Một số vướng mắc về xác định tuổi của bị can, bị cáo, bị hại trong giải quyết vụ án hình sự
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô
Số 11 - 2021
MỘT SỐ VƯỚNG MẮC VỀ XÁC ĐỊNH TUỔI CỦA BỊ CAN,
BỊ CÁO, BỊ HẠI TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÌNH SỰ
Võ Hồng Lĩnh*
Bộ môn Luật, Trường Đại học Tây Đô
(Email: [email protected])
Ngày nhận: 17/11/2020
Ngày phản biện: 11/12/2020
Ngày duyệt đăng: 22/01/2021
TÓM TẮT
Việc xác định tuổi của bị can, bị cáo, bị hại trong giải quyết vụ án hình sự có ý nghĩa rất
quan trọng. Xác định chính xác độ tuổi của người bị buộc tội, bị hại là cơ sở để cơ quan có
thẩm quyền tiến hành tố tụng xác định việc có truy cứu trách nhiệm hình sự hay không.
Trong một số trường hợp là căn cứ để định tội, định khung hình phạt. Hiện nay, Bộ luật Tố
tụng hình sự năm 2015 và văn bản hướng dẫn đã có quy định khá cụ thể về cách xác định
tuổi đối với bị can, bị cáo, người bị hại dưới 18 tuổi. Tuy nhiên, khi áp dụng các quy định
này trên thực tế thì đã bộc lộ một số bất cập nhất định như trường hợp khai sinh quá hạn,
trường hợp như thế nào là có sự nghi ngờ về tính xác thực của những tài liệu chứng minh
về độ tuổi mà bắt buộc phải trưng cầu giám định theo quy định tại khoản 2, Điều 206 Bộ
luật Tố tụng hình sự năm 2015. Do đó, cần có những sửa đổi, hướng dẫn để góp phần hoàn
thiện quy định của pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng quy định này trên thực
tế.
Từ khóa: Người dưới 18 tuổi, người bị buộc tội, tuổi của bị can, xác định tuổi
Trích dẫn: Võ Hồng Lĩnh, 2021. Một số vướng mắc về xác định tuổi của bị can, bị cáo, bị
hại trong giải quyết vụ án hình sự. Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển
kinh tế Trường Đại học Tây Đô. 11: 108-116.
*Ths. Võ Hồng Lĩnh – Giảng viên Bộ môn Luật, Trường Đại học Tây Đô
108
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô
Số 11 - 2021
16 tuổi thuộc trường hợp đối với người
dưới 10 tuổi3....
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Xác định độ tuổi của người bị buộc
tội trong vụ án hình sự là một yêu cầu
+ Làm cơ sở để xác định tình tiết tăng
bắt buộc của các cơ quan tiến hành tố nặng trách nhiệm hình sự, ví dụ như:
tụng. Ý nghĩa của việc xác định độ tuổi phạm tội với người dưới 16 tuổi, phụ nữ
của người bị buộc tội, bị hại có ý nghĩa có thai hoặc người đủ 70 tuổi trở lên; xúi
quan trọng trong quá trình xử lí, giải giục người dưới 18 tuổi phạm tội4.
quyết các vụ án hình sự, là cơ sở pháp lý
để các cơ quan có thẩm quyền tiến hành
tố tụng xác định việc có hay không truy
cứu trách nhiệm hình sự đối với một
người trong một số trường hợp theo luật
định Điển hình như:
Việc xác định tuổi của người bị buộc
tội cũng như bị hại (người tham gia tố
tụng) đối với trường hợp chưa đủ 18 tuổi
là yêu cầu có tính bắt buộc đối với các
cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố
tụng. Để xác định chính xác về tuổi của
+ Làm cơ sở để xác định tuổi chịu họ thì hồ sơ vụ án phải có tài liệu, chứng
trách nhiệm hình sự: Người từ đủ 16 tuổi cứ chứng minh về tuổi như: giấy khai
trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về sinh (hoặc giấy ghi chép ngày tháng,
mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ năm sinh đối với trường hợp không sinh
luật Hình sự có quy định khác. Người từ tại cơ sở y tế), sổ hộ khẩu gia đình, học
đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu bạ, giấy chứng minh nhân dân, thẻ căn
trách nhiệm hình sự về tội phạm rất cước công dân. Nếu thiếu cơ sở chứng
nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm minh này, hồ sơ vụ án coi như bị thiếu
trọng theo quy định1.
chứng cứ quan trọng và không thể kết
thúc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành
án được.
+ Làm cơ sở để định tội, ví dụ như:
Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi; Tội
giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ
Tuy nhiên, trong một số trường hợp
tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi không xác định được ngày, tháng, năm
đến dưới 16 tuổi; Tội dâm ô đối với sinh của người bị buộc tội, bị hại, hoặc
người dưới 16 tuổi2…
tài liệu dùng làm căn cứ để xác định
ngày, tháng, năm sinh không có cơ sở
vững chắc do không đảm bảo tính hợp
pháp, nhất là đối với người dưới 18 tuổi.
+ Làm cơ sở để xác định khung hình
phạt, ví dụ như: tội hiếp dâm người dưới
1 Xem Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, 3 Điểm c khoản 3 Điều 142 Bộ luật Hình sự năm
bổ sung năm 2017.
2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
2 Các Điều 142, Điều 145 và Điều 146 Bộ luật
Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
4 Điểm i, o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm
2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
109
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô
Số 11 - 2021
Vì vậy, cần có những quy định của
Đối tượng và phương pháp nghiên
cứu:
Hiện nay, việc xác định tuổi của
+ Đối tượng nghiên cứu: là những
người bị buộc tội, bị hại vẫn được xác quy định của pháp luật hiện hành về xác
định theo quy định tại Điều 417 Bộ luật định tuổi của người bị buộc tội, bị hại.
Tố tụng Hình sự và Thông tư liên tịch số Nghiên cứu những chế định pháp luật và
06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-
thực tiễn áp dụng qua các báo cáo, Bản
BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21/12/2018 án công bố trên cổng thông tin điện tử
của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa Tòa án.
án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư
pháp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã
+ Phương pháp nghiên cứu: phân tích
luật viết; phương pháp tổng hợp, thống
hội quy định về phối hợp một số quy
kê, so sánh thông qua các bài viết, một
định của Bộ luật Tố tụng Hình sự về thủ
số sách, các công trình nghiên cứu có giá
tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi
trị và pháp lý chuyên ngành, các bản án
đã có hiệu lực pháp luật có ý nghĩa hỗ
(Thông tư liên tịch số 06/2018).
Tuy nhiên, trên thực tế phát sinh trợ hiệu quả cho việc nghiên cứu.
nhiều trường hợp dẫn đến Cơ quan tiến
hành tố tụng phải ra Quyết định trưng
2. NỘI DUNG VẤN ĐỀ
2.1. Các khái niệm có liên quan
cầu giám định tuổi của những đối tượng
trên. Vấn đề đặt ra là giám định trong
trường hợp nào? Không phải mọi trường
hợp đều phải giám định tuổi, vì đây là
biện pháp cuối cùng khi không còn biện
pháp nào khác để thu thập chứng cứ để
xác định tuổi của người bị buộc tội, bị
hại dưới 18 tuổi khi tham gia tố tụng.
Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố
tụng: gồm cơ quan tiến hành tố tụng và
cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành
một số hoạt động điều tra5.
Người tham gia tố tụng: là cá nhân,
cơ quan, tổ chức tham gia hoạt động tố
tụng theo quy định của Bộ luật này6.
Nhận thấy còn nhiều bất cập, khó
khăn và vướng mắc, nên việc nghiên cứu
những hạn chế, vướng mắc của quy định
pháp luật và thực tiễn, sẽ góp phần nâng
Người bị buộc tội: gồm người bị bắt,
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo7.
Bị can: Bị can là người hoặc pháp
cao hiệu quả quy định này trong việc xác nhân bị khởi tố về hình sự. Quyền và
định tuổi của người tham gia tố tụng
trong vụ án hình sự, góp phần giải quyết
vụ án hình sự một cách khách quan và
toàn diện.
5 Điểm a khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng Hình sự
năm 2015.
6, 7 Điểm c, đ khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng
Hình sự năm 2015.
110
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô
Số 11 - 2021
nghĩa vụ của bị can là pháp nhân được 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290,
thực hiện thông qua người đại diện theo 299, 303 và 304 của Bộ luật Hình sự.
pháp luật của pháp nhân theo quy định
Tuổi chịu trách nhiệm hình sự: Đây là
mặt chủ thể của một trong những yếu tố
của Bộ luật này8.
Bị cáo: Bị cáo là người hoặc pháp cấu thành tội phạm. Tuổi chịu trách
nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét nhiệm hình sự là một điều kiện của chủ
xử. Quyền và nghĩa vụ của bị cáo là thể của tội phạm11. Mặt khác, đây còn là
pháp nhân được thực hiện thông qua dấu hiệu đặc biệt của thể phải chịu trách
người đại diện theo pháp luật của pháp nhiệm hình sự, như: người đủ 18 tuổi trở
nhân theo quy định của Bộ luật này9.
lên, mới phải chịu trách nhiệm hình sự
đối với tội giao cấu hoặc thực hiện hành
vi quan hệ tình dục khác đối với người
từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi.
Bị hại: Bị hại là cá nhân trực tiếp bị
thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản
hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về
tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc
đe dọa gây ra10.
2.2. Quy định của pháp luật về xác
định tuổi
Tuổi chịu trách nhiệm hình sự là độ
Điều 417 Bộ luật Tố tụng Hình sự
tuổi được luật hình sự quy định là điều năm 2015 quy định về xác định tuổi của
kiện để một người phải chịu trách nhiệm người bị buộc tội, người bị hại là người
hình sự về hành vi đã thực hiện của dưới 18 tuổi như sau:
mình. Theo quy định tại Điều 12 Bộ luật
hình sự 2015 về tuổi chịu trách nhiệm
hình sự Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải
chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội
phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật
này có quy định khác. Người từ đủ 14
“1. Việc xác định tuổi của người bị
buộc tội, người bị hại là người dưới 18
tuổi do cơ quan có thẩm quyền tiến hành
tố tụng thực hiện theo quy định của pháp
luật.
2. Trường hợp đã áp dụng các biện
pháp hợp pháp mà vẫn không xác định
được chính xác thì ngày, tháng, năm
sinh của họ được xác định:
tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách
nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm
trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
quy định tại một trong các Điều 123,
134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168,
169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250,
a) Trường hợp xác định được tháng
nhưng không xác định được ngày thì lấy
ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày
sinh.
8
,
9, 10 Điều 60, 61, 62 Bộ luật Tố tụng Hình sự
năm 2015.
11 Trường Đại học Luật Hà Nội: Giáo trình Luật
Hình sự Việt Nam – Phần chung, Nhà xuất bản
Công an nhân dân, năm 2016, trang 140.
111
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô
Số 11 - 2021
b) Trường hợp xác định được quý liệu này thì cơ quan có thẩm quyền tiến
nhưng không xác định được ngày, tháng hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến
thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối hành tố tụng phải phối hợp với gia đình,
cùng trong quý đó làm ngày, tháng sinh. người đại diện, người thân thích, nhà
trường, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ
Chí Minh hoặc tổ chức, cá nhân khác có
liên quan nơi người dưới 18 tuổi học
tập, lao động, sinh hoạt trong việc hỏi,
lấy lời khai, xác minh làm rõ mâu thuẫn
hoặc tìm các giấy tờ, tài liệu khác có giá
c) Trường hợp xác định được nửa của
năm nhưng không xác định được ngày,
tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng
cuối cùng trong nửa năm đó làm ngày,
tháng sinh.
d) Trường hợp xác định được năm
nhưng không xác định được ngày, tháng
thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối
cùng trong năm đó làm ngày, tháng
sinh.
trị chứng minh về tuổi của người đó.
Trường hợp đã áp dụng các biện
pháp hợp pháp nhưng chỉ xác định được
khoảng thời gian tháng, quý, nửa đầu
hoặc nửa cuối của năm hoặc năm sinh
thì tùy từng trường hợp cụ thể cần căn
cứ khoản 2 Điều 417 Bộ luật Tố tụng
hình sự để xác định tuổi của họ.
3. Trường hợp không xác định được
năm sinh thì phải tiến hành giám định để
xác định tuổi”.
Điều 6 Thông tư liên tịch số 06/2018
quy định phối hợp trong việc xác định
tuổi của người bị buộc tội, người bị hại
dưới 18 tuổi như sau:
3. Trường hợp kết quả giám định tuổi
chỉ xác định được khoảng độ tuổi của
người bị buộc tội, người bị hại thì cơ
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng,
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
lấy tuổi thấp nhất trong khoảng độ tuổi
đã xác định được để xác định tuổi của
họ.
“1. Việc xác định tuổi của người bị
buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi căn
cứ vào một trong các giấy tờ, tài liệu
sau:
Ví dụ: Kết luận giám định A có độ
tuổi trong khoảng từ 13 tuổi 6 tháng đến
14 tuổi 2 tháng thì xác định tuổi của A là
13 tuổi 6 tháng”.
a) Giấy chứng sinh;
b) Giấy khai sinh;
c) Chứng minh nhân dân;
d) Thẻ căn cước công dân;
đ) Sổ hộ khẩu;
Đây là những hướng dẫn theo hướng
có lợi cho người bị buộc tội, thể hiện
tính nhân đạo một cách sâu sắc của Luật
Hình sự Việt Nam cần được xem xét lại
vì cách tính tuổi này không hoàn toàn có
lợi vì khi tuổi bị hại nhỏ, bất lợi – thể
hiện sự công bằng chứ không luôn có lợi
e) Hộ chiếu.
2. Trường hợp các giấy tờ, tài liệu
nêu tại khoản 1 Điều này có mâu thuẫn,
không rõ ràng hoặc không có giấy tờ, tài
112
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô
Số 11 - 2021
cho người bị buộc tội. Ngoài ra, Thông
Tuy nhiên, đối với trường hợp không
tư liên tịch số 06/2018 cũng không loại có giấy chứng sinh, có giấy khai sinh
trừ trường hợp không biết bị cáo sinh nhưng đăng kí khai sinh quá hạn và
vào ngày tháng năm nào, nếu trường hợp không trích lục được hồ sơ lưu trữ giấy
này xảy ra thì các cơ quan có thẩm chứng sinh, thì có được xem là tài liệu
quyền tiến hành tố tụng buộc phải trưng hợp pháp không? Hay phải xác minh lời
cầu giám định để xác định năm sinh cho khai của những người biết việc để sử
người bị buộc tội, bị hại theo nguyên tắc dụng làm căn cứ xác định tuổi?
có lợi cho người bị buộc tội. Bởi lí do
không làm xấu đi tình trạng của người bị
Theo quy định tại khoản 2 Điều 206
Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định các
buộc tội, vì lấy theo nguyên tắc bất lợi
trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám
thì hậu quả cũng đã xảy ra, không thể
định: “Tuổi của bị can, bị cáo, bị hại
nếu việc đó có ý nghĩa đối với việc giải
quay trở lại như tình trạng ban đầu.
quyết vụ án và không có tài liệu để xác
định chính xác tuổi của họ hoặc có nghi
ngờ về tính xác thực của những tài liệu
đó”.
2.3. Một số khó khăn, vướng mắc
2.3.1. Về pháp lí
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 6 về
việc phối hợp trong việc xác định tuổi
của người bị buộc tội, người bị hại dưới
18 tuổi như sau: “Việc xác định tuổi của
người bị buộc tội, người bị hại dưới 18
tuổi căn cứ vào một trong các giấy tờ,
tài liệu sau: Giấy chứng sinh; Giấy khai
sinh; Chứng minh nhân dân; Thẻ căn
cước công dân; Sổ hộ khẩu; Hộ chiếu”.
Như thế nào được xem là nghi ngờ về
những tài liệu để xác định tuổi của bị
can, bị cáo, bị hại. Pháp luật quy định
còn bỏ ngõ, mang tính chung chung,
chưa cụ thể, rõ ràng. Nếu giấy khai sinh
quá hạn thì có được xem là nghi ngờ về
tính xác thực của giấy khai sinh không?
Trong trường hợp giấy khai sinh quá
hạn thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành
tố tụng phải làm rõ lời khai nguyên nhân
dẫn đến khai sinh quá hạn. Vậy lời khai
của những người biết về sự kiện ngày,
tháng, năm sinh của người bị buộc tội, bị
hại có được xem là thuộc trường hợp
nghi ngờ về tính xác thực hay không?
Theo quy định thì: “Trong thời hạn
60 ngày kể từ ngày sinh con, cha hoặc
mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho
con; trường hợp cha, mẹ không thể đăng
ký khai sinh cho con thì ông hoặc bà
hoặc người thân thích khác hoặc cá
nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ em
có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ
em”12.
Với quy định này phát sinh nhiều
vướng mắc như: cần làm rõ nguồn giấy
khai sinh để làm chứng cứ theo độ tuổi
ghi trong giấy khai sinh.
12 Khoản 1 Điều 15 Luật Hộ tịch năm 2014.
113
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô
Số 11 - 2021
Giả sử trường hợp không có giấy
Cần sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều
chứng sinh thì có bắt buộc phải trưng 206 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015
cầu giám định độ tuổi hay không?
2.3.2. Về mặt thực tiễn
theo hướng: “Không có giấy chứng sinh
để làm giấy tờ, tài liệu xác định tuổi của
bị can, bị cáo, bị hại thì phải trưng cầu
giám định tuổi trong mọi trường hợp”.
- Theo quy định tại Khoản 3 Điều 6
thì người có thẩm quyền tiến hành tố
tụng lấy tuổi thấp nhất trong khoảng độ
tuổi đã xác định được để xác định tuổi
của họ. Tuy nhiên, đối với trường hợp
xảy ra sự việc chỉ xác định được khoảng
“tháng” không xác định được ngày xảy
ra sự việc, thì xác định mốc thời gian
xảy ra sự việc lấy đầu tháng, giữa tháng
hay cuối tháng để làm căn cứ trưng cầu
giám định tuổi của người bị buộc tội, bị
hại vào thời điểm xảy ra sự việc?
Về mặt kĩ thuật lập pháp, tên gọi của
Điều 417 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm
2015 cần phải sửa lại cụm từ “người bị
hại” thành “bị hại” cho phù hợp và
thống nhất theo quy định hiện nay. Mặc
dù bị hại dưới 18 tuổi là cá nhân, nhưng
quy định chung hiện nay không còn gọi
là người bị hại.
3.4.2. Giải pháp về thực tiễn
Liên ngành Trung ương sớm ban
Ví dụ: đối với vụ án “giao cấu với hành văn bản hướng dẫn trường hợp xác
người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” do định sự kiện pháp lí xảy ra để xác định
thuộc trường hợp phải giám định tuổi, độ tuổi của bị can, bị cáo, bị hại theo
nhưng cả người bị buộc tội và bị hại hướng: “Trong trường hợp không xác
không xác định được cụ thể “ngày” thực định được thời gian cụ thể vào ngày nào
hiện hành vi giao cấu với bị hại, mà chỉ xảy ra hành vi phạm tội mà chỉ xác định
nhớ “tháng” (hoặc khoảng tháng), thì được tháng hoặc năm thì lấy ngày cuối
khi ra quyết định trưng cầu giám định cùng của tháng đó hoặc ngày tháng cuối
tuổi, lấy mốc thời gian đầu tháng, giữa cùng của năm đó để làm mốc thời gian
tháng hay cuối tháng của thời gian xảy xảy ra sự việc phạm tội làm căn cứ
ra vụ việc đối tượng giao cấu với bị hại trưng cầu giám định độ tuổi của người
để làm căn cứ tính tuổi của bị hại?
bị buộc tội, bị hại”. Để áp dụng thống
nhất trong toàn quốc, tránh tình trạng
mỗi địa phương áp dụng giải quyết mỗi
cách khác nhau.
- Hiện nay, còn nhiều trẻ em sinh ra
chưa được đăng kí khai sinh đúng hạn,
dẫn đến khó khăn trong công tác xác
định tuổi khi tham gia tố tụng đối với
trường hợp dưới 18 tuổi.
Tăng cường công tác đào tạo, tập
huấn chuyên sâu đối với trường hợp xác
định độ của người bị buộc tội, bị hại khi
không xác định được sự kiện pháp lí xảy
ra, để góp phần giải quyết vụ án một
2.4. Giải pháp
2.4.1. Giải pháp về pháp luật
114
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô
Số 11 - 2021
đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm
và làm oan người vô tội.
2. Quốc hội, 2015. Bộ luật Tố tụng
Hình sự năm 2015 ngày 27/11/2015, có
hiệu lực ngày 01/01/2018.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo
dục để người dân hiểu rõ về tầm quan
3. Quốc Hội, 2014. Luật Hộ tịch năm
trọng của việc đăng kí khai sinh đúng 2014 ngày 20/11/2014, có hiệu lực ngày
hạn, tạo tiền đề thuận lợi cho việc xác 01/01/2016.
định tuổi của người dưới 18 tuổi khi
tham gia vào sự kiện pháp lí.
4. Viện Kiểm sát nhân dân tối cao,
Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an,
Bộ Tư pháp, Bộ Lao động - Thương
binh và Xã hội, 2018. Thông tư liên tịch
số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-
3. KẾT LUẬN
Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và
Thông tư liên tịch số 06/2018 đã quy
định về cách xác định tuổi của người bị
buộc tội, bị hại chưa đủ 18 tuổi trong
từng trường hợp. Tuy nhiên, qua áp
dụng thực tiễn còn bộc lộ một số khó
khăn, vướng mắc về cách thức xác định
độ tuổi của bị can, bị cáo và bị hại chưa
đủ 18 tuổi trong một số trường hợp cụ
thể. Nhằm góp phần giải quyết các bất
cập hiện tại, cần sửa đổi, bổ sung về
TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày
21/12/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân
tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ
Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội quy định về phối
hợp một số quy định của Bộ luật Tố tụng
Hình sự về thủ tục tố tụng đối với người
dưới 18 tuổi.
5. Trường Đại học Luật Hà Nội,
pháp luật và thực hiện đồng bộ, thống (2016), Giáo trình Luật Hình sự Việt
nhất các giải pháp thực tiễn, để công tác Nam – Phần chung, Nhà xuất bản Công
giải quyết vụ án hình sự có người tham an nhân dân, năm 2016.
gia tố tụng là người dưới 18 tuổi một
6. Trang thông tin điện tử: Kết quả
cách khách quan và toàn diện, có giải
điều tra dân số và nhà ở năm 2019:
pháp tương ứng với những nguyên nhân
%BA%BFt-qu%E1%BA%A3-
t%E1%BB%95ng-
phát sinh khó khăn, vướng mắc về pháp
luật và thực tiễn.
%C4%91i%E1%BB%81u-tra-
d%C3%A2n-s%E1%BB%91-
v%C3%A0-nh%C3%A0-
%E1%BB%9F-n%C4%83m-2019 [truy
cập ngày 27/6/2020].
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Quốc hội, Bộ luật Hình sự năm
2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, có
hiệu lực ngày 01/01/2018.
115
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô
Số 11 - 2021
SOME ENTANGLEMENTS IN DETERMINING
THE AGE OF SUSPECTS, DEFENDANTS AND VICTIMS
IN RESOLVING CRIMINAL CASES
Vo Hong Linh
Department of Laws, Tay Do University
(Email: [email protected])
ABSTRACT
The determination of the age of suspects, defendants and victims in resolving criminal
cases is of great importance. Determining the exact age of the accused or the victim is the
foundation for the competent authority instituting the proceedings to determine whether or
not to prosecute the penal liability. In some cases, that is the grounds for impeachment and
penalty. Currently, the 2015 Criminal Procedure Code and its guiding documents have the
quite specific regulations on how to determine the age for suspects, defendants and victims
under 18 years of age. However, when these regulations have been applied in practice, a
number of shortcomings have arisen, such as the case of determining the age at the time of
the overdue registration of birth, in case of doubt about the authenticity of the documents
proving the age that are required to solicit the expertise according to the provisions of
Clause 2 of Article 206 of the 2015 Criminal Procedure Code. Therefore, it is necessary to
amend and guide to contribute to perfecting the regulations of the law as well as enhancing
the effectiveness for application in practice.
Keywords: Age of suspects, accused, determining the age, people under 18 years old
116
Bạn đang xem tài liệu "Một số vướng mắc về xác định tuổi của bị can, bị cáo, bị hại trong giải quyết vụ án hình sự", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
mot_so_vuong_mac_ve_xac_dinh_tuoi_cua_bi_can_bi_cao_bi_hai_t.pdf

