ngày 1/9/2018, Campuchia, Lào, Malaysia và
Việt Nam chưa phê chuẩn hoặc chấp nhận Hiệp định này.
18
Số 18(442) - T9/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
nghiệp hướng phát triển e-ASEAN”2. Tuy
nhiên, cùng với sự phát triển không ngừng
của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và sự
lệ thuộc vào công nghệ của chính phủ cũng
như toàn thể xã hội (mà tiêu biểu có thể kể tới
Singapore, Thái Lan và Lào) là những lo ngại
về khả năng “dễ bị tổn thương” của chính phủ
các nước về vấn đề không gian mạng.
quốc khác trên thế giới có ba hoạt động đang
được triển khai.
Thứ nhất, phát triển khuôn khổ khu vực
chung về nâng cao năng lực bảo vệ an ninh
mạng với trọng tâm là thành lập Đội ứng cứu
khẩn cấp sự cố máy tính quốc gia (Computer
Emergency Response Teams (“CERTs”))
như được đưa ra tại Tuyên bố Singapore năm
20034. Văn kiện này thúc đẩy việc chia sẻ kiến
thức chuyên môn về không gian mạng, những
mối đe doạ trên không gian mạng cũng như
những thông tin bị đánh giá là “dễ bị tấn công”
nhằm mục đích “hỗ trợ phát triển chính sách an
ninh mạng và trao đổi kinh nghiệm thực tiễn
về các vấn đề liên quan đến an ninh mạng”5.
Điều này có ý nghĩa quan trọng với công tác
bảo vệ an ninh mạng ở các nước Đông Nam
Á (vốn là những nước kém phát triển và có
nguy cơ cao bị tấn công mạng) trong việc yêu
cầu hợp tác khu vực để nâng cao năng lực kết
hợp cùng những phương pháp bảo vệ an ninh
mạng khác nhằm giảm thiểu tối đa các “mắt
xích yếu kém”6. Do khu vực ASEAN có sự
phân chia kỹ thuật số rõ ràng nên Chiến lược
tổng thể ASEAN ICT năm 2015 đã kêu gọi
các nước thiết lập tiêu chuẩn tối thiểu chung
cho việc bảo vệ an ninh mạng, thúc đẩy hợp
tác CERT cũng như việc chia sẻ kiến thức
chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn7.
ASEAN vốn được thành lập với mục đích
thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội
và phát triển văn hóa trong khu vực; thúc đẩy
hòa bình và ổn định khu vực bằng việc tôn
trọng công lý và nguyên tắc luật pháp trong
quan hệ giữa các nước trong vùng và tuân thủ
các nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp
quốc. Do đó, ASEAN đã sớm nhận thấy tình
trạng “dễ bị tổn thương” của các chính phủ
trong không gian mạng. Tuy nhiên, việc công
nhận không gian mạng là khu vực chiến tranh
thứ năm3 đã đặt ra những thách thức đối với
sự phát triển khu vực của cấu trúc an ninh
mạng trong khuôn khổ pháp lý ASEAN. Sử
dụng không gian mạng với mục đích thù địch
hoặc gây hấn, tiềm ẩn nguy cơ gia tăng căng
thẳng địa chính trị vốn đã tồn tại trong khu
vực và thậm chí có thể gây ra những cuộc
xung đột không có hồi kết. Hiện nay, để bảo
vệ an ninh mạng trong nội bộ ASEAN và
thông qua quan hệ ngoại giao với các cường
2 Tlđd, khoản 1 Điều 5.
3
technology/cyberspace-the-fifth-domain-of-warfare/175397/, truy cập ngày 01/9/2021, Pierluigi Paganini,
NATO officially recognizes cyberspace a warfare domain https://securityaffairs.co/wordpress/48484/cyber-
warfare-2/nato-cyberspace-warfare-domain.html, truy cập ngày 01/9/2021.
4 Singapore Declaration, thông qua tại cuộc họp thứ 3 Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông các nước
ASEAN, 19/09/2003.
5 Joint Media Statement of the Third ASEAN Telecommunications & IT Ministers, Singapore, 19 September
2003, đoạn 4. Xem thêm, ASEAN Economic Community Blueprint, adopted at the 13th ASEAN Summit,
Singapore, 20 November 2007, đoạn 51.
6
Caitríona H. Heinl, Regional Cyber Security: Moving towards a Resilient ASEAN Cyber Security Regime
ist.psu.edu/viewdoc/download?doi=10.1.1.396.9799&rep=rep1&type=pdf, truy cập ngày 02/9/2021.
7 ASEAN ICT Masterplan 2015, adopted at the 10th Meeting of ASEAN Telecommunications & IT Ministers,
Kuala Lumpur, Malaysia, 13–14 January 2011, Initiative 4.2. Xem thêm, ASEAN ICT Masterplan 2020,
adopted at the 15th Meeting of ASEAN Telecommunications & IT Ministers, Da Nang, Vietnam, 27 November
2015, Initiatives 8.1 and 8.2.
Số 18(442) - T9/2021
19
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Thứ hai, ASEAN đang tìm kiếm phương
thức xử lý tình trạng bất ổn an ninh mạng
xuất phát từ những đối tượng phi chính phủ
cùng với các thách thức an ninh mạng khác
trong khu vực thông qua Cộng đồng Chính
trị - An ninh ASEAN. Trong đó, chủ đề về
chống khủng bố và tội phạm xuyên quốc
gia và các vấn đề liên quan đến an ninh
mạng luôn được ưu tiên thảo luận tại Diễn
đàn khu vực ASEAN (ASEAN Regional
Forum - ARF). Từ năm 2004, Diễn đàn khu
vực ASEAN thường xuyên tổ chức các toạ
đàm và hội thảo về không gian mạng, ứng
phó sự cố, nâng cao năng lực và mối nguy
đến từ nhân tố máy chủ proxy8. Năm 2006,
các nước thành viên của Diễn đàn khu vực
ASEAN đưa ra Tuyên bố Hợp tác chống lại
tấn công mạng và khủng bố lạm dụng không
gian mạng9. Tuyên bố khuyến khích các nước
thành viên nâng cao thể chế trong nước và
khu vực để bảo vệ an ninh mạng vì “để cuộc
chiến chống tấn công mạng và khủng bố
lạm dụng không gian mạng đạt được thành
công thì đòi hỏi luật pháp và các hình thức
hợp tác khác phải luôn được cập nhật nhanh
chóng và hoạt động hiệu quả”10. Chính sách
này đã được đề cập tại Kế hoạch Hành động
Hà Nội để thực hiện Tuyên bố Tầm nhìn của
Diễn đàn khu vực ASEAN trong Cuộc họp
các quan chức cấp cao tại Diễn đàn này vào
tháng 5/201011. Năm 2012, Diễn đàn khu vực
ASEAN đưa ra Tuyên bố Hợp tác duy trì an
ninh mạng với mục tiêu phát triển kế hoạch
làm việc cụ thể.
Thứ ba, ASEAN đã và đang triển khai
những diễn đàn tập trung thảo luận về những
mối đe doạ và năng lực ứng phó của quân
đội để bảo vệ an ninh mạng thông qua các
Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước
thành viên ASEAN (ASEAN Defence
Ministers Meeting - ADMM), các cuộc họp
của ASEAN, các cuộc đối thoại với cường
quốc ngoài khu vực. Mặc dù nền móng hợp
tác bảo vệ an ninh mạng đã được đề ra trong
Tuyên bố an ninh mạng của Diễn đàn khu
vực ASEAN năm 2006, nhưng Tuyên bố
Hợp tác duy trì an ninh mạng năm 2012 lại
một lần nữa khẳng định mối quan hệ ngày
càng khăng khít giữa không gian mạng và
vấn nạn an ninh quốc gia12. Tháng 8/2013, tại
Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòngASEAN mở
rộng (ADMM Plus) lần thứ II, các Bộ trưởng
Quốc phòng các nước thành viên ASEAN và
8 đối tác đối thoại chính thức của ASEAN
thảo luận về vai trò của Bộ Quốc phòng trong
việc giải quyết các vấn đề an ninh phi truyền
8 Ví dụ: ARF Workshop on Operationalising Confidence Building Measures for Cooperation during Cyber-
incident Response, Kuala Lumpur, Malaysia, 2–3 March 2016; ARF Seminar on Operationalizing Cyber
CBMs in the ARF, Singapore, 21–22 October 2015; ARF Workshop on Cyber Security Capacity Building,
Beijing, PRC, 29–30 July 2015; ARF Workshop on Cyber Confidence Building Measures, Kuala Lumpur,
Malaysia, 25–26 March 2014. See also, Co-Chairs’ Summary Report of the Thirteenth ASEAN Regional
Forum Inter-Sessional Meeting on Counter-Terrorism and Transnational Crime, Nanning, PRC, 14–15 May
2015, section 5.1.3.
9 ASEAN, Statement On Cooperation In Fighting Cyber Attack And Terrorist Misuse Of Cyber Space https://
10 Tlđd.
11
Hanoi Plan of Action to Implement the ASEAN Regional Forum Vision Statement, adopted at the 17th
uploads/2019/01/Hanoi-Plan-of-Action-to-Implement-ARF-Vision-Statement-2010.pdf, truy cập ngày
02/9/2021.
12 ARF Statement on Cooperation in Ensuring Cyber Security, lời mở đầu đoạn 9 (nhấn mạnh “nhu cầu đối
thoại hơn nữa về việc phát triển các biện pháp xây dựng lòng tin và minh bạch khác để giảm nguy cơ nhận
thức sai, leo thang và xung đột”).
20
Số 18(442) - T9/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
thống, trong đó bao gồm cả vấn đề về an
ninh mạng13. Tháng 10/2020, Hội nghị Bộ
trưởng ASEAN về An ninh mạng lần thứ 5
(AMCC-5) đã thông qua Tuyên bố Chủ tịch
AMCC 2020, đồng thời hướng tới xây dựng
bộ quy tắc, tiêu chuẩn chung của khu vực14.
Gần đây nhất, tháng 08/2021, trong khuôn
khổ Chương trình nghị sự, Đại hội đồng liên
nghị viện Hiệp hội các quốc gia Đông Nam
Á lần thứ 42 (AIPA-42) đã thông qua Nghị
quyết tăng cường an ninh mạng và bảo vệ
dữ liệu hướng tới một không gian mạng tự
cường trongASEAN, và Nghị quyết thúc đẩy
an ninh con người trong lĩnh vực kỹ thuật số
bao trùm cho ASEAN15.
thông qua năm 2012 nhằm tăng cường bảo
vệ an ninh mạng bằng việc nâng cao năng
lực các đội ứng cứu khẩn cấp sự cố máy tính
quốc gia. Cụ thể, qua hoạt động Diễn tập
ứng cứu sự cố an ninh mạng (ASEAN CERT
Incident Drills -ACID) để nâng cao khả năng
“điều tra và phối hợp xử lý sự cố giữa các đội
ứng cứu khẩn cấp sự cố máy tính của những
quốc gia thành viên ASEAN với các đội đến
từ những khu vực khác trên thế giới”17.
Mặc dù vậy, những nỗ lực nhằm thiết lập
khuôn khổ khu vực toàn diện dựa trên các
chương trình an ninh mạng cấp quốc gia vẫn
tồn tại từng phần riêng và rời rạc cho thấy sự
đoàn kết ở cấp khu vực vẫn còn hạn chế18.
Mặc dù Hiệp định khung e-ASEAN năm
2000 chưa có hiệu lực pháp lý19 nhưng phần
lớn các quốc gia thành viên ASEAN đã ban
hành quy định về giao dịch điện tử và tội
phạm mạng, đặc biệt trong các quy định liên
quan đến phòng, chống và tội phạm hoá hành
vi xâm nhập, chặn kết nối, chỉnh sửa và sử
dụng trái phép dữ liệu và dịch vụ máy tính20.
Quốc gia đầu tiên ban hành luật về không
gian mạng là Singapore với Luật lạm dụng
máy tính và an ninh mạng năm 1993. Văn
bản này chính là hình mẫu cho ra đời Luật
Tội phạm trên mạng của Malaysia và Luật
Lạm dụng máy tính năm 2000 của Brunei.
Năm 2000, Philippines đưa ra những quy định
2. Pháp luật và chính sáchAn ninh mạng ở
các quốc gia thành viên ASEAN
Theo Tuyên bố Singapore năm 2003, các
đội ứng cứu khẩn cấp sự cố máy tính của các
quốc gia thành viên ASEAN lần lượt được
thành lập, bắt đầu từ năm 2005 và kết thúc
vào tháng 02/2012 là Đội ứng cứu khẩn cấp
sự cố máy tính quốc gia Lào. Cũng trong
năm 2012, Cộng đồng ASEAN đối với
an ninh mạng (ASEAN Network Security
Action Council) ra đời nhằm thúc đẩy hợp
tác giữa các đội ứng cứu khẩn cấp sự cố máy
tính quốc gia và xúc tiến hoạt động chia sẻ
kiến thức chuyên môn qua những cuộc họp
thường niên16. Tuyên bố Mactan Cebu được
13
ASEAN Secretariat, ASEAN Defence Ministers and their Plus Counterparts Reaffirm Commitment for
Regional Peace and Security at the 2nd ADMM- Plus, ASEAN Secretariat News, 3 September 2013, http://
asean.org/asean-defence-ministers-and-their-plus-counterparts-reaffirm-commitment-for-regional-peace-
and-security-at-the-2nd-admm-plus/, truy cập ngày 02/09/2021.
14
tintuc/Pages/lists.aspx?Cat=20&ItemID=28915, truy cập ngày 02/09/2021.
15 Tú Giang, Hợp tác an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu trong ASEAN, https://dangcongsan.vn/thoi-su/hop-tac-
an-ninh-mang-va-bao-ve-du-lieu-trong-asean-588950.html, truy cập ngày 02/09/2021.
16 Caitríona H. Heinl, ‘Regional Cyber Security: Moving towards a Resilient ASEAN Cyber Security Regime’
(Working Paper No. 263, S Rajaratnam School of International Studies, 9 September 2013), 29.
17 Mactan Cebu Declaration: ‘Connected ASEAN – Enabling Aspirations’, thông qua vào Cuộc họp lần thứ 12
các Bộ trưởng Thông tin và truyền thông, Mactan Cebu, Philippines, 15–16 November 2012, đoạn 16.
18
Heinl, Caitríona H. Regional Cybersecurity: Moving Toward a Resilient ASEAN Cybersecurity Regime.
19 ASEAN Legal Instruments, http://agreement.asean.org/search.html?q=e-ASEAN, truy cập ngày 04/09/2021.
20 Tlđd, ngày 1/9/2018, Campuchia là quốc gia duy nhất không có luật về không gian mạng.
Số 18(442) - T9/2021
21
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
của pháp luật điều chỉnh hoạt động sử dụng
công nghệ thông tin cho giao dịch thương
mại và phi thương mại21. Những quy định
này có phần toàn diện hơn so với những văn
bản đã ra đời trước đó. Ngay sau đó, Brunei
Darussalam, Myanmar, Indonesia, Thái Lan
và Lào cũng lần lượt ban hành Luật Giao dịch
điện tử22. Điển hình là Luật Giao dịch điện
tử năm 2004 của Myanmar. Theo đó, Luật
quy định việc sử dụng công nghệ thông tin để
thực hiện hành vi “gây thiệt hại cho an ninh
quốc gia; hoặc vi phạm pháp luật; hoặc gây
rối trật tự và an ninh công cộng; hoặc phương
hại đến sự đoàn kết dân tộc, nền kinh tế quốc
tế hoặc bản sắc văn hoá đất nước” là hành vi
cấu thành tội phạm23. Quy định này là phần
mở rộng của pháp luật điều chỉnh không gian
mạng có tính cưỡng chế đang được áp dụng
tại Myanmar24.
thông tin sai sự thật, xuyên tạc chống đối Nhà
nước hay trao thẩm quyền cho các ban ngành
liên quan để có thể giám sát hoạt động diễn ra
trực tuyến25. Campuchia cũng xây dựng dự
thảo luật tội phạm mạng hướng đến mục tiêu
tăng cường khuôn khổ pháp lý và thể chế
trong công tác ứng phó với tất cả các loại tội
phạm có liên quan đến hệ thống máy tính26.
Tuy nhiên, quá trình thông qua dự thảo này
phải tạm hoãn bởi sau khi được công bố vào
tháng 4/2014 đã gặp phải làn sóng phản ứng
của dư luận27.
Như đã đề cập ở trên, khi hoạch định
pháp luật và xây dựng chính sách chống
khủng bố, những yếu tố đặc thù như lịch
sử, tình hình chính trị và áp lực quốc tế sẽ
được ưu tiên xem xét trước những sáng kiến
khu vực. Trong những sáng kiến bảo vệ an
ninh mạng, ASEAN đã khuyến khích các
nước thành viên tự phát triển những công cụ
pháp lý, trước hết để giải quyết vấn đề về an
ninh của mỗi quốc gia, sau đó trở thành một
phần của chương trình an ninh khu vực điều
Năm 2014, Lào ban hành Nghị định số
327 để mở rộng quyền kiểm soát của Chính
phủ trên không gian mạng bằng việc bổ sung
những loại tội phạm mới, như tuyên truyền
21 Act Providing and Use of Electronic Commercial and Non-Commercial Transactions, Penalties for Unlawful
Use Thereof, and Other Purposes 2000 (Philippines).
22 Luật Giao dịch điện tử Brunei năm 2001 (sửa đổi năm 2008); Luật Giao dịch điện tử Thái Lan năm 2001 (sửa
đổi năm 2008); Luật Giao dịch điện tử Myanmar năm 2004; Luật Giao dịch và Thông tin điện tử Indonesia
năm 2008; Luật Giao dịch điện tử CHND Lào năm 2012.
23 Điều 33(a) Luật Giao dịch điện tử Myanmar năm 2004 (Myanmar).
24 Amnesty International, Myanmar: Amnesty International Submission to the UN Universal Periodic Review
(presented at the 10th session of the Universal Periodic Review Working Group, January 2011) 2, http://
lib.ohchr.org/HRBodies/UPR/Documents/Session10/MM/AIAmnestyInternational_eng.pdf, truy cập ngày
04/09/2021
25
Decree No. 327 on Internet-Based Information Control and Management 2014 (Lao PDR) arts. 9 and 19.
For criticisms, see Report of the Working Group on the Universal Periodic Review: Lao People’s Democratic
Republic, UN Doc A/HRC/29/7 (23 March 2015) đoạn 53, 70, 101; Mong Palatino, ‘Laos’ Internet Law
Undermines Free Speech’, The Diplomat, 5 November 2014, http://thediplomat.com/2014/11/laos-internet-
law-undermines-free-speech/, truy cập ngày 04/09/2021
26
Mong Palatino, ‘Cambodia’s “Cyber War” Legislation Targets Online Critics’, The Diplomat, 27 May
ngày 04/09/2021; Joshua Wilwohl and Hul Reaksmey, Cybercrime Law May Silence Critics, NGOs Say,
The Cambodia Daily, 10 April 2014, www.cambodiadaily.com/archives/cybercrime-law-may-silence-critics-
ngos-say-56288/, truy cập ngày 04/09/2021.
27
Chris Mueller and Khuon Narim, Controversial Cybercrime Law “Scrapped”, The Cambodia Daily, 12
ngày 04/09/2021. Sự gia tăng của cuộc tấn công phần mềm độc hại vào hệ thống máy tính đã tạo động lực cho
việc soạn thảo một dự luật mới vào năm 2017,: Chea Vannak, Cybercrime Law on the Way, Khmer Times, 3
22
Số 18(442) - T9/2021
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
chỉnh hoạt động thương mại điện tử cũng như
quy định pháp luật xử lý tội phạm mạng28.
Tuy nhiên, không phải quốc gia thành viên
ASEAN nào cũng có chính sách và chiến
lược an ninh mạng chính thức. Nhận thức và
thiện chí sẵn sàng bảo vệ an ninh mạng khỏi
các mối đe doạ từ bên ngoài của mỗi quốc
gia là khác nhau. Brunei nhận thấy “những
mối đe doạ với hệ thống thông tin có thể được
xếp sau lợi thế cạnh tranh và khả năng rò rỉ
thông tin nội bộ, bí mật nhà nước” vì Brunei
tin tưởng việc mình tập trung phát triển hàng
rào phòng thủ vững chắc cho hệ thống viễn
thông có thể hoạt động hiệu quả dù trong bất
cứ tình huống khẩn cấp nào29. Trong khi đó,
Malaysia và Philippines nhận định, an ninh
mạng cần được quốc gia bảo vệ chặt chẽ trước
mọi nguy cơ đến từ sự cố bất ngờ, tình trạng
gián đoạn, hay tấn công khủng bố, khủng bố
mạng và chiến tranh trên không gian mạng30.
Đối với Thái Lan, trọng tâm của pháp luật và
chính sách an ninh mạng đã chuyển dịch từ
bảo vệ hệ thống thông tin khỏi tội phạm và
khủng bố31 sang hướng bảo vệ an ninh mạng
ở tầm cỡ quốc gia dưới chế độ quân sự, bao
gồm an ninh quân sự, trật tự xã hội và ổn định
kinh tế32. Tại buổi khai mạc Tuần lễ an ninh
mạng quốc tế, diễn ra vào tháng 10/2016,
Singapore đã đề ra Chiến lược an ninh mạng
quốc gia. Chiến lược cho thấy lộ trình toàn
diện thông qua việc bảo đảm các dịch vụ cần
thiết, duy trì mạng lưới Chính phủ an toàn
và thiết lập không gian mạng được bảo vệ an
ninh mạng chuyên nghiệp dựa trên bốn trụ
cột chính: xây dựng một cơ sở hạ tầng có khả
năng phục hồi, tạo ra một không gian mạng
an toàn hơn, phát triển một hệ sinh thái an
ninh mạng sôi động và tăng cường quan hệ
đối tác quốc tế. Cùng lúc đó, Singapore cũng
phối hợp với các nước ASEAN khác xây
dựng lộ trình bảo vệ an ninh mạng khu vực33.
Đây cũng là lần đầu tiên Singapore đưa ra một
chiến lược toàn diện về an ninh mạng. Năm
2020, Singapore đã đưa ra Kế hoạch tổng thể
về không gian mạng an toàn hơn 2020, được
xây dựng dựa trên trụ cột thứ hai của Chiến
lược An ninh mạng Singapore năm 2016 và
vạch ra một kế hoạch hướng tới việc tạo ra
một không gian mạng an toàn hơn và bảo mật
hơn ở Singapore34. Kế hoạch tổng thể này
nhằm mục đích nâng cao mức độ chung về
an ninh mạng ở Singapore, cho người dùng
cá nhân, cộng đồng, doanh nghiệp và tổ chức.
3. Vai trò của ASEAN trong chiến tranh
mạng
Đối với vấn đề hiệp định khu vực về an
ninh mạng, khi có thêm sự tham gia của
những cường quốc trên thế giới thì sẽ có lợi
cho toàn bộ khu vực. Bởi lẽ, ASEAN luôn
đứng ở vị trí trung lập nên ASEAN có thể
dễ dàng làm dịu căng thẳng giữa các thế lực
đang đối chọi gay gắt. Trên thực tế, lợi ích về
mặt chính trị mà các nước thành viênASEAN
28 ASEAN Declaration to Prevent and Combat Cybercrime, được thông qua vào Hội nghị ASEAN lần thứ 31,
Manila, Philippines, 13 November 2017, đoạn 1 (thừa nhận tầm quan trọng của việc hài hòa các luật liên quan
đến tội phạm mạng và bằng chứng điện tử).
29
Defence White Paper 2011: Defending the Nation’s Sovereignty, Expanding Roles in Wider Horizons
(Brunei Darussalam, 2011) 7, 16, 36.
30 Chính sách an ninh mạng quốc gia Malaysia năm 2006; Kế hoạch an ninh mạng quốc gia Philippines năm
2004 1–2.
31 Second Thailand Information and Communication Technology (ICT) Master Plan 2009–2013 (Thailand,
2009) 25.
32 Luật Tội phạm mạng năm 2007 (sửa đổi năm 2017) (Thailand) ss. 12 and 14(2); Dự luật An ninh mạng quốc
gia Thái Lan 2015 ss. 3 and 5.
33 Chiến lược an ninh mạng của Singapore năm 2016, https://www.itu.int/en/ITU-D/Cybersecurity/Documents/
National_Strategies_Repository/singapore_2016_cybersecuritystrategy.pdf, truy cập ngày 04/09/2021.
34
cyberspace-masterplan, truy cập ngày 04/09/2021, tr.6.
Số 18(442) - T9/2021
23
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
đạt được trong các thoả thuận quốc tế về
không gian mạng thường ít hơn so với lợi ích
các nước được nhận từ các vụ kiện mà họ là
nguyên đơn (như vụ tranh chấp biển Đông).
Tuy nhiên, như đã đề cập, do những vấn đề
xuất phát từ nguyên nhân nội tại, các nước
thành viênASEAN chưa sẵn sàng đối mặt với
các mối đe doạ an ninh thách thức đến cộng
đồng đa quốc gia trên không gian mạng.
Vì không có một thoả thuận khu vực cụ
thể, nên bất cứ hành động sử dụng không
gian mạng với mục đích quân sự ở trong nội
bộ ASEAN hay chống lại ASEAN đều được
coi là vi phạm các quy định chung của luật
pháp quốc tế, cụ thể là quy định liên quan
đến trách nhiệm quốc gia, sử dụng vũ lực và
luật nhân đạo quốc tế35. Câu hỏi được đặt ra
là: Khi các quốc gia có đủ khả năng sử dụng
không gian mạng vì mục đích quân sự thì
ASEAN sẽ áp dụng những biện pháp nào để
đảm bảo các nguyên tắc của Cộng đồng vẫn
được tôn trọng và tuân thủ? Do ASEAN có
nguyên tắc tôn trọng chủ quyền của các quốc
gia thành viên được quyết định vận mệnh của
mình mà không có sự can thiệp, lật đổ và áp
đặt từ bên ngoài36 nên với bản chất xâm nhập
và phá huỷ, việc sử dụng không gian mạng có
khả năng sẽ vi phạm nguyên tắc này.
nhân của vụ tấn công lại đưa ra đánh giá sai
lầm về tình hình và có phản ứng gay gắt với
quốc gia bị tình nghi là chủ mưu khiến cho
quan hệ các nước đó leo thang căng thẳng.
Nguy cơ này đã được nêu ra trong Tuyên
bố Hợp tác duy trì an ninh mạng năm 2012
của Diễn đàn khu vựcASEAN. Tuyên bố này
kêu gọi những nước thành viênASEAN nhận
thức tính thiết yếu của “việc xây dựng lòng
tin và sử dụng các phương pháp minh bạch”
trong việc “giảm thiểu nguy cơ nhận thức sai
38
lệch, căng thẳng leo thang và xung đột” .
Tuyên bố cho thấy, nếu các nước ASEAN
gác lại sự khác biệt về lợi ích chính trị, cân
nhắc chiến lược và tính bất định của không
gian mạng, xây dựng lòng tin và sử dụng các
phương pháp minh bạch hiệu quả thì có thể
bảo vệ cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin ở
trong nội bộ các nước thành viên ASEAN.
Vì ASEAN là một tổ chức hợp tác nhằm
thúc đẩy hòa bình và ổn định khu vực, không
phải là tổ chức được thành lập để giải quyết
tranh chấp giữa các quốc gia, xung đột khu
vực với những cường quốc trên thế giới39.
Hãy để ASEAN thực thi thẩm quyền của
mình trong việc phát triển lộ trình pháp lý,
đặc biệt là ở mảng dẫn độ và điều tra tội phạm,
như ASEAN đã từng làm trước đây với tội
phạm khủng bố và tội phạm buôn bán người
trái phép40. Điều này phù hợp với các nguyên
tắc an ninh toàn diện, trách nhiệm tập thể của
ASEAN và hướng tới an ninh khu vực. Khi
thực hiện được như vậy, chắc chắn mang lại
nhiều lợi ích hơn so với việc khuyến khích
các quốc gia đơn phương triển khai phương
Khi cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin
ngày càng phát triển và xã hội kết nối với
nhau qua mạng thường xuyên hơn, ASEAN
và các nước thành viên sẽ nhận thấy mình dễ
dàng trở thành nạn nhân của các vụ tấn công
mạng bí mật37. Trong một số trường hợp, sau
khi những vụ tấn công được điều tra và xem
xét dưới góc nhìn địa chính trị, quốc gia là nạn
án bảo vệ an ninh mạng.
35
Michael N. Schmitt (ed.) Tallinn Manual 2.0 on the International Law Applicable to Cyber Operations
Cambridge: Cambridge University Press, 2017, Chương 4, 14 và 16–20.
36 Charter of theAssociation of SoutheastAsian Nations, adopted 20 November 2007, 2624 UNTS 223 (entered
into force 15 December 2008) Điều 2(f).
37 Về tính hợp pháp của gián điệp mạng, Michael N. Schmitt (ed.) Tallinn Manual 2.0 on the International Law
Applicable to Cyber Operations Cambridge: Cambridge University Press, 2017, tr.168–74.
38 ARF Tuyên bố về hợp tác đảm bảo an ninh mạng, Lời nói đầu đoạn 9.
39
Hitoshi Nasu, Rob McLaughlin, Donald R. Rothwell, See Seng Tan, The Legal Authority of ASEAN as a
Security Institution, Introduction, tr.1 -13.
40 Tlđd, Chương 3.2 và Chương 6.2.
24
Số 18(442) - T9/2021
Bạn đang xem tài liệu "Asean và vấn đề an ninh mạng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
asean_va_van_de_an_ninh_mang.pdf

