Một số vướng mắc về xác định tuổi của bị can, bị cáo, bị hại trong giải quyết vụ án hình sự

Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 11 - 2021  
MỘT SỐ VƯỚNG MẮC VỀ XÁC ĐỊNH TUỔI CỦA BỊ CAN,  
BỊ CÁO, BỊ HẠI TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÌNH SỰ  
Võ Hồng Lĩnh*  
Bộ môn Luật, Trường Đại học Tây Đô  
(Email: [email protected])  
Ngày nhận: 17/11/2020  
Ngày phản biện: 11/12/2020  
Ngày duyệt đăng: 22/01/2021  
TÓM TẮT  
Việc xác định tuổi của bị can, bị cáo, bị hại trong giải quyết vụ án hình sự có ý nghĩa rất  
quan trọng. Xác định chính xác độ tuổi của người bị buộc tội, bị hại là cơ sở để cơ quan có  
thẩm quyền tiến hành tố tụng xác định việc có truy cứu trách nhiệm hình sự hay không.  
Trong một số trường hợp là căn cứ để định tội, định khung hình phạt. Hiện nay, Bộ luật Tố  
tụng hình sự năm 2015 và văn bản hướng dẫn đã có quy định khá cụ thể về cách xác định  
tuổi đối với bị can, bị cáo, người bị hại dưới 18 tuổi. Tuy nhiên, khi áp dụng các quy định  
này trên thực tế thì đã bộc lộ một số bất cập nhất định như trường hợp khai sinh quá hạn,  
trường hợp như thế nào là có sự nghi ngờ về tính xác thực của những tài liệu chứng minh  
về độ tuổi mà bắt buộc phải trưng cầu giám định theo quy định tại khoản 2, Điều 206 Bộ  
luật Tố tụng hình sự năm 2015. Do đó, cần có những sửa đổi, hướng dẫn để góp phần hoàn  
thiện quy định của pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng quy định này trên thực  
tế.  
Từ khóa: Người dưới 18 tuổi, người bị buộc tội, tuổi của bị can, xác định tuổi  
Trích dẫn: Võ Hồng Lĩnh, 2021. Một số vướng mắc về xác định tuổi của bị can, bị cáo, bị  
hại trong giải quyết vụ án hình sự. Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển  
kinh tế Trường Đại học Tây Đô. 11: 108-116.  
*Ths. Võ Hồng Lĩnh – Giảng viên Bộ môn Luật, Trường Đại học Tây Đô  
108  
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 11 - 2021  
16 tuổi thuộc trường hợp đối với người  
dưới 10 tuổi3....  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Xác định độ tuổi của người bị buộc  
tội trong vụ án hình sự là một yêu cầu  
+ Làm cơ sở để xác định tình tiết tăng  
bắt buộc của các cơ quan tiến hành tố nặng trách nhiệm hình sự, ví dụ như:  
tụng. Ý nghĩa của việc xác định độ tuổi phạm tội với người dưới 16 tuổi, phụ nữ  
của người bị buộc tội, bị hại có ý nghĩa có thai hoặc người đủ 70 tuổi trở lên; xúi  
quan trọng trong quá trình xử lí, giải giục người dưới 18 tuổi phạm tội4.  
quyết các vụ án hình sự, là cơ sở pháp lý  
để các cơ quan có thẩm quyền tiến hành  
tố tụng xác định việc có hay không truy  
cứu trách nhiệm hình sự đối với một  
người trong một số trường hợp theo luật  
định Điển hình như:  
Việc xác định tuổi của người bị buộc  
tội cũng như bị hại (người tham gia tố  
tụng) đối với trường hợp chưa đủ 18 tuổi  
là yêu cầu có tính bắt buộc đối với các  
cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố  
tụng. Để xác định chính xác về tuổi của  
+ Làm cơ sở để xác định tuổi chịu họ thì hồ sơ vụ án phải có tài liệu, chứng  
trách nhiệm hình sự: Người từ đủ 16 tuổi cứ chứng minh về tuổi như: giấy khai  
trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về sinh (hoặc giấy ghi chép ngày tháng,  
mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ năm sinh đối với trường hợp không sinh  
luật Hình sự có quy định khác. Người từ tại cơ sở y tế), sổ hộ khẩu gia đình, học  
đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu bạ, giấy chứng minh nhân dân, thẻ căn  
trách nhiệm hình sự về tội phạm rất cước công dân. Nếu thiếu cơ sở chứng  
nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm minh này, hồ sơ vụ án coi như bị thiếu  
trọng theo quy định1.  
chứng cứ quan trọng và không thể kết  
thúc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành  
án được.  
+ Làm cơ sở để định tội, ví dụ như:  
Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi; Tội  
giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ  
Tuy nhiên, trong một số trường hợp  
tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi không xác định được ngày, tháng, năm  
đến dưới 16 tuổi; Tội dâm ô đối với sinh của người bị buộc tội, bị hại, hoặc  
người dưới 16 tuổi2…  
tài liệu dùng làm căn cứ để xác định  
ngày, tháng, năm sinh không có cơ sở  
vững chắc do không đảm bảo tính hợp  
pháp, nhất là đối với người dưới 18 tuổi.  
+ Làm cơ sở để xác định khung hình  
phạt, ví dụ như: tội hiếp dâm người dưới  
1 Xem Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, 3 Điểm c khoản 3 Điều 142 Bộ luật Hình sự năm  
bổ sung năm 2017.  
2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.  
2 Các Điều 142, Điều 145 và Điều 146 Bộ luật  
Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.  
4 Điểm i, o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm  
2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.  
109  
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 11 - 2021  
Vì vậy, cần có những quy định của  
pháp luật để giải quyết vấn đề này.  
Đối tượng và phương pháp nghiên  
cứu:  
Hiện nay, việc xác định tuổi của  
+ Đối tượng nghiên cứu: là những  
người bị buộc tội, bị hại vẫn được xác quy định của pháp luật hiện hành về xác  
định theo quy định tại Điều 417 Bộ luật định tuổi của người bị buộc tội, bị hại.  
Tố tụng Hình sự và Thông tư liên tịch số Nghiên cứu những chế định pháp luật và  
06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-  
thực tiễn áp dụng qua các báo cáo, Bản  
BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21/12/2018 án công bố trên cổng thông tin điện tử  
của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa Tòa án.  
án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư  
pháp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã  
+ Phương pháp nghiên cứu: phân tích  
luật viết; phương pháp tổng hợp, thống  
hội quy định về phối hợp một số quy  
kê, so sánh thông qua các bài viết, một  
định của Bộ luật Tố tụng Hình sự về thủ  
số sách, các công trình nghiên cứu có giá  
tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi  
trị và pháp lý chuyên ngành, các bản án  
đã có hiệu lực pháp luật có ý nghĩa hỗ  
(Thông tư liên tịch số 06/2018).  
Tuy nhiên, trên thực tế phát sinh trợ hiệu quả cho việc nghiên cứu.  
nhiều trường hợp dẫn đến Cơ quan tiến  
hành tố tụng phải ra Quyết định trưng  
2. NỘI DUNG VẤN ĐỀ  
2.1. Các khái niệm có liên quan  
cầu giám định tuổi của những đối tượng  
trên. Vấn đề đặt ra là giám định trong  
trường hợp nào? Không phải mọi trường  
hợp đều phải giám định tuổi, vì đây là  
biện pháp cuối cùng khi không còn biện  
pháp nào khác để thu thập chứng cứ để  
xác định tuổi của người bị buộc tội, bị  
hại dưới 18 tuổi khi tham gia tố tụng.  
Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố  
tụng: gồm cơ quan tiến hành tố tụng và  
cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành  
một số hoạt động điều tra5.  
Người tham gia tố tụng: là cá nhân,  
cơ quan, tổ chức tham gia hoạt động tố  
tụng theo quy định của Bộ luật này6.  
Nhận thấy còn nhiều bất cập, khó  
khăn và vướng mắc, nên việc nghiên cứu  
những hạn chế, vướng mắc của quy định  
pháp luật và thực tiễn, sẽ góp phần nâng  
Người bị buộc tội: gồm người bị bắt,  
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo7.  
Bị can: Bị can là người hoặc pháp  
cao hiệu quả quy định này trong việc xác nhân bị khởi tố về hình sự. Quyền và  
định tuổi của người tham gia tố tụng  
trong vụ án hình sự, góp phần giải quyết  
vụ án hình sự một cách khách quan và  
toàn diện.  
5 Điểm a khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng Hình sự  
năm 2015.  
6, 7 Điểm c, đ khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng  
Hình sự năm 2015.  
110  
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 11 - 2021  
nghĩa vụ của bị can là pháp nhân được 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290,  
thực hiện thông qua người đại diện theo 299, 303 và 304 của Bộ luật Hình sự.  
pháp luật của pháp nhân theo quy định  
Tuổi chịu trách nhiệm hình sự: Đây là  
mặt chủ thể của một trong những yếu tố  
của Bộ luật này8.  
Bị cáo: Bị cáo là người hoặc pháp cấu thành tội phạm. Tuổi chịu trách  
nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét nhiệm hình sự là một điều kiện của chủ  
xử. Quyền và nghĩa vụ của bị cáo là thể của tội phạm11. Mặt khác, đây còn là  
pháp nhân được thực hiện thông qua dấu hiệu đặc biệt của thể phải chịu trách  
người đại diện theo pháp luật của pháp nhiệm hình sự, như: người đủ 18 tuổi trở  
nhân theo quy định của Bộ luật này9.  
lên, mới phải chịu trách nhiệm hình sự  
đối với tội giao cấu hoặc thực hiện hành  
vi quan hệ tình dục khác đối với người  
từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi.  
Bị hại: Bị hại là cá nhân trực tiếp bị  
thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản  
hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về  
tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc  
đe dọa gây ra10.  
2.2. Quy định của pháp luật về xác  
định tuổi  
Tuổi chịu trách nhiệm hình sự là độ  
Điều 417 Bộ luật Tố tụng Hình sự  
tuổi được luật hình sự quy định là điều năm 2015 quy định về xác định tuổi của  
kiện để một người phải chịu trách nhiệm người bị buộc tội, người bị hại là người  
hình sự về hành vi đã thực hiện của dưới 18 tuổi như sau:  
mình. Theo quy định tại Điều 12 Bộ luật  
hình sự 2015 về tuổi chịu trách nhiệm  
hình sự Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải  
chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội  
phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật  
này có quy định khác. Người từ đủ 14  
“1. Việc xác định tuổi của người bị  
buộc tội, người bị hại là người dưới 18  
tuổi do cơ quan có thẩm quyền tiến hành  
tố tụng thực hiện theo quy định của pháp  
luật.  
2. Trường hợp đã áp dụng các biện  
pháp hợp pháp mà vẫn không xác định  
được chính xác thì ngày, tháng, năm  
sinh của họ được xác định:  
tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách  
nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm  
trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng  
quy định tại một trong các Điều 123,  
134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168,  
169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250,  
a) Trường hợp xác định được tháng  
nhưng không xác định được ngày thì lấy  
ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày  
sinh.  
8
,
9, 10 Điều 60, 61, 62 Bộ luật Tố tụng Hình sự  
năm 2015.  
11 Trường Đại học Luật Hà Nội: Giáo trình Luật  
Hình sự Việt Nam – Phần chung, Nhà xuất bản  
Công an nhân dân, năm 2016, trang 140.  
111  
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 11 - 2021  
b) Trường hợp xác định được quý liệu này thì cơ quan có thẩm quyền tiến  
nhưng không xác định được ngày, tháng hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến  
thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối hành tố tụng phải phối hợp với gia đình,  
cùng trong quý đó làm ngày, tháng sinh. người đại diện, người thân thích, nhà  
trường, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ  
Chí Minh hoặc tổ chức, cá nhân khác có  
liên quan nơi người dưới 18 tuổi học  
tập, lao động, sinh hoạt trong việc hỏi,  
lấy lời khai, xác minh làm rõ mâu thuẫn  
hoặc tìm các giấy tờ, tài liệu khác có giá  
c) Trường hợp xác định được nửa của  
năm nhưng không xác định được ngày,  
tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng  
cuối cùng trong nửa năm đó làm ngày,  
tháng sinh.  
d) Trường hợp xác định được năm  
nhưng không xác định được ngày, tháng  
thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối  
cùng trong năm đó làm ngày, tháng  
sinh.  
trị chứng minh về tuổi của người đó.  
Trường hợp đã áp dụng các biện  
pháp hợp pháp nhưng chỉ xác định được  
khoảng thời gian tháng, quý, nửa đầu  
hoặc nửa cuối của năm hoặc năm sinh  
thì tùy từng trường hợp cụ thể cần căn  
cứ khoản 2 Điều 417 Bộ luật Tố tụng  
hình sự để xác định tuổi của họ.  
3. Trường hợp không xác định được  
năm sinh thì phải tiến hành giám định để  
xác định tuổi”.  
Điều 6 Thông tư liên tịch số 06/2018  
quy định phối hợp trong việc xác định  
tuổi của người bị buộc tội, người bị hại  
dưới 18 tuổi như sau:  
3. Trường hợp kết quả giám định tuổi  
chỉ xác định được khoảng độ tuổi của  
người bị buộc tội, người bị hại thì cơ  
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng,  
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng  
lấy tuổi thấp nhất trong khoảng độ tuổi  
đã xác định được để xác định tuổi của  
họ.  
“1. Việc xác định tuổi của người bị  
buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi căn  
cứ vào một trong các giấy tờ, tài liệu  
sau:  
Ví dụ: Kết luận giám định A có độ  
tuổi trong khoảng từ 13 tuổi 6 tháng đến  
14 tuổi 2 tháng thì xác định tuổi của A là  
13 tuổi 6 tháng”.  
a) Giấy chứng sinh;  
b) Giấy khai sinh;  
c) Chứng minh nhân dân;  
d) Thẻ căn cước công dân;  
đ) Sổ hộ khẩu;  
Đây là những hướng dẫn theo hướng  
có lợi cho người bị buộc tội, thể hiện  
tính nhân đạo một cách sâu sắc của Luật  
Hình sự Việt Nam cần được xem xét lại  
vì cách tính tuổi này không hoàn toàn có  
lợi vì khi tuổi bị hại nhỏ, bất lợi – thể  
hiện sự công bằng chứ không luôn có lợi  
e) Hộ chiếu.  
2. Trường hợp các giấy tờ, tài liệu  
nêu tại khoản 1 Điều này có mâu thuẫn,  
không rõ ràng hoặc không có giấy tờ, tài  
112  
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 11 - 2021  
cho người bị buộc tội. Ngoài ra, Thông  
Tuy nhiên, đối với trường hợp không  
tư liên tịch số 06/2018 cũng không loại có giấy chứng sinh, có giấy khai sinh  
trừ trường hợp không biết bị cáo sinh nhưng đăng kí khai sinh quá hạn và  
vào ngày tháng năm nào, nếu trường hợp không trích lục được hồ sơ lưu trữ giấy  
này xảy ra thì các cơ quan có thẩm chứng sinh, thì có được xem là tài liệu  
quyền tiến hành tố tụng buộc phải trưng hợp pháp không? Hay phải xác minh lời  
cầu giám định để xác định năm sinh cho khai của những người biết việc để sử  
người bị buộc tội, bị hại theo nguyên tắc dụng làm căn cứ xác định tuổi?  
có lợi cho người bị buộc tội. Bởi lí do  
không làm xấu đi tình trạng của người bị  
Theo quy định tại khoản 2 Điều 206  
Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định các  
buộc tội, vì lấy theo nguyên tắc bất lợi  
trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám  
thì hậu quả cũng đã xảy ra, không thể  
định: “Tuổi của bị can, bị cáo, bị hại  
nếu việc đó có ý nghĩa đối với việc giải  
quay trở lại như tình trạng ban đầu.  
quyết vụ án và không có tài liệu để xác  
định chính xác tuổi của họ hoặc có nghi  
ngờ về tính xác thực của những tài liệu  
đó”.  
2.3. Một số khó khăn, vướng mắc  
2.3.1. Về pháp lí  
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 6 về  
việc phối hợp trong việc xác định tuổi  
của người bị buộc tội, người bị hại dưới  
18 tuổi như sau: “Việc xác định tuổi của  
người bị buộc tội, người bị hại dưới 18  
tuổi căn cứ vào một trong các giấy tờ,  
tài liệu sau: Giấy chứng sinh; Giấy khai  
sinh; Chứng minh nhân dân; Thẻ căn  
cước công dân; Sổ hộ khẩu; Hộ chiếu”.  
Như thế nào được xem là nghi ngờ về  
những tài liệu để xác định tuổi của bị  
can, bị cáo, bị hại. Pháp luật quy định  
còn bỏ ngõ, mang tính chung chung,  
chưa cụ thể, rõ ràng. Nếu giấy khai sinh  
quá hạn thì có được xem là nghi ngờ về  
tính xác thực của giấy khai sinh không?  
Trong trường hợp giấy khai sinh quá  
hạn thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành  
tố tụng phải làm rõ lời khai nguyên nhân  
dẫn đến khai sinh quá hạn. Vậy lời khai  
của những người biết về sự kiện ngày,  
tháng, năm sinh của người bị buộc tội, bị  
hại có được xem là thuộc trường hợp  
nghi ngờ về tính xác thực hay không?  
Theo quy định thì: “Trong thời hạn  
60 ngày kể từ ngày sinh con, cha hoặc  
mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho  
con; trường hợp cha, mẹ không thể đăng  
ký khai sinh cho con thì ông hoặc bà  
hoặc người thân thích khác hoặc cá  
nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ em  
có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ  
em”12.  
Với quy định này phát sinh nhiều  
vướng mắc như: cần làm rõ nguồn giấy  
khai sinh để làm chứng cứ theo độ tuổi  
ghi trong giấy khai sinh.  
12 Khoản 1 Điều 15 Luật Hộ tịch năm 2014.  
113  
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 11 - 2021  
Giả sử trường hợp không có giấy  
Cần sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều  
chứng sinh thì có bắt buộc phải trưng 206 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015  
cầu giám định độ tuổi hay không?  
2.3.2. Về mặt thực tiễn  
theo hướng: “Không có giấy chứng sinh  
để làm giấy tờ, tài liệu xác định tuổi của  
bị can, bị cáo, bị hại thì phải trưng cầu  
giám định tuổi trong mọi trường hợp”.  
- Theo quy định tại Khoản 3 Điều 6  
thì người có thẩm quyền tiến hành tố  
tụng lấy tuổi thấp nhất trong khoảng độ  
tuổi đã xác định được để xác định tuổi  
của họ. Tuy nhiên, đối với trường hợp  
xảy ra sự việc chỉ xác định được khoảng  
“tháng” không xác định được ngày xảy  
ra sự việc, thì xác định mốc thời gian  
xảy ra sự việc lấy đầu tháng, giữa tháng  
hay cuối tháng để làm căn cứ trưng cầu  
giám định tuổi của người bị buộc tội, bị  
hại vào thời điểm xảy ra sự việc?  
Về mặt kĩ thuật lập pháp, tên gọi của  
Điều 417 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm  
2015 cần phải sửa lại cụm từ “người bị  
hại” thành “bị hại” cho phù hợp và  
thống nhất theo quy định hiện nay. Mặc  
dù bị hại dưới 18 tuổi là cá nhân, nhưng  
quy định chung hiện nay không còn gọi  
là người bị hại.  
3.4.2. Giải pháp về thực tiễn  
Liên ngành Trung ương sớm ban  
Ví dụ: đối với vụ án “giao cấu với hành văn bản hướng dẫn trường hợp xác  
người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” do định sự kiện pháp lí xảy ra để xác định  
thuộc trường hợp phải giám định tuổi, độ tuổi của bị can, bị cáo, bị hại theo  
nhưng cả người bị buộc tội và bị hại hướng: “Trong trường hợp không xác  
không xác định được cụ thể “ngày” thực định được thời gian cụ thể vào ngày nào  
hiện hành vi giao cấu với bị hại, mà chỉ xảy ra hành vi phạm tội mà chỉ xác định  
nhớ “tháng” (hoặc khoảng tháng), thì được tháng hoặc năm thì lấy ngày cuối  
khi ra quyết định trưng cầu giám định cùng của tháng đó hoặc ngày tháng cuối  
tuổi, lấy mốc thời gian đầu tháng, giữa cùng của năm đó để làm mốc thời gian  
tháng hay cuối tháng của thời gian xảy xảy ra sự việc phạm tội làm căn cứ  
ra vụ việc đối tượng giao cấu với bị hại trưng cầu giám định độ tuổi của người  
để làm căn cứ tính tuổi của bị hại?  
bị buộc tội, bị hại”. Để áp dụng thống  
nhất trong toàn quốc, tránh tình trạng  
mỗi địa phương áp dụng giải quyết mỗi  
cách khác nhau.  
- Hiện nay, còn nhiều trẻ em sinh ra  
chưa được đăng kí khai sinh đúng hạn,  
dẫn đến khó khăn trong công tác xác  
định tuổi khi tham gia tố tụng đối với  
trường hợp dưới 18 tuổi.  
Tăng cường công tác đào tạo, tập  
huấn chuyên sâu đối với trường hợp xác  
định độ của người bị buộc tội, bị hại khi  
không xác định được sự kiện pháp lí xảy  
ra, để góp phần giải quyết vụ án một  
2.4. Giải pháp  
2.4.1. Giải pháp về pháp luật  
114  
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 11 - 2021  
đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm  
và làm oan người vô tội.  
2. Quốc hội, 2015. Bộ luật Tố tụng  
Hình sự năm 2015 ngày 27/11/2015, có  
hiệu lực ngày 01/01/2018.  
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo  
dục để người dân hiểu rõ về tầm quan  
3. Quốc Hội, 2014. Luật Hộ tịch năm  
trọng của việc đăng kí khai sinh đúng 2014 ngày 20/11/2014, có hiệu lực ngày  
hạn, tạo tiền đề thuận lợi cho việc xác 01/01/2016.  
định tuổi của người dưới 18 tuổi khi  
tham gia vào sự kiện pháp lí.  
4. Viện Kiểm sát nhân dân tối cao,  
Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an,  
Bộ Tư pháp, Bộ Lao động - Thương  
binh và Xã hội, 2018. Thông tư liên tịch  
số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-  
3. KẾT LUẬN  
Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và  
Thông tư liên tịch số 06/2018 đã quy  
định về cách xác định tuổi của người bị  
buộc tội, bị hại chưa đủ 18 tuổi trong  
từng trường hợp. Tuy nhiên, qua áp  
dụng thực tiễn còn bộc lộ một số khó  
khăn, vướng mắc về cách thức xác định  
độ tuổi của bị can, bị cáo và bị hại chưa  
đủ 18 tuổi trong một số trường hợp cụ  
thể. Nhằm góp phần giải quyết các bất  
cập hiện tại, cần sửa đổi, bổ sung về  
TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày  
21/12/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân  
tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ  
Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động -  
Thương binh và Xã hội quy định về phối  
hợp một số quy định của Bộ luật Tố tụng  
Hình sự về thủ tục tố tụng đối với người  
dưới 18 tuổi.  
5. Trường Đại học Luật Hà Nội,  
pháp luật và thực hiện đồng bộ, thống (2016), Giáo trình Luật Hình sự Việt  
nhất các giải pháp thực tiễn, để công tác Nam – Phần chung, Nhà xuất bản Công  
giải quyết vụ án hình sự có người tham an nhân dân, năm 2016.  
gia tố tụng là người dưới 18 tuổi một  
6. Trang thông tin điện tử: Kết quả  
cách khách quan và toàn diện, có giải  
điều tra dân số và nhà ở năm 2019:  
pháp tương ứng với những nguyên nhân  
%BA%BFt-qu%E1%BA%A3-  
t%E1%BB%95ng-  
phát sinh khó khăn, vướng mắc về pháp  
luật và thực tiễn.  
%C4%91i%E1%BB%81u-tra-  
d%C3%A2n-s%E1%BB%91-  
v%C3%A0-nh%C3%A0-  
%E1%BB%9F-n%C4%83m-2019 [truy  
cập ngày 27/6/2020].  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Quốc hội, Bộ luật Hình sự năm  
2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, có  
hiệu lực ngày 01/01/2018.  
115  
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô  
Số 11 - 2021  
SOME ENTANGLEMENTS IN DETERMINING  
THE AGE OF SUSPECTS, DEFENDANTS AND VICTIMS  
IN RESOLVING CRIMINAL CASES  
Vo Hong Linh  
Department of Laws, Tay Do University  
(Email: [email protected])  
ABSTRACT  
The determination of the age of suspects, defendants and victims in resolving criminal  
cases is of great importance. Determining the exact age of the accused or the victim is the  
foundation for the competent authority instituting the proceedings to determine whether or  
not to prosecute the penal liability. In some cases, that is the grounds for impeachment and  
penalty. Currently, the 2015 Criminal Procedure Code and its guiding documents have the  
quite specific regulations on how to determine the age for suspects, defendants and victims  
under 18 years of age. However, when these regulations have been applied in practice, a  
number of shortcomings have arisen, such as the case of determining the age at the time of  
the overdue registration of birth, in case of doubt about the authenticity of the documents  
proving the age that are required to solicit the expertise according to the provisions of  
Clause 2 of Article 206 of the 2015 Criminal Procedure Code. Therefore, it is necessary to  
amend and guide to contribute to perfecting the regulations of the law as well as enhancing  
the effectiveness for application in practice.  
Keywords: Age of suspects, accused, determining the age, people under 18 years old  
116  
pdf 9 trang Thùy Anh 11620 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số vướng mắc về xác định tuổi của bị can, bị cáo, bị hại trong giải quyết vụ án hình sự", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_vuong_mac_ve_xac_dinh_tuoi_cua_bi_can_bi_cao_bi_hai_t.pdf