Bảo hộ và khai thác thương mại sáng chế kinh nghiệm từ Nhật Bản

KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
BẢO Hꢀ Vꢁ KHAI THꢂC THƯƠNG MꢃI SꢂNG CHẾ  
KINH NGHIꢄM TỪ NHẬT BẢN  
Phan Quốc Nguyên*  
* TS. Khoa Luật - Đai học Quốc gia Hà Nội  
Tóm tắt:  
Thông tin bài viết:  
Số lượng đăng ký sáng chế của một quốc gia cho thấy tiềm lực công  
nghệ, khả năng sáng tạo và phát triển kinh tế của quốc gia đó. Khai thác  
thương mại sáng chế có vai trò rất quan trọng trong việc đổi mới công  
nghệ và là một nội dung chủ đạo trong chính sách phát triển kinh tế của  
mỗi quốc gia. Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích kinh nghiệm  
của Nhật Bản về cải cách, đổi mới hệ thống pháp luật về sáng chế và rút  
ra một số gợi mở cho Việt Nam.  
Từ khóa: Sở hữu trí tuệ; sáng  
chế; bảo hộ và khai thác thương  
mại đối với sáng chế; Nhật Bản  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 11/5/2021  
: 22/5/2021  
: 25/5/2021  
Abstract:  
Article Infomation:  
Number of patents filing from one country shows her technology potentials,  
innovativecapacity,andeconomicdevelopments.Commercialexploitation  
of patents plays a very important role in technology innovation and is an  
essential content in each country’s policy for economic development.  
Within the scope of this article, the author provides an analysis of Japan's  
experience in reform and innovation of the legal system on patent and also  
a number of recommendations for Vietnam.  
Keywords:  
Intellectual  
property; patents; protection  
and commercial exploitation of  
patents; Japan  
Article History:  
Received  
Edited  
: 11 May 2021  
: 22 May 2021  
: 25 May 2021  
Approved  
Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) Việt Nam đã  
coi sáng chế là một trong những đối tượng  
quan trọng của quyền sở hữu công nghiệp  
(SHCN). Sáng chế là một dạng tài sản trí  
tuệ (TSTT) đặc biệt, thuộc loại tài sản vô  
hình (TSVH) và đóng vai trò quan trọng  
trong quá trình đổi mới và phát triển. Bằng  
sáng chế không những tạo động lực cho  
nghiên cứu khoa học (NCKH) và đổi mới  
sáng tạo mà còn góp phần thu hút nguồn  
vốn đầu tư và thúc đẩy chuyển giao công  
nghệ (CGCN). Sử dụng và khai thác thương  
mại hợp lý loại tài sản này sẽ làm gia tăng  
thu nhập cho doanh nghiệp, đóng góp vào  
tăng trưởng kinh tế và tăng cường năng lực  
cạnh tranh quốc gia.  
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn  
cầu hóa, cùng với sự phát triển, hoàn thiện  
hệ thống pháp luật về bảo hộ và thực thi  
quyền SHTT theo các chuẩn mực của Tổ  
chức Thương mại thế giới (WTO), trong  
những năm gần đây, Nhà nước ta đã dành  
sự quan tâm lớn việc bảo hộ và khai thác  
thương mại đối với sáng chế.  
Tuy nhiên, trên thực tế, vấn đề khai thác  
thương mại đối với sáng chế còn tương đối  
Số 12(436) - T6/2021  
57  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
mới; hơn nữa, theo truyền thống và thực  
tiễn đời sống pháp lý Việt Nam, quyền  
SHTT nói chung và quyền SHCN nói riêng  
chủ yếu được đề cập dưới góc độ dân sự.  
Sáng chế mới chỉ được đề cập theo hướng  
bảo hộ quyền SHCN, tức là, ở trạng thái  
“tĩnh” hơn là ở trạng thái “động” (khai thác,  
thương mại hóa - TMH). Do vậy, quy định  
của pháp luật của nước ta về hình thức khai  
thác thương mại đối với sáng chế vẫn còn  
khá nhiều bất cập và hạn chế.  
quyền SHTT để phát triển. Tuy nhiên, chỉ  
đến thời kỳ Minh Trị (1868 - 1912), với sự  
quyết tâm phát triển đất nước, thực hiện  
chính sách mở cửa bằng cách du nhập văn  
hóa phương Tây, các quy định về sáng chế  
và các quyền SHTT mới được tạo ra.  
Trước đó, dưới thời quân chủ quân sự  
Tokugawa (từ 1603 đến 1868), Nhật Bản đã  
thực hiện chính sách cấm sản xuất và bán  
các quần áo mới, đồ chơi, sách vở, các công  
cụ và thiết bị; bảo hộ các công nghệ lỗi thời  
hiện có, bảo vệ quyền sở hữu cá nhân đối  
với các quyền mang tính thương mại3. Điều  
này dẫn đến sự kém phát triển của Nhật Bản,  
nền kinh tế suy sụp, tiêu dùng bị hạn chế, các  
ngành công nghiệp không phát triển. Đứng  
trước thực trạng này, chính quyền mới thời  
kỳ Edo đã thực hiện chính sách cải cách,  
mở cửa, du nhập kiến thức mới từ phương  
Tây, đặc biệt là các công nghệ hiện đại nước  
ngoài nhằm vực dậy nền kinh tế cũng như  
các ngành công nghiệp của đất nước.  
Xác định được tầm quan trọng của việc  
khai thác TSTT, đặc biệt là sáng chế trong  
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt  
Nam đang tiến hành sửa đổi hệ thống pháp  
luật có liên quan, đặc biệt là pháp luật về  
sáng chế, bảo đảm phù hợp các quy định  
của các hiệp định thương mại tự do thế hệ  
mới mà Việt Nam mới tham gia như: Hiệp  
định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên  
Thái Bình Dương (CPTPP)1, Hiệp định  
Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh  
Châu Âu (EVFTA)2, v.v.. Trong bối cảnh  
đó, việc nghiên cứu kinh nghiệm đã thành  
công trong khuyến khích khai thác thương  
mại đối với sáng chế của các nước, trong đó  
có Nhật Bản có thể rút ra được một số giải  
pháp hữu ích cho Việt Nam.  
Vào cuối thế kỷ 19, Chủ tịch đầu tiên  
của Văn phòng Sáng chế Nhật Bản, ông  
Korekiyo Takahashi, trong chuyến thăm và  
làm việc tại Văn phòng Sáng chế Hoa Kỳ đã  
phát biểu: “Chúng tôi đã nhìn lại mình và  
nghiên cứu xem những quốc gia nào là các  
quốc gia vĩ đại nhất để học hỏi họ. Chúng  
tôi đã tự hỏi điều gì đã khiến Hoa Kỳ trở  
thành một quốc gia vĩ đại đến như vậy? và  
chúng tôi đã điều tra để nhận thấy rằng đó  
chính là nhờ vào sáng chế. Do vậy, chúng  
tôi sẽ phải có sáng chế”4.  
1. Nhật Bản xây dựng và hoàn thiện hệ  
thống pháp luật về sáng chế  
- Xuất phát điểm  
Là một quốc gia nghèo nàn về nguồn  
lực tự nhiên, Nhật Bản đã phải dựa vào  
việc thúc đẩy các nỗ lực sáng tạo thông qua  
1
Comprehensive-and-Progressive-Agreement-for-Trans-Pacific-Partnership-CPTPP-English.pdf.  
2 Xem toàn văn nội dung Hiệp định EVFTA bằng tiếng Anh tại http://trade.ec.europa.eu/doclib/press/index.  
cfm?id=1437.  
3 Quy định này được ghi nhận tại Pháp lệnh Cấm sáng tạo đồ vật mới của Chính phủ Quân sự tháng 07 năm  
1721. Nguồn: Institute of Intellectual Property, Experience of Japan - Contribution by the Patent System to  
Industrial Development of Japan, Tokyo, 2001, tr.14.  
4 The Story of the United States Patent Office, Văn phòng Sáng chế/Bộ Thương mại Hoa Kỳ, Washington D.C.,  
1972, tr.20.  
58  
Số 12(436) - T6/2021  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
- Hệ thống sáng chế của Nhật Bản đầu  
thời kỳ Minh Trị  
để thực hiện chính sách cân bằng lợi ích  
đồng thời cũng để thúc đẩy CGCN, Chính  
phủ Nhật Bản đã ban hành chính sách  
nhằm khuyến khích và hỗ trợ việc nhập  
khẩu công nghệ8.  
Luật sáng chế đầu tiên của Nhật Bản  
đã ra đời vào đầu thời kỳ Minh Trị, năm  
1871. Tuy nhiên, hệ thống này đã thất bại  
vì sau một năm, chỉ có một đơn đăng ký  
sáng chế về xe kéo tay được nộp vì lý do  
vào thời điểm này, Nhật Bản không có một  
thẩm định viên sáng chế nào được đào tạo  
bài bản5.  
Nhờ có luật về sáng chế này, một loạt  
sáng chế trong lĩnh vực cơ khí phục vụ  
phát triển nông và lâm nghiệp đã được cấp  
bằng ngay từ khi hệ thống bảo hộ sáng chế  
ra đời. Đầu tiên là các sáng chế của ông  
Kenzo Takabayashi, quận Saitama (phía  
Bắc Tokyo) về các thiết bị sản xuất trà. Các  
thiết bị máy móc sản xuất trà này sau đó  
không những được sử dụng để sản xuất trà  
cổ truyền địa phương Sayama mà còn được  
đưa vào sử dụng tại vùng Shizuoka (phía  
Tây Tokyo) và đã đem lại cho danh tiếng  
cho trà Shizuoka. Điều này đã mở ra một  
giai đoạn phát triển mới cho trà Shizuoka  
và giúp cho Shizuoka trở thành một vùng  
sản xuất trà nổi tiếng ngày nay9. Nhờ có hệ  
thống bảo hộ sáng chế của Nhật Bản, ông  
Takabayashi đã được cấp nhiều sáng chế  
khác liên quan đến các trang thiết bị và máy  
móc sản xuất trà và đã xuất khẩu các công  
nghệ này ra nước ngoài. Điều này cũng đã  
cho thấy tầm quan trọng của việc bảo hộ  
sáng chế trong việc khai thác thương mại  
đối với sáng chế và phát triển công nghệ  
của Nhật Bản.  
Ngày 14/8/1885, Luật Độc quyền sáng  
chế đã ra đời6. Sau dó, Chủ tịch Văn  
phòng Sáng chế của Nhật Bản này sau  
đó đã trở thành Bộ trưởng Bộ Tài chính  
và thành Thủ tướng Nhật Bản, đã có tác  
động rất mạnh mẽ đến việc phát triển hệ  
thống sáng chế của Nhật Bản. Kết quả  
là ngay trong năm 1885, đã có 425 đơn  
đăng ký sáng chế được nộp theo luật sáng  
chế mới trong đó có 99 sáng chế được  
cấp văn bằng bảo hộ; trong năm sau đó,  
số lượng đơn đăng ký đã tăng lên 1.384  
đơn trong đó có 205 sáng chế được cấp  
văn bằng bảo hộ7. Một điểm đáng lưu ý  
là, do ban đầu, hệ thống bảo hộ sáng chế  
chỉ áp dụng cho công dân Nhật Bản nên  
dù có nhiều đơn sáng chế được nộp trong  
giai đoạn này, nhưng phần lớn là các công  
nghệ truyền thống của Nhật Bản. Do vậy,  
5 Xem thêm Christopher Heath and Kung-Chung Liu, Legal rules of Technology transfer in Asia, KLUWER  
LAW INTERNATIONAL, 2002, tr.100.  
6 Xem bài viết First Japanese patent was issued this day in 1885, xem chi tiết tại www.patentyogi.com, truy  
cập ngày 24/6/2021.  
7
Christopher Heath and Kung-Chung Liu, Legal rules of Technology transfer in Asia, KLUWER LAW  
INTERNATIONAL, 2002, tr.100.  
8
Institute of Intellectual Property, Experience of Japan - Contribution by the Patent System to Industrial  
Development of Japan, Tokyo, 2001, tr.25.  
9
Institute of Intellectual Property, Experience of Japan - Contribution by the Patent System to Industrial  
Development of Japan, sách đã dẫn, tr. 25-26.  
Số 12(436) - T6/2021  
59  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
Ảnh 1: Máy sản xuất trà đã được cấp bằng sáng chế của ông Kenzo Takabayashi  
toàn bộ công nghệ đó11. Các lĩnh vực công  
nghệ được chuyển giao rất đa dạng, trong đó  
bao gồm cả các công nghệ lĩnh vực cơ khí,  
đóng tàu, thủy tinh, xi măng, sản xuất thép,  
bia và sản phẩm hóa học. Có thể nói rằng,  
cùng với việc sửa đổi các điều ước thương  
mại với các nước khác, việc thiết lập một hệ  
thống bảo hộ sáng chế cho người nước ngoài  
thông qua việc sửa đổi Luật Độc quyền sáng  
chế (1899) là nguyên nhân quan trọng tạo  
đà cho sự tiến bộ và phát triển của nền công  
nghiệp Nhật Bản cũng như cho công cuộc  
hiện đại hóa của Nhật Bản ngày nay12.  
- Hệ thống sáng chế của Nhật Bản giai  
đoạn phục hồi Minh Trị (từ năm 1897)  
Cuối thế kỷ 19, nhu cầu bảo hộ không biên  
giới các quyền SHTT đã được nhiều quốc gia  
trong đó có Nhật Bản ủng hộ và theo đuổi.  
Công ước Paris (1883) ra đời nhằm bảo đảm  
các quyền liên quan đến sự bảo hộ quyền  
SHCN. Năm 1890, Nhật Bản đã thiết lập  
một hệ thống luật pháp bảo hộ quyền SHCN  
hiện đại, gia nhập Công ước Paris và sửa đổi  
hệ thống quyền SHCN vào năm 1899 nhằm  
thúc đẩy việc CGCN từ nước ngoài. Những  
chính sách này của Nhật Bản đã thúc đẩy sự  
du nhập các công nghệ hiện đại của Phương  
Tây và phần lớn các công nghệ được chuyển  
giao đều được các kỹ thuật viên nước ngoài  
đến chuyển giao một cách chi tiết và cụ thể  
cho kỹ thuật viên bản địa có thể nắm bắt được  
Việc sửa đổi Luật Độc quyền sáng chế  
đã đem lại cho người nước ngoài sự bảo  
hộ sáng chế thích đáng như sự bảo hộ dành  
cho người Nhật Bản. Điều này dẫn đến trình  
độ công nghệ của các sáng chế được nâng  
10 Hình minh họa được trích từ http://www.city.hidaka.lg.jp/DAT/LIB/WEB/1/p24.pdf.  
11  
Institute of Intellectual Property, Experience of Japan - Contribution by the Patent System to Industrial  
Development of Japan, Sđd, tr.26.  
12  
Institute of Intellectual Property, Experience of Japan - Contribution by the Patent System to Industrial  
Development of Japan, Sđd, tr. 30-32.  
60  
Số 12(436) - T6/2021  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
cao dần. Tuy nhiên, sự thay đổi trong các  
quy định về sáng chế đã tạo ra hố sâu ngăn  
cách về công nghệ giữa Nhật Bản và các  
nước phương Tây khác. Bởi lẽ, theo Công  
ước Paris, chỉ có các sáng chế đáp ứng tính  
mới so với thế giới và có trình độ sáng tạo  
mới được cấp bằng sáng chế. Do vậy, các  
cải tiến kỹ thuật nhỏ của người Nhật Bản  
không đáp ứng tiêu chuẩn của Công ước  
Paris và không được cấp bằng sáng chế.  
Trên thực tế, các đơn xin cấp văn bằng  
bảo hộ (VBBH) sáng chế sẽ được thẩm định  
chặt chẽ hơn và được yêu cầu cao hơn về  
tính mới và trình độ sáng tạo. Trong khi  
các tác giả sáng chế nước ngoài nộp đơn  
xin cấp VBBH cho các sáng chế mang tính  
công nghệ tiên tiến thì phần lớn các sáng  
chế của Nhật Bản lại liên quan đến lĩnh vực  
thủ công và vật dụng hàng ngày có trình  
độ công nghệ thấp13. Kết quả là phần lớn  
các sáng chế của nước ngoài đã được cấp  
bằng và được bảo hộ trong khi chỉ một số  
ít sáng chế của người Nhật có trình độ kỹ  
thuật thấp hơn được cấp VBBH do đã có  
quy định pháp lý nhằm đối xử công bằng  
trong việc thẩm định đơn sáng chế giữa  
người nước ngoài và người Nhật.  
sáng chế cho các thiết bị đòi hỏi sự khéo  
léo thường bị từ chối14. Từ thực tế trên, các  
nhà hoạch định chính sách Nhật Bản nhận  
thấy rằng, cần phải bảo hộ những loại sáng  
chế trong lĩnh vực này; đồng thời, cần phải  
khuyến khích các nhà sáng chế Nhật Bản.  
Kết quả, năm 1905, nhằm mục đích bảo hộ  
các sáng chế nhỏ, cốt lõi, ứng dụng trong  
nước của người Nhật cũng như để bảo hộ  
“các thiết bị mới có khả năng tạo điều kiện  
thuận lợi hơn cho người sử dụng”15, Luật  
Mẫu hữu ích được ban hành16.  
Nhờ có hệ thống bảo hộ mẫu hữu ích này,  
số lượng đơn xin cấp bằng mẫu hữu ích đã  
vượt đơn xin cấp bằng sáng chế. Điều này  
cho thấy, hệ thống này đã đạt được kết quả  
ban đầu trong việc thúc đẩy các hoạt động  
sáng tạo chủ yếu mang tính bản địa đồng  
thời hỗ trợ cho ngành công nghiệp nhẹ của  
Nhật Bản phát triển17.  
- Hệ thống sáng chế của Nhật Bản giai  
đoạn cuối của thời kỳ Minh Trị (cuối thế  
kỷ 20)  
Vào giai đoạn cuối của thời đại Minh  
Trị, do việc mở rộng sự bảo hộ sáng chế  
cho người nước ngoài, các dòng công nghệ  
từ nước ngoài chảy vào Nhật Bản đã tăng  
đáng kể và những công nghệ được nhập  
khẩu này đã trở thành nền tảng phát triển cho  
nền công nghiệp của Nhật Bản; đồng thời,  
làm gia tăng sức cạnh tranh của Nhật Bản  
trên trường quốc tế18. Trong cố gắng để hiện  
đại hóa nước nhà, sự bảo hộ sáng chế của  
Nhật Bản cho người nước ngoài đã thúc đẩy  
Do đó, có ý kiến cho rằng, việc mở rộng  
khả năng bảo hộ sáng chế cho người nước  
ngoài đã làm cho sáng chế liên quan đến  
các vật dụng thông thường của người Nhật  
khó được cấp bằng và làm nản lòng các nhà  
sáng chế trong nước vì các đơn xin cấp bằng  
13  
Institute of Intellectual Property, Experience of Japan - Contribution by the Patent System to Industrial  
Development of Japan, Sđd, tr. 35.  
14 Như trên.  
15  
Institute of Intellectual Property, Experience of Japan - Contribution by the Patent System to Industrial  
Development of Japan, Sđd, tr. 35-36.  
16 Xem phiên bản tiếng Anh Luật Mẫu Hữu ích của Nhật Bản tại www.jpo.go.jp.  
17  
Institute of Intellectual Property, Experience of Japan - Contribution by the Patent System to Industrial  
Development of Japan, Sđd, tr. 36.  
18  
Institute of Intellectual Property, Experience of Japan - Contribution by the Patent System to Industrial  
Development of Japan, Sđd, tr. 38.  
Số 12(436) - T6/2021  
61  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
mạnh mẽ hơn sự du nhập của các công nghệ  
từ nước ngoài trong cả khu vực nhà nước và  
tư nhân. Năm 1900, lần đầu tiên số lượng  
đơn đăng ký sáng chế của Nhật Bản đã vượt  
quá con số 2.000 (2.006)19. Một số công ty  
đã thành công trong việc đưa vào Nhật Bản  
các công nghệ nước ngoài. Liên doanh hợp  
tác đầu tiên của Nhật Bản với nước ngoài  
giữa Nippon Electric Limited Partnership  
(tiền thân của Tập đoàn NEC hiện nay) và  
Western Electric Company (WE) là một ví dụ  
điển hình cho thấy công ty Nippon Electric  
đã phát triển công nghệ riêng của mình đồng  
thời tích hợp được các công nghệ hiện đại  
khác thông qua việc hợp tác với công ty  
nước ngoài. Trong các điều khoản của hợp  
đồng hợp tác liên doanh, các điều khoản liên  
quan đến việc quản lý các quyền SHCN đã  
được đề cao. Đặc biệt, các điều khoản này  
đã chỉ rõ việc quản lý sáng chế ngay từ đầu  
thành lập liên doanh có vai trò cực kỳ quan  
trọng trong việc chiếm lĩnh thị trường. Bằng  
việc tập trung vào hoạt động R&D, Nippon  
Electric đã có được nhiều sáng chế nhờ vào  
việc áp dụng các công nghệ ban đầu để phát  
triển sản phẩm trong đó phải kể đến máy ghi  
điện kiểu Nippon Electric, tiền thân của máy  
fax ngày nay20.  
đơn đăng ký sáng chế tại Nhật Bản đã vượt  
ngưỡng 50.000 (55.970 đơn)21.  
Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, một  
loạt các công nghệ hiện đại nhất từ các nước  
phương Tây đã du nhập vào Nhật Bản và các  
công nghệ này đã tạo nền tảng vững chắc  
cho các công ty Nhật Bản có được công  
nghệ riêng của mình sau một thời gian đồng  
thời giúp cho Nhật Bản có một kỷ nguyên  
mới phát triển mạnh mẽ về mặt kinh tế22.  
Năm 1959 Nhật Bản thông qua Luật Sáng  
chế mới23. Luật Sáng chế năm 1959 được  
coi là luật căn bản về sáng chế của Nhật  
Bản và có hiệu lực cho đến ngày nay. Bên  
cạnh đó, Nhật Bản từng bước gia nhập các  
hiệp định quốc tế quan trọng có liên quan  
như Hiệp định TRIPS vào năm 1994, nỗ lực  
thay thế Hoa Kỳ đàm phán, chủ trì cho việc  
ra đời CPTPP hiện nay.  
Không chỉ thành công với Luật Mẫu hữu  
ích, với mục tiêu dần mở rộng các đối tượng  
được bảo hộ là sáng chế, bằng nhiều quy  
định mới, Nhật Bản mở rộng dần phạm vi  
và đối tượng bảo hộ sáng chế. Năm 1975,  
các hợp chất dược phẩm; năm 1979, các vi  
khuẩn đã được đưa vào thành đối tượng bảo  
hộ sáng chế. Đến những năm 1980 các sản  
phẩm biến đổi gen đã được công nhận và  
được cấp bằng sáng chế. Năm 1988, sáng  
chế đầu tiên dành cho động vật đã được  
đăng ký. Năm 1997, Văn phòng Sáng chế  
ban hành hướng dẫn tạo điều kiện việc cấp  
bằng bảo hộ sáng chế cho phần mềm máy  
tính và công nghệ sinh học.  
- Hệ thống sáng chế của Nhật Bản giai  
đoạn cuối thời kỳ Minh Trị đến ngày nay  
Năm 1921, khi hệ thống đăng ký sáng  
chế ra đời, số lượng sáng chế dần tăng theo  
thời gian. Năm 1920, trên 10.000 đơn sáng  
chế đã được nộp, đến năm 1966, số lượng  
19 Christopher Heath and Kung-Chung Liu, Legal rules of Technology transfer in Asia, 2002 sách đã dẫn, trang 100.  
20  
Institute of Intellectual Property, Experience of Japan - Contribution by the Patent System to Industrial  
Development of Japan, Sđd, tr. 39-40.  
21  
Số liệu này được trích từ Tokkyo Chô, Tokkyo seidô 70 nen shi, Tokyo, 1955, trang 134; Tokkyo Chô,  
100 Years of History of the Industrial Property System, Vol. 3, Tokyo, 1985, trang 756 và Tokkyo Chô, The  
Following 10 Years of Industrial Property System¸Tokyo, 1995, tr. 345.  
22  
Institute of Intellectual Property, Experience of Japan - Contribution by the Patent System to Industrial  
Development of Japan, Sđd, tr. 56.  
23 Xem phiên bản tiếng Anh Luật Sáng chế năm 1959 của Nhật Bản (Luật số 121 ngày 13 tháng 4 năm 1959)  
62  
Số 12(436) - T6/2021  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
Số lượng sáng chế vẫn không ngừng tăng  
theo thời gian; năm 1972 có 102.948, năm  
1993 - 361.985 đơn đăng ký sáng chế24.  
2. Những gợi mở cho Việt Nam  
Có thể nói rằng, sáng chế đã đóng một vai  
trò cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển  
công nghệ và công nghiệp của Nhật Bản trong  
suốt hơn 100 năm qua đồng thời góp phần to  
lớn trong việc phát triển trí tuệ và ham muốn  
sáng tạo cho người dân Nhật Bản25.  
để tăng số lượng sáng chế được bảo hộ và  
qua đó tăng số lượng sáng chế được khai  
thác thương mại. Hiện nay, chúng ta đang  
đứng trước thách thức của hội nhập sâu  
rộng kinh tế quốc tế, cạnh tranh mạnh mẽ  
nên rất cần các quy định pháp lý phù hợp  
nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo hộ và  
khai thác thương mại sáng chế.  
2) Mở rộng đối tượng được cấp bằng  
sáng chế  
Hiện nay, Việt Nam là nước đang phát  
triển, công nghệ chủ yếu còn lạc hậu nên  
các doanh nghiệp Việt Nam rất cần được  
chuyển giao các công nghệ nước ngoài  
nhằm đổi mới công nghệ, cải tiến sản  
phẩm hàng hóa, dịch vụ để tăng sức cạnh  
tranh. Đồng thời, chúng ta cũng cần bảo  
vệ các công nghệ nội sinh trước nguy cơ  
bị đánh cắp. Điều kiện của Việt Nam hiện  
nay có những nét tương tự giai đoạn phát  
triển của Nhật Bản cuối thời kỳ Minh Trị.  
Từ những kinh nghiệm của Nhật Bản về  
phát triển pháp luật về sáng chế, có thể rút  
ra một số gợi mở cho Việt Nam như sau:  
1) Xây dựng quy định nhằm thúc đẩy  
việc đăng ký các giải pháp hữu ích  
Theo quy định của Điều 59 Luật SHTT  
năm 2005, các đối tượng sau không được  
bảo hộ với danh nghĩa sáng chế:  
a) Phát minh, lý thuyết khoa học, phương  
pháp toán học;  
b) Sơ đồ, kế hoạch, quy tắc và phương  
pháp để thực hiện các hoạt động trí óc,  
huấn luyện vật nuôi, thực hiện trò chơi, kinh  
doanh; chương trình máy tính;  
c) Cách thức thể hiện thông tin;  
d) Giải pháp chỉ mang đặc tính thẩm mỹ;  
e) Giống thực vật, giống động vật;  
f) Quy trình sản xuất thực vật, động vật  
chủ yếu mang bản chất sinh học mà không  
phải là quy trình vi sinh;  
Qua lịch sử phát triển hệ thống bảo hộ  
sáng chế và khai thác thương mại đối với  
sáng chế của Nhật Bản có thể thấy rằng  
Nhật Bản đã có các quy định pháp lý phù  
hợp với từng giai đoạn phát triển của Nhật  
Bản, khuyến khích được việc đăng ký sáng  
chế tại Nhật Bản qua việc cùng lúc đưa ra  
các quy định bảo hộ sáng chế chặt chẽ và  
mở rộng đăng ký các mẫu hữu ích. Nhờ đó,  
số lượng sáng chế của Nhật Bản tăng lên rõ  
rệt. Do vậy, chúng ta cũng cần có các quy  
định bảo hộ và khai thác thương mại sáng  
chế cho phù hợp từng giai đoạn phát triển  
g) Phương pháp phòng ngừa, chẩn đoán  
và chữa bệnh cho người và động vật.  
Kinh nghiệm của Nhật Bản cũng cho  
thấy, trong số các đối tượng trên, có một số  
đối tượng cần được mở rộng khả năng bảo  
hộ sáng chế:  
Thứ nhất, chương trình máy tính:  
Chương trình máy tính cũng phần nào  
mang tính chất kỹ thuật nhưng giống như  
pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới,  
pháp luật về bảo hộ sáng chế của Việt  
Nam từ trước đến nay đều không bảo hộ  
24 Christopher Heath and Kung-Chung Liu, Legal rules of Technology transfer in Asia, 2002, Sđd, tr. 100.  
25  
Institute of Intellectual Property, Experience of Japan - Contribution by the Patent System to Industrial  
Development of Japan, Sđd, tr. 49.  
Số 12(436) - T6/2021  
63  
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ  
sáng chế đối tượng này26. Có những lý do  
giải thích cho việc không bảo hộ sáng chế  
chương trình máy tính và phần mềm máy  
tính như: khó mà xác định được tính mới  
của phần mềm máy tính hoặc chương trình  
máy tính; chương trình và phần mềm máy  
tính được viết và thực hiện các phép toán  
lôgic bằng những câu lệnh hoặc mã khóa  
nhất định theo hệ nhị phân với các số 0 và 1  
của phương pháp toán học... Trong khi đó,  
mặc dù Nhật Bản là nước phát triển nhưng  
pháp luật SHTT Nhật Bản vẫn bảo hộ sáng  
chế cho chương trình máy tính27. Điều này  
giúp cho Nhật Bản phát triển mạnh mẽ ứng  
dụng phần mềm, đặc biệt trong điều kiện  
của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ  
tư. Vì vậy, Việt Nam cần sớm xem xét, bổ  
sung bảo hộ chương trình máy tính dưới  
dạng sáng chế.  
quốc gia bảo hộ giống cây trồng mới dưới  
dạng sáng chế. Điều này là một trong những  
nguyên nhân giúp nền nông nghiệp của Nhật  
Bản phát triển như ngày nay. Trong điều kiện  
là nước nông nghiệp, Việt Nam cũng xem  
xét việc bảo hộ sáng chế cho giống cây trồng  
mới để tăng số lượng sáng chế được đăng ký  
và bảo hộ tại Việt Nam.  
Thứ ba, giống động vật: Tại Việt Nam,  
giống động vật không được bảo hộ dưới  
dạng sáng chế. Quy định pháp lý này cũng  
phù hợp với pháp luật quốc tế về bảo hộ  
quyền SHCN. Có thể thấy rằng, giống động  
vật không đáp ứng đủ các điều kiện về bảo  
hộ sáng chế. Giống động vật được lai tạo có  
thể đáp ứng điều kiện về tính mới và trình  
độ sáng tạo nhưng khó đáp ứng điều kiện về  
khả năng áp dụng công nghiệp. Cụ thể, về  
bản chất sinh học, giống lai động vật thế hệ  
1 và thế hệ 2 có thể tương đồng nhưng đến  
thế hệ 3 thì có thể không tương đồng thế hệ  
1 và 2. Tuy nhiên, đối với giống động vật  
biến đổi gen, một số quốc gia, trong đó có  
Nhật Bản đã đưa vào đối tượng bảo hộ sáng  
chế. Trong thời gian tới Việt Nam cần xem  
xét đưa giống động vật biến đổi gen vào đối  
tượng bảo hộ sáng chế để tăng số lượng đơn  
Thứ hai, giống cây trồng: Giống cây trồng  
cũng mang bản chất kỹ thuật và đáp ứng đầy  
đủ điều kiện bảo hộ sáng chế nhưng do có  
những đặc trưng riêng biệt nên đối tượng này  
đã không được bảo hộ dưới dạng sáng chế  
mà được bảo hộ theo một hệ thống riêng biệt  
(bảo hộ quyền đối với giống cây trồng) tại  
Việt Nam28. Mặc dù, trên thế giới các quốc  
gia cũng có những quy định khác nhau về  
bảo hộ giống cây trồng, nhưng Nhật Bản là  
đăng ký và bằng sáng chế trong tương lai  
26 Pháp luật về bảo hộ quyền SHTT của Việt Nam định nghĩa “Chương trình máy tính” là tập hợp các chỉ dẫn  
được thể hiện dưới dạng các lệnh, các mã, lược đồ hoặc bất kỳ dạng nào khác, khi gắn vào một phương tiện  
mà máy tính đọc được, có khả năng làm cho máy tính thực hiện được một công việc hoặc đạt được một kết  
quả cụ thể. Chương trình máy tính được bảo hộ như tác phẩm văn học, dù được thể hiện dưới dạng mã nguồn  
hay mã máy (Điều 22.1, Luật SHTT).  
27 Xem thêm Phan Quốc Nguyên (chủ biên), Sở hữu Trí tuệ và Chuyển giao Công nghệ phục vụ Đổi mới Sáng  
tạo, Nxb. Đại học Bách khoa Hà Nội, năm 2020, tr. 55-56.  
28 Theo khoản 24 Điều 4 Luật SHTT Việt Nam thì giống cây trồng là quần thể cây trồng thuộc cùng một cấp  
phân loại thực vật thấp nhất, đồng nhất về hình thái, ổn định qua các chu kỳ nhân giống, có thể nhận biết được  
bằng sự biểu hiện các tính trạng do kiểu gen hoặc sự phối hợp của các kiểu gen quy định và phân biệt được với  
bất kỳ quần thể cây trồng nào khác bằng sự biểu hiện của ít nhất một tính trạng có khả năng di truyền được. Đối  
tượng quyền đối với giống cây trồng là vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch (khoản 3 Điều 3 Luật SHTT).  
Theo Điều 158 Luật SHTT về điều kiện chung đối với giống cây trồng được bảo hộ thì giống cây trồng được  
bảo hộ là giống cây trồng được chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển, thuộc Danh mục loài cây trồng được  
Nhà nước bảo hộ do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành, có tính mới, tính khác biệt, tính đồng  
nhất, tính ổn định và có tên phù hợp.  
64  
Số 12(436) - T6/2021  
pdf 8 trang Thùy Anh 13860 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bảo hộ và khai thác thương mại sáng chế kinh nghiệm từ Nhật Bản", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_ho_va_khai_thac_thuong_mai_sang_che_kinh_nghiem_tu_nhat.pdf