Hoàn thiện pháp luật trọng tài ở Việt Nam hiện nay
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
HOꢀN THIꢁN PHꢂP LUẬT TRỌNG TꢀI Ở VIꢁT NAM HIꢁN NAY1
Nguyễn Thị Hoa*
* TS. GV. Khoa Luật Quốc tế, Trường Đai học Luật TP. Hồ Chí Minh
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Từ khóa: Giải quyết tranh chấp
bằng trọng tài, giải quyết tranh
chấp theo lẽ công bằng, hủy
phán quyết trọng tài, thi hành
phán quyết trọng tài, Luật Trọng
tài thương mại năm 2010.
Ngày 02/10/2019, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
1268/QĐ-TTg phê duyệt Đề án hoàn thiện pháp luật về hợp đồng và
giải quyết tranh chấp hợp đồng bằng phương thức trọng tài thương mại,
hòa giải thương mại; trong đó tại Mục III.1 có đặt ra nhiệm vụ là phải
“nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về hợp đồng và giải quyết tranh chấp
hợp đồng” hướng tới “hoàn thiện phương thức giải quyết tranh chấp hợp
đồng bằng trọng tài thương mại”. Trong phạm vi bài viết này, tác giả
phân tích, so sánh pháp luật trọng tài Việt Nam với pháp luật trọng tài
nước ngoài để làm rõ những điểm bất cập trong pháp luật của Việt Nam
và đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 29/3/2021
: 15/4/2021
: 17/4/2021
Article Infomation:
Abstract:
On October 2, 2019, the Prime Minister issued the Decision No.1268/
QĐ-TTg approving the Project on improvement of the legal regulations
on contracts and dispute resolution in this field throught commercial
arbitration and mediation, in which Section III.1 sets out the task to
“reviews of international experience in contractual dispute resolution”
in order to “improvement of the mecanisme of contractual dispute
resolution via commerial arbitration”. Within the scope of this article, the
author provides an analysis of and comparation to Vietnam's arbitration
law with foreign arbitration law to clarify inadequacies in Vietnam's law
and also provides recommendations for further improvements.
Keywords: Dispute settlement
by arbitration, fair settlement of
disputes, annulment of arbitral
awards, enforcement of arbitral
awards, Law on Commercial
Arbitration of 2010.
Article History:
Received
Edited
: 29 Mar. 2021
: 15 Apr. 2021
: 17 Apr. 2021
Approved
1. Tên gọi của Luật Trọng tài thương mại
và quy định về thẩm quyền giải quyết
tranh chấp của trọng tài
phát sinh trong hoạt động thương mại, trọng
tài còn có thẩm quyền giải quyết tranh chấp
phát sinh giữa các bên trong đó có ít nhất
một bên tham gia hoạt động thương mại
hoặc tranh chấp giữa các bên mà pháp luật
quy định được giải quyết bằng trọng tài.
Với quy định nêu trên, trọng tài không chỉ
giải quyết tranh chấp phát sinh trong lĩnh
vực thương mại; có thể lấy ví dụ như tranh
chấp phát sinh từ hợp đồng xây dựng cũng
Nếu chỉ nhìn vào tên gọi của văn bản,
sẽ dễ đi đến suy luận rằng Luật Trọng tài
thương mại năm 2010 (Luật TTTM) chỉ
điều chỉnh hoạt động trọng tài trong lĩnh vực
thương mại. Tuy nhiên, Điều 2 Luật TTTM
lại quy định phạm vi thẩm quyền của trọng
tài rộng hơn, vì ngoài giải quyết tranh chấp
1 Bài viết này có sử dụng kết quả nghiên cứu của Đề tài mã số 505.01-2020.02 với chủ đề “Phương thức giải
quyết tranh chấp bằng trọng tài trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” do PGS. TS. Đỗ Văn Đại làm chủ
nhiệm. Đề tài nghiên cứu này được tài trợ bởi Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED).
34
Số 12(436) - T6/2021
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
có thể được giải quyết bằng trọng tài mặc dù
theo khoản 1 Điều 138 Luật Xây dựng năm
2014 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều
năm 2020 (Luật Xây dựng) thì hợp đồng
xây dựng là “hợp đồng dân sự” mà không
phải là hợp đồng thương mại2. Sở dĩ tranh
chấp trong lĩnh vực xây dựng có thể được
giải quyết bằng trọng tài vì trong Luật Xây
dựng3 có quy định cho phép các bên được
giải quyết tranh chấp bằng trọng tài; do đó
có thể áp dụng khoản 3 Điều 2 Luật TTTM
để đưa tranh chấp ra trọng tài. Như vậy, có
thể nói, tên gọi của Luật TTTM chưa bao
quát hết phạm vi điều chỉnh của Luật và điều
này có thể gây khó khăn cho những chủ thể
áp dụng pháp luật, đặc biệt có thể làm cho
luật của chúng ta không thu hút sự quan tâm
của nhà đầu tư nước ngoài. Ngay cả đối với
các chủ thể trong nước, nếu không nghiên
cứu kỹ và chuyên sâu về pháp luật trọng tài
thì rất dễ hiểu lầm rằng, Luật TTTM không
điều chỉnh các tranh chấp trong các lĩnh
vực dân sự cụ thể khác. Có thể đó là lý do
mà khi tiến hành khảo sát các chuyên gia4
trong việc áp dụng Luật TTTM, rất nhiều ý
kiến cho rằng phạm vi điều chỉnh của Luật
TTTM là rất hẹp và đề xuất bổ sung thêm
cho phép trọng tài có thẩm quyền giải quyết
tranh chấp trong lĩnh vực dân sự, lao động
và nhà ở... Trong bối cảnh hiện nay, việc mở
rộng thẩm quyền giải quyết tranh chấp bằng
trọng tài là cần thiết, không chỉ giúp giải
quyết gánh nặng cho tòa án mà còn thúc đẩy
sự phát triển kinh tế. Theo quy định tại Điều
2 TTTM thì phạm điều chỉnh của Luật này
là khá rộng và nên chăng chúng ta nên mở
rộng hơn nữa thẩm quyền giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài.
1.1. Bài học kinh nghiệm từ nước ngoài
Trong lĩnh vực trọng tài, tại Quyển số IV
của Bộ luật Tố tụng dân sự của Pháp có tựa
đề rất ngắn gọn là “Trọng tài”. Liên quan
đến thẩm quyền của trọng tài, từ Điều 2059
đến Điều 2061 Bộ luật Dân sự của Pháp;
trong đó đáng chú ý là Điều 2059 quy định
rằng, các chủ thể có thể thỏa thuận giải
quyết tranh chấp bằng trọng tài đối với lĩnh
vực mà các bên có quyền tự do định đoạt.
Điều 2060 của Bộ luật này quy định, những
trường hợp không được thỏa thuận giải
quyết tranh chấp bằng trọng tài bao gồm
những vấn đề liên quan đến lý lịch, năng lực
của các chủ thể, những vấn đề liên quan đến
ly hôn, ly thân, những tranh chấp liên quan
đến chủ thể công và một cách chung nhất là
những vấn đề thuộc về trật tự công cộng trừ
những trường hợp mà các chủ thể công trong
lĩnh vực công nghiệp và thương mại được
pháp luật cho phép giải quyết tranh chấp
bằng trọng tài. Ngoài Pháp, chúng ta có thể
học tập kinh nghiệm của nước rất gần gũi
với Việt Nam là Singapore. Singapore cũng
ban hành Luật mang tên là “Luật trọng tài”
(không sử dụng thuật ngữ “thương mại”) và
Điều 4 của Luật này cho phép các bên được
đưa ra trọng tài giải quyết mọi tranh chấp
phát sinh từ hơp đồng và ngoài hợp đồng.
Tại Anh, cũng chỉ ban hành “Luật Trọng tài
2 Liên quan đến lĩnh vực tranh chấp có thể được giải quyết bằng trọng tài, PGS,TS. Đỗ Văn Đại đã có nghiên
cứu và phân tích rất kỹ những tranh chấp có thể được giải quyết bằng trọng tài; trong đó có nhận định rằng,
có những tranh chấp không thuần túy mang bản chất thương mại cũng có thể được giải quyết tại trọng tài.
Ví dụ như tranh chấp giữa một bên là Nhà nước và nhà đầu tư, tranh chấp ngoài hợp đồng nếu có thỏa thuận
trọng tài: Xem Đỗ Văn Đại và Trần Hoàng Hải, “Pháp luật Việt Nam về trọng tài thương mại”, Nxb. Chính trị
quốc gia, 2011, tr. 47 và tiếp theo.
3 Điểm b khoản 8 Điều 146 Luật Xây dựng cho phép các bên có thể đưa tranh chấp ra giải quyết bằng trọng tài.
4 Trong quá trình nghiên cứu Đề tài, nhóm nghiên cứu có lập phiếu khảo sát các chuyên gia là các luật sư,
thẩm phán và trọng tài viên trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Số 12(436) - T6/2021
35
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
1996” - không có thuật ngữ “thương mại”
và khoản 1 Điều 6 Luật này cho phép các
bên được thỏa thuận giải quyết tranh chấp
hợp đồng cũng như tranh chấp ngoài hợp
đồng. Hoặc lấy một ví dụ khác như Trung
Quốc cũng chỉ ban hành “Luật Trọng tài”
và tại Điều 2 cho phép các bên thỏa thuận
giải quyết bằng trọng tài đối với cả tranh
chấp ngoài hợp đồng về quyền và lợi ích
liên quan đến tài sản của các bên.
trọng tài áp dụng pháp luật Việt Nam để giải
quyết tranh chấp; 2. Đối với tranh chấp có
yếu tố nước ngoài, Hội đồng trọng tài áp
dụng pháp luật do các bên lựa chọn; nếu các
bên không có thỏa thuận thì Hội đồng trọng
tài quyết định áp dụng pháp luật mà Hội
đồng trọng tài cho là phù hợp nhất”.
Như vậy, dù là tranh chấp có hay không
có yếu tố nước ngoài thì Hội đồng trọng tài
đều phải giải quyết tranh chấp theo pháp luật
mà không có quyền được giải quyết theo lẽ
công bằng như tòa án theo quy định tại Điều
45 BLTTDS. Nếu như nhìn vào Điều 45
BLTTDS thì lẽ công bằng có thể được áp
dụng khi không có luật điều chỉnh. Vậy nếu
tranh chấp đưa ra trọng tài mà chưa có pháp
luật điều chỉnh thì làm thế nào để trọng tài có
thể giải quyết tranh chấp theo pháp luật. Hơn
thế nữa, ngay cả khi đã có luật điều chỉnh
thì trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp có
yếu tố nước ngoài, chúng ta đã cho phép các
bên được lựa chọn luật áp dụng, vậy tại sao
không cho phép các bên được lựa chọn giải
quyết tranh chấp theo lẽ công bằng?
1.2. Hoàn thiện pháp luật Việt Nam
Như vậy, nếu Việt Nam muốn mở rộng
và phát triển hình thức giải quyết tranh chấp
bằng trọng tài thì việc sửa đổi Luật TTTM
theo hướng như pháp luật nước ngoài là cần
thiết. Theo tác giả, nên sửa “Luật Trọng tài
thương mại” thành “Luật Trọng tài” và mở
rộng thẩm quyền giải quyết tranh chấp của
trọng tài ở “cả tranh chấp hợp đồng và tranh
chấp ngoài hợp đồng”. Để hoàn thiện hơn,
chúng ta nên liệt kê cụ thể những vấn đề
không được giải quyết bởi trọng tài (mô hình
của Pháp). Nếu chúng ta muốn bảo vệ một
bên yếu thế nào đó trong từng lĩnh vực cụ thể
theo pháp luật chuyên ngành thì có thể học
theo cách mà Luật TTTM đã đưa ra để bảo
vệ người tiêu dùng khi trao quyền từ chối
thỏa thuận trọng tài cho người tiêu dùng.
2.2. Phân biệt giữa giải quyết tranh
chấp theo luật và giải quyết tranh chấp
theo lẽ công bằng
Liên quan đến việc trao thẩm quyền giải
quyết theo lẽ công bằng cho trọng tài, Điều
1478 Bộ luật Tố tụng dân sự của Pháp quy
định “trọng tài giải quyết tranh chấp phù
hợp với quy tắc pháp luật trừ khi các bên
trao quyền cho trọng tài giải quyết tranh
chấp theo lẽ công bằng”.
2. Thẩm quyền của trọng tài giải quyết
tranh chấp theo lẽ công bằng
2.1. Lẽ công bằng có thể được áp dụng
bởi tòa án Việt Nam để giải quyết tranh
chấp mà không phải bởi trọng tài
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
(BLTTDS) tại Điều 45 đã cho phép tòa án
được giải quyết tranh chấp theo lẽ công
bằng khi không thể áp dụng tập quán, tương
tự pháp luật và cũng chưa có luật để áp
dụng. Tuy nhiên, đối với trọng tài thì Điều
14 Luật TTTM quy định “1. Đối với tranh
chấp không có yếu tố nước ngoài, Hội đồng
Trước khi có quy định này, tại Pháp cũng
đã nảy sinh những tranh luận rất nhiều về
việc có tồn tại sự khác biệt giữa việc giải
quyết tranh chấp theo luật và giải quyết
tranh chấp theo lẽ công bằng. Trong đó,
có ý kiến cho rằng, giải quyết tranh chấp
theo luật cũng không khác gì với giải quyết
36
Số 12(436) - T6/2021
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
tranh chấp theo lẽ công bằng; bởi vì, trong
giải quyết tranh chấp theo luật đã có công
bằng và trong giải quyết tranh chấp theo lẽ
công bằng cũng phải tuân thủ quy định của
pháp luật5 nên không cần phải trao thẩm
quyền cho trọng tài giải quyết tranh chấp
theo lẽ công bằng. Về vấn đề này, đúng là
giải quyết tranh chấp theo lẽ công bằng
cũng phải tuân thủ pháp luật. Tuy nhiên,
sự khác biệt giữa hai cách thức giải quyết
nằm ở chỗ “quy định của pháp luật… sẽ
xác định những giới hạn - tối thiểu và tối
đa - giữa các khoảng giới hạn đó người ta
hướng đến tìm kiếm những giải pháp phù
hợp nhất”6 cho từng vụ việc cụ thể. Hơn
thế nữa, như Tòa Phúc thẩm Paris của Pháp
đã giải thích “thỏa thuận cho phép trọng
tài giải quyết tranh chấp theo lẽ công bằng
là một sự từ bỏ mang tính thỏa thuận đối
với những hiệu lực và lợi ích của luật, các
bên mất quyền yêu cầu áp dụng một cách
nghiêm khắc pháp luật và từ đó trọng tài
nhận được thẩm quyền sửa đổi hoặc điều
tiết những hậu quả của những quy định của
hợp đồng khi mà yếu tố công bằng hoặc
lợi ích chung của các bên đòi hỏi”7. Từ
những lập luận trên có thể nhận định rằng,
giải pháp được đưa ra bởi trọng tài áp dụng
quy định của pháp luật có thể nặng nề hơn
hoặc nghiêm khắc hơn giải pháp được đưa
ra theo lẽ công bằng8. Do đó, có tồn tại sự
khác biệt rõ ràng giữa việc giải quyết tranh
chấp theo luật và giải quyết tranh chấp theo
lẽ công bằng. Nhận biết được sự khác biệt
này, rất nhiều quốc gia có “thị trường trọng
tài”9 giải quyết tranh chấp phát triển như
Pháp, Bỉ10, Thụy Sỹ11… đã cho phép trọng
tài giải quyết tranh chấp theo lẽ công bằng
theo thỏa thuận của các bên. Vậy, Việt Nam
cho phép trọng tài giải quyết tranh chấp
theo lẽ công bằng như thế nào?
2.3. Cách thức để cho phép trọng tài
giải quyết tranh chấp theo lẽ công bằng
tại Việt Nam
Như chúng ta đã biết, cơ chế giải quyết
tranh chấp bằng trọng tài được áp dụng khi
có thỏa thuận nên mọi vấn đề phải dựa trên
thỏa thuận của các bên. Đối với việc giải
quyết tranh chấp không có yếu tố nước
ngoài, có một nguyên tắc chung đã được
công nhận tại hầu hết các quốc gia trên
thế giới, đó là các bên không được quyền
chọn luật áp dụng để giải quyết tranh chấp
nên các bên cũng không có quyền để trao
cho trọng tài thẩm quyền giải quyết tranh
5 Xem tổng hợp tranh luận về vấn đề này trong nghiên cứu của Nguyen Thi Hoa, Les procédures de règlement
des litiges en matière de construction appliquant les contrats-types FIDIC” - Thèse de doctorat en droit
soutenue le 21 décembre 2018 à l’Université Panthéon-Assas Paris II, publié dans la Biliothèque Cujas, pp.
201-203.
6 René David, Le droit comparé: droit d’hier et droit de demain, Economica, 1982, p.100.
7 C.A Paris, le 28/6/1996, Rev. Arb. 1997, P. 380, Note. É. Loquin.
8 Xem phân tích kỹ hơn trong Nguyen Thi Hoa, tlđd (note 6), pp. 204-207.
9 Thuật ngữ “thị trường trọng tài” đã được biết đến khi mà Tòa án phúc thẩm Riems của Pháp sau khi hủy
phán quyết trọng tài đã nêu lên vấn đề về “chuyên nghiệp hóa chức năng của trọng tài”, xem Jean-Babtiste
Racine, “Note - 22 Juin 2010, UK Court of Appeal (civil division), Revue de l’arbitrage, (Comité francais de
l’arbitrage, Volume 2011, Issue 4), p. 1026-1041. Sau đó, thuật ngữ này được dùng phổ biến, xem Vincent
Chantebout, “Note - 29 Juin 2011, Cour de cassation (1er Ch. Civil), Revue de l’arbitrage (Comité francais de
l’arbitrage, Volume 2011, Issue 4), p. 962-969. Đến nay thì không ai còn tranh cãi về sự tồn tại một “thị trường
trọng tài”, xem Thomas Clay et Walid Ben Hamida, “l’argent dans l’arbitrage”, Lextenso 2013, p.13-28.
10 Khoản 3 Điều 1710 Bộ luật Tư pháp của Bỉ (Code Judiciaire).
11 Điều 187 của Luật Liên bang về Tư pháp quốc tế (Loi fédérale sur le droit international privé).
Số 12(436) - T6/2021
37
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
chấp theo lẽ công bằng. Vì vậy, chỉ nên cho
trọng tài áp dụng lẽ công bằng với các điều
kiện được đặt ra như đã đặt ra với tòa án tại
Điều 45 BLTTDS Việt Nam khi không có
luật điều chỉnh và không thể áp dụng tập
quán hay tương tự pháp luật đối với quan
hệ tranh chấp không có yếu tố nước ngoài.
tranh chấp mà chỉ cần ở các nước khác nhau
họp thông qua cuộc gọi trực tuyến (video
call hoặc chat room). Vậy, phiên họp trực
tuyến đó có phù hợp với thỏa thuận về địa
điểm của trọng tài hay không nếu như các
bên thỏa thuận địa điểm giải quyết tranh
chấp tại Việt Nam nhưng các trọng tài viên
lại được chọn từ các nước khác nhau như
Pháp, Anh, Singapore. Nếu hội đồng trọng
tài trong trường hợp này xét xử trực tuyến
có bị xem là vi phạm thủ tục tố tụng trọng
tài và bị từ chối công nhận và cho thi hành
do vi phạm thủ tục tố tụng theo điểm d
khoản 1 Điều 5 của Công ước New York
1958 hoặc bị hủy theo quy định tại điểm b
khoản 2 Điều 68 Luật TTTM Việt Nam hay
không? Hoặc nếu trọng tài xét xử trực tuyến
thì nơi nào được xem là địa điểm giải quyết
tranh chấp để có thể xác định luật áp dụng
cho thỏa thuận trọng tài, xác định phạm vi
tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài
và thậm chí xác định cả thủ tục hủy hay từ
chối công nhận và cho thi hành phán quyết
trọng tài”?
Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài
thì nên vận dụng theo mô hình của Pháp và
các nước có quy định về lẽ công bằng là
chỉ cho phép trọng tài giải quyết tranh chấp
theo lẽ công bằng khi các bên có thỏa thuận
rõ ràng về vấn đề này. Mô hình này cũng
được quy định tại khoản 3 Điều 21 Quy tắc
tố tụng trọng tài của Phòng Thương mại
quốc tế (ICC) và cũng được pháp luật ở hầu
hết các nước áp dụng khi cho phép trọng tài
giải quyết tranh chấp theo lẽ công bằng. Để
áp dụng chính sách này, nên quy định rằng,
thỏa thuận giữa các bên phải được lập bằng
văn bản có ghi rõ là “cho phép trọng tài giải
quyết theo lẽ công bằng”. Ở đây, chúng ta
trao cho các bên quyền thỏa thuận áp dụng
lẽ công bằng nên khi không có thỏa thuận
thì hội đồng trọng tài vẫn phải giải quyết
tranh chấp theo quy định của pháp luật.
Liên quan đến địa điểm giải quyết tranh
chấp, vấn đề này không được quy định
trong các điều ước quốc tế mà tồn tại trong
pháp luật quốc gia. Điều 3 Luật Trọng tài
của Anh quy định địa điểm trọng tài là “địa
điểm về mặt pháp lý được chỉ định bởi các
bên; hoặc bởi cơ quan, chủ thể do các bên
thỏa thuận; hoặc bởi hội đồng trọng tài do
các bên trao quyền hoặc nếu không có sự
trao quyền của các bên thì Hội đồng trọng
tài sẽ quyết định dựa trên các yếu tố liên
quan đến thỏa thuận trọng tài”. Như vậy,
Luật của Anh nhìn nhận địa điểm giải quyết
tranh chấp bằng trọng tài là “địa điểm về mặt
pháp lý” mà không phải là địa điểm được
xác định theo vị trí địa lý. Do đó, mặc dù
các bên thỏa thuận chọn địa điểm trọng tài
tại Việt Nam nhưng theo quy định nêu trên
thì các trọng tài vẫn có thể xét xử trực tuyến
3. Xác định địa điểm giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài
Trong những ngày qua, cả thế giới đang
đối mặt với cuộc khủng hoảng chưa từng có
trong lịch sử do hậu quả của dịch Covid-19.
Mọi hoạt động của con người đã bị đình trệ
hoặc bị thay đổi thay vì gặp mặt trực tiếp,
các giao dịch để có thể tiếp tục thì hầu hết
phải được thực hiện thông qua hỗ trợ của
công nghệ hay nói cách khác là phải thực
hiện trực tuyến. Do đó, việc giải quyết trực
tuyến tranh chấp thương mại trở nên cần
thiết hơn bao giờ hết. Khi giải quyết tranh
chấp trực tuyến thì có thể xảy ra tình huống
là các thành viên của hội đồng trọng tài sẽ
không có cuộc gặp mặt trực tiếp với các bên
38
Số 12(436) - T6/2021
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
và việc này không ảnh hưởng đến việc xác
định địa điểm giải quyết tranh chấp về mặt
pháp lý là tại Việt Nam. Khi đó, phán quyết
trọng tài được tuyên trực tuyến sẽ không bị
xem là vi phạm tố tụng trọng tài và có thể
được công nhận và cho thi hành tại Anh.
tâm Trọng tài của Singapore hoặc của Anh,
nhưng thỏa thuận địa điểm trọng tài về mặt
pháp lý là tại Việt Nam. Tuy nhiên, nếu thực
tế địa điểm về mặt địa lý của phiên họp giải
quyết tranh chấp diễn ra tại Anh thì khi đó
Luật Việt Nam sẽ không thể được áp dụng
vì theo quy định tại Điều 1 thì Luật TTTM
chỉ áp dụng đối với tổ chức và hoạt động
của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam mà
không áp dụng đối với hoạt động của trọng
tài nước ngoài tại nước ngoài. Tuy nhiên,
nếu chúng ta thay đổi khái niệm địa điểm
trọng tài là địa điểm về mặt pháp lý thì dù
rằng hội đồng trọng tài xét xử thực tế tại
Anh nhưng địa điểm trọng tài vẫn là tại Việt
Nam và khi đó Luật Việt Nam vẫn có thể
được áp dụng.
Tuy nhiên, Việt Nam không xác định yếu
tố địa điểm trọng tài “là địa điểm về mặt
pháp lý”12 như quy định của pháp luật Anh.
Khoản 8 Điều 3 Luật TTTM đã đưa ra định
nghĩa về địa điểm giải quyết tranh chấp bằng
trọng tài “là nơi hội đồng trọng tài tiến hành
giải quyết tranh chấp theo sự thỏa thuận lựa
chọn của các bên hoặc do Hội đồng trọng
tài quyết định nếu các bên không có thỏa
thuận. Nếu địa điểm giải quyết tranh chấp
được tiến hành trên lãnh thổ Việt Nam thì
phán quyết phải được xem là tuyên tại lãnh
thổ Việt Nam mà không phụ thuộc vào nơi
Hội đồng trọng tài tiến hành phiên họp để ra
phán quyết đó”. Theo đó, Việt Nam không
xác định địa điểm trọng tài là “địa điểm về
mặt pháp lý” mà là địa điểm về mặt địa lý.
Do đó, sẽ có rủi ro cho phán quyết trọng tài
xét xử trực tuyến bị từ chối công nhận và
cho thi hành tại Việt Nam hoặc bị hủy vì vi
phạm thủ tục tố tụng trọng tài. Vì vậy, trong
tương lai, nếu Việt Nam muốn ủng hộ hoạt
động trọng tài trực tuyến thì cần phải thay
đổi quy định về vấn đề này.
4. Việc từ bỏ quyền yêu cầu hủy phán
quyết trọng tài
Phán quyết trọng tài có thể bị hủy bởi tòa
án được xem như là một trong những điểm
bất lợi của thủ tục trọng tài và làm giảm sự
phát triển của cơ chế giải quyết tranh chấp
bằng trọng tài. Có chuyên gia đã từng nhận
định rằng “trọng tài chỉ có thể là một công
lý đầy hấp dẫn nếu sản phẩm của trọng tài
thể hiện được ủy quyền to lớn. Để làm được
điều này thì quyết định trọng tài không thể
bị phản đối một cách quá lâu hoặc quá dễ
dãi. Nói cách khác, những yêu cầu nhằm
chống lại phán quyết trọng tài cần phải được
tiếp cận một cách rất hạn chế”13. Do đó, để
phát triển thủ tục giải quyết tranh chấp bằng
trọng tài, cần giới hạn việc phán quyết trọng
tài bị hủy hay bị yêu cầu hủy vô căn cứ. Hơn
thế nữa, có những tình huống mà việc hủy
phán quyết trọng tài tại nước mà phán quyết
Thiết nghĩ việc thay đổi theo hướng quy
định như pháp luật của Anh là phù hợp vì
không chỉ góp phần thúc đẩy hoạt động
trọng tài trực tuyến mà còn giúp pháp luật
của Việt Nam không bị mất quyền áp dụng
trong các giao dịch quốc tế khác. Ví dụ, khi
hai bên thỏa thuận chọn trọng tài là Trung
12 Xem thêm phân tích tại “Virtual Hearing to the Rescue: Let’s pause for the seat?, Kluwer Arbitration Blog:
rescue-lets-pause-for-the-seat/, truy cập ngày 01/12/2020.
13 Christophe Seraglini, “l’efficacité et l’autorité renforcées des sentences arbitrales en France après le Décret
No2011-48 du 13 janvier 2011”, Cahiers de l’arbitrage, No2, 01/4/2011, p.375 et s.
Số 12(436) - T6/2021
39
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
trọng tài được tuyên là không cần thiết nếu
như phán quyết đó không được thi hành tại
nơi được tuyên mà được thi hành tại nước
ngoài. Ví dụ như một phán quyết trọng tài
được tuyên tại Việt Nam và bị hủy thì vẫn có
thể được công nhận và cho thi hành tại Pháp
vì nước này không xem xét việc phán quyết
trọng tài bị hủy tại nước ngoài là cơ sở để
từ chối công nhận và cho thi hành14. Chính
vì vậy, để Việt Nam có thể là một địa điểm
tốt cho sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại
trọng tài bởi các chủ thể kinh doanh và đặc
biệt là chủ thể kinh doanh quốc tế thì pháp
luật Việt Nam cần phải có chính sách hạn
chế việc hủy phán quyết trọng tài, trong đó
có việc trao quyền cho các bên thỏa thuận
từ bỏ việc yêu cầu hủy phán quyết trọng tài.
mà không bên nào yêu cầu hủy phán quyết
trọng tài thì phán quyết trọng tài sẽ được thi
hành bởi cơ quan thi hành án theo yêu cầu
của các bên liên quan. Nếu chúng ta đã thừa
nhận quyền kháng cáo hủy phán quyết trọng
tài thì có lẽ không có lý do gì chúng ta lại
không đi xa hơn một bước nữa là cho phép
các bên được thỏa thuận từ bỏ quyền yêu cầu
hủy phán quyết trọng tài.
Liên quan đến việc từ bỏ quyền yêu cầu
hủy phán quyết trọng tài, Điều 1522 Bộ luật
Tố tụng dân sự của Pháp cũng có quy định
“bằng một thỏa thuận cụ thể, các bên có thể,
tại bất kỳ thời điểm nào, từ bỏ một cách rõ
ràng việc kháng cáo hủy phán quyết trọng
tài”. Như vậy, có thể nói, việc cho phép các
bên thỏa thuận từ bỏ quyền yêu cầu hủy
phán quyết trọng tài không phải là một vấn
đề chưa từng được biết tới. Ngoài Pháp,
cũng có rất nhiều quốc gia đã cho phép điều
này15. Nếu Việt Nam đã nhìn nhận việc yêu
cầu hủy phán quyết trọng tài là quyền mà
không phải nghĩa vụ của các bên thì nên
cho phép các bên được thỏa thuận để từ bỏ
quyền này. Việc quy định theo hướng mở
rộng quyền tự do cho các bên như vậy đã
được xem là cách để nước ngoài “marketing
pháp luật” về trọng tài16. Điều này giúp cho
pháp luật của chúng ta gần hơn với thế giới
và cũng là cách tốt nhất để thu hút các nhà
đầu tư lựa chọn Việt Nam là nơi giải quyết
tranh chấp bằng trọng tài.
4.1. Yêu cầu hủy phán quyết trọng tài là
quyền mà không phải nghĩa vụ của các bên
Luật TTTM quy định phán quyết trọng
tài là chung thẩm và có hiệu lực kể từ ngày
ban hành (khoản 5 Điều 61) và Nhà nước
khuyến khích các bên tự nguyện thi hành
phán quyết trọng tài (Điều 65). Hết thời hạn
thi hành phán quyết trọng tài mà bên phải thi
hành phán quyết không tự nguyện thi hành
và cũng không yêu cầu hủy phán quyết trọng
tài thì bên được thi hành phán quyết trọng
tài có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan thi
hành án dân sự có thẩm quyền thi hành phán
quyết trọng tài (khoản 1 Điều 66). Với quy
định này, có thể thấy rằng, Việt Nam đã nhìn
nhận việc yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
là quyền của các bên mà không phải nghĩa
vụ. Do đó, nếu hết thời hạn kháng cáo hủy
Nếu chúng ta lo ngại áp dụng cơ chế
trên sẽ không đảm bảo an toàn pháp lý nếu
cơ sở của việc hủy phán quyết trọng tài là
14 Trong khoa học pháp lý về trọng tài, người ta cho rằng, trọng tài giải quyết tranh chấp mang tính quốc tế “không
có tính quốc gia/không thuộc về một quốc gia nào” nên vị trí của trọng tài không phải là yếu tố quan trọng để tòa
án quốc gia nơi phán quyết trọng tài được tuyên kiểm soát đối với phán quyết trọng tài. Xem Julien Burda, “La
renonciation au recours en annulation dans le nouveau droit français de l’arbitrage”, RTD. Com. 2013, p. 653.
15 Ví dụ Điều 25 Luật thống nhất về trọng tài của Hohada (sửa đổi năm 2017), Điều 192 của Luật liên bang về
Tư pháp quốc tế của Thụy Sỹ.
16
Charles Jarrosson, “Les principales tendances du nouveau droit français de l’arbitrage international”,
Arbitraje: Revista de Arbitraje Comercial y de Inversiones; Iprolex 2011, Volume 4, Issue 3, p. 812-821.
40
Số 12(436) - T6/2021
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
“phán quyết trọng tài trái với nguyên tắc
cơ bản của pháp luật Việt Nam” thì lo lắng
đó không cần thiết. Vì như quy định tại
Điều 66 Luật TTTM thì ngay cả khi phán
quyết trọng tài trái với nguyên tắc cơ bản
của pháp luật Việt Nam mà không có bên
nào kháng cáo hủy thì phán quyết đó vẫn có
cơ hội được thi hành. Hơn thế nữa, chúng
ta trao cho các bên quyền được thỏa thuận
chứ không tước quyền yêu cầu hủy phán
quyết trọng tài của các bên. Do đó, nếu một
bên nào đó cảm thấy không được an toàn
thì hoàn toàn có thể từ chối tham gia thỏa
thuận từ bỏ yêu cầu hủy phán quyết trọng
tài trong một quan hệ thương mại được xem
như là rất bình đẳng giữa các bên.
Việt Nam đã thông qua quy định tại khoản 10
Điều 71 Luật TTTM rằng, quyết định của tòa
án giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng
tài sẽ là quyết định cuối cùng và có hiệu
lực thi hành. Liên quan đến quy định này,
có quan điểm cho rằng, Luật TTTM không
hề giới hạn việc kháng cáo phúc thẩm hoặc
giám đốc thẩm đối với quyết định của tòa
án về việc hủy hoặc không hủy phán quyết
trọng tài17. Do đó, trong những giai đoạn đầu
của việc áp dụng Luật TTTM, đã có những
vụ việc mà quyết định hủy hoặc không hủy
phán quyết trọng tài là đối tượng của kháng
cáo18 lên Tòa án nhân dân tối cao. Trước
thực trạng áp dụng pháp luật nêu trên, ngày
13/01/2015 tại Văn bản số 07/TANDTC-
KHXX về việc thi hành phán quyết trọng tài
thương mại, Tòa án nhân dân tối cao đã có
hướng dẫn “… tòa án có quyền ra quyết định
hủy hoặc không hủy phán quyết trọng tài.
Quyết định của tòa án hủy hoặc không hủy
phán quyết trọng tài là quyết định cuối cùng,
có hiệu lực thi hành và không bị kháng nghị
theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
Do vậy, khi xem xét giải quyết loại yêu cầu
này, các tòa án cần thận trọng, xem xét khách
quan, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, các
vấn đề khác của vụ việc và căn cứ vào pháp
luật hiện hành để có quyết định chính xác, từ
đó góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền
con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã
hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá
nhân”. Với hướng dẫn nêu trên của Tòa án
nhân dân tối cao thì không còn cơ hội nào
cho việc kháng cáo hay kháng nghị đối với
quyết định của tòa án giải quyết yêu cầu hủy
phán quyết trọng tài. Cách áp dụng pháp luật
4.2. Cách thức hoàn thiện pháp luật
Việt Nam
Nếu tiếp thu quan điểm nêu trên, Việt
Nam có thể áp dụng theo cách thực tế các
nước đang áp dụng là cho phép các bên từ
bỏ quyền kháng cáo hủy phán quyết trọng
tài nhưng với điều kiện là việc từ bỏ đó phải
được lập bằng văn bản thể hiện rõ ý chí là
“các bên đồng ý từ bỏ quyền yêu cầu hủy
phán quyết trọng tài” mà không phải theo
hướng suy đoán hay ngầm hiểu. Ngoài ra,
có thể cho phép các bên thiết lập thỏa thuận
từ bỏ đó “ở mọi thời điểm” sẽ là phù hợp.
5. Việc kháng cáo đối với quyết định của
tòa án giải quyết yêu cầu hủy phán quyết
trọng tài
5.1. Không thể kháng cáo hoặc kháng
nghị quyết định của tòa án giải quyết yêu
cầu hủy phán quyết trọng tài
Để đảm bảo cho việc giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài không bị kéo dài quá lâu,
17 Đỗ Văn Đại, Pháp luật trọng tài thương mại Việt Nam - Bản án và bình luận bản án, tập 2, Nxb. Hồng Đức -
Hội Luật gia Việt Nam, 2017, tr.192.
18
Xem Quyết định kháng nghị số 63/2013/KDTM.KN ngày 01/11/2013 của Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao; hoặc Quyết định số 137/2013/QĐ-KDTM ngày 23/7/2013 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao
tại TP. Hồ Chí Minh.
Số 12(436) - T6/2021
41
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
trọng tài này có thể xem như là một minh
chứng cho sự ủng hộ hoạt động trọng tài của
Nhà nước Việt Nam. Vấn đề đặt ra là cách
làm trên có thực sự hiệu quả hay không?
ra là một bên có được bỏ qua thủ tục tiền
trọng tài để đưa tranh chấp trực tiếp ra trọng
tài hay không?
Về vấn đề này, trên thực tế, Tòa án nhân
dân TP. Hà Nội19 đã có dịp thụ lý yêu cầu
hủy phán quyết trọng tài theo quy định của
điểm b khoản 2 Điều 68 Luật TTTM với lý
do là Hội đồng trọng tài đã vi phạm thủ tục
tố tụng vì thụ lý yêu cầu của nguyên đơn để
giải quyết tranh chấp khi mà các bên chưa
có bất kỳ động thái nào để thực hiện bước 1 -
giải quyết tranh chấp bằng con đường hòa
giải. Trước yêu cầu này, Tòa án nhân dân
TP. Hà Nội đã cho rằng “Khi hai bên phát
sinh tranh chấp mà chưa được giải quyết
theo bước 1 tại Điều 4 của hợp đồng […] là
chưa tuân thủ đúng thỏa thuận của các bên,
trái với các quy định tại điểm b khoản 2
Điều 68 Luật TTTM. Hội đồng trọng tài
thụ lý vụ kiện khi chưa đầy đủ điều kiện
tố tụng, các điều kiện thụ lý chưa đầy đủ
là không đúng quy định của pháp luật Việt
Nam”. Do đó, Tòa án trong tình huống này
đã hủy toàn bộ phán quyết trọng tài.
5.2. Bất cập của chính sách không kháng
cáo, kháng nghị quyết định của tòa án giải
quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
Thực tế áp dụng chính sách nêu trên đã
cho thấy những bất cập, theo đó cùng về
một vấn đề, tòa án các địa phương đã đưa
ra cách giải quyết trái ngược nhau. Có thể
lấy ví dụ từ các giải pháp của tòa án địa
phương được đưa ra trước câu hỏi rất thời
sự hiện nay là việc tuân thủ thủ tục tiền
tố tụng trọng tài trong các thỏa thuận giải
quyết tranh chấp đa tầng.
Trọng thực tiễn hợp đồng kinh doanh
quốc tế hiện nay, thường tồn tại một thỏa
thuận giải quyết tranh chấp đa tầng như tranh
chấp phát sinh trước tiên phải được giải
quyết bằng con đường hòa giải hoặc ý kiến
chuyên gia, nếu không thể giải quyết tranh
chấp thì các bên có thể đưa tranh chấp ra
giải quyết bằng trọng tài, như ví dụ Điều 20
của mẫu Hợp đồng Red Book 1999 của
FIDIC (Hiệp hội quốc tế các kỹ sư tư vấn)
trong lĩnh vực xây dựng quy định như sau:
Tuy nhiên, một vụ việc khác cũng liên
quan đến yêu cầu hủy phán quyết trọng tài với
lý do trọng tài đã giải quyết tranh chấp khi hai
bên chưa có việc giải quyết tranh chấp bằng
đàm phán, hòa giải đã được Tòa án nhân dân
TP. Hồ Chí Minh đưa ra giải pháp hoàn toàn
trái ngược để từ chối hủy phán quyết trọng
tài. Tòa án20 trong vụ việc này đã cho rằng,
“Các lý do của bị đơn nêu trên liên quan đến
nội dung giải quyết tranh chấp của Hội đồng
trọng tài, theo quy định tại khoản 4 Điều 71
Luật TTTM thì tòa án không xét xử lại nội
dung tranh chấp mà hội đồng trọng tài đã giải
quyết. Vì vậy, các lý do nêu trên của bị đơn để
yêu cầu hủy phán quyết trọng tài là không có
căn cứ để chấp nhận”.
“20.2. Mọi tranh chấp phát sinh sẽ được
giải quyết bởi Ban xử lý tranh chấp (DAB)
[…]; 20.5. Nếu một bên không hài lòng với
quyết định của DAB thì các bên có thể nỗ
lực giải quyết bằng con đường thương lượng
hòa giải trước khi tiến hành giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài […]; 20.6. Nếu không
thể giải quyết bằng thương lượng, hòa giải
thì tranh chấp sẽ được giải quyết một cách
dứt điểm bởi trọng tài quốc tế […]”.
Với tình huống một thỏa thuận giải quyết
tranh chấp đa tầng như trên thì câu hỏi đặt
19 Quyết định số 10/2014/QĐ-PQTT ngày 28/10/2014 của Tòa án nhân dân TP. Hà Nội.
20 Quyết định số 795/2017/QĐ-PQTT ngày 27/6/2017 của Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh.
42
Số 12(436) - T6/2021
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
Như vậy, cùng một vấn đề pháp lý và
cùng áp dụng Luật TTTM Việt Nam nhưng
hai tòa án đã có giải pháp hoàn toàn trái
ngược nhau. Cụ thể Tòa án nhân dân TP. Hà
Nội cho rằng, không tôn trọng thủ tục tiền
tố tụng trọng tài thuộc vấn đề vi phạm tố
tụng trọng tài nên hủy phán quyết trọng tài;
trong khi đó Tòa án nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh lại xác định đó là vấn đề thuộc về
nội dung vụ kiện nên Tòa án không xét xử
lại nội dung tranh chấp. Sự xung đột trong
xét xử này ảnh hưởng trực tiếp đến việc thi
hành phán quyết trọng tài21. Sở dĩ tồn tại sự
trái ngược trong xét xử và áp dụng pháp luật
nêu trên là vì quyết định hủy hoặc không
hủy phán quyết trọng tài là quyết định cuối
cùng mà không có một sự giám sát nào bởi
tòa án cấp cao. Chúng ta chưa cần phân tích
tính hợp lý hay đúng - sai của hai quyết định
của hai Tòa án, nhưng tình huống trên có
thể dẫn đến làm mất lòng tin của người dân
và doanh nghiệp đối với công lý. Điều này
sẽ trầm trọng hơn nếu như có những quyết
định của Tòa án có sai sót trong việc áp
dụng pháp luật22.
trọng tài để đảm bảo áp dụng pháp luật một
cách thống nhất trên phạm vi cả nước là
hoàn toàn cần thiết để hạn chế và loại bỏ sai
sót cũng như đảm bảo được tính thống nhất
trong việc áp dụng pháp luật.
5.3. Hoàn thiện pháp luật Việt Nam
Luật TTTM cần phải được sửa đổi theo
hướng cho phép một kháng cáo hoặc kháng
nghị lên Tòa án nhân dân tối cao đối với
quyết định của tòa án giải quyết yêu cầu
hủy phán quyết trọng tài. Để hạn chế việc
các bên lợi dụng việc kháng cáo để kéo dài
thời gian thi hành phán quyết trọng tài cũng
như ủng hộ sự phát triển của trọng tài thì
nên chỉ áp dụng kháng cáo đối với quyết
định bất lợi đối với phán quyết trọng tài, cụ
thể là quyết định hủy phán quyết trọng tài23.
Chúng ta không nên lo ngại rằng, nếu đưa
cơ chế này vào Luật TTTM sẽ làm giảm
tính hấp dẫn của cơ chế giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài, vì các quốc gia có nền
trọng tài được xem là phát triển nhất thế giới
như Pháp cũng vẫn cho phép kháng cáo lên
Tòa án nhân dân tối cao đối với quyết định
giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài.
Thậm chí Pháp còn cho phép kháng cáo đối
với cả quyết định không hủy phán quyết
trọng tài. Ngoài Pháp, Luật Trọng tài 1996
Từ hai vụ việc trên cho thấy, việc có một
cơ chế giám sát đối với quyết định của tòa
án giải quyết yêu cầu hủy phán quyết của
21 Vấn đề này cũng tồn tại trên phạm vi quốc tế. Tuy nhiên, thiết nghĩ nếu chúng ta ủng hộ sự phát triển của
trọng tài thì không nên hủy phán quyết trọng tài trong tình huống này với lý do là vi phạm thủ tục tố tụng
trọng tài. Vì theo quy định tại Điều 31 Luật TTTM, thời điểm bắt đầu tố tụng trọng tài được xác định từ khi
Trung tâm trọng tài nhận được đơn khởi kiện hoặc khi đơn khởi kiện được gửi đến cho bị đơn mà không tính
thời điểm tiền tố tụng trọng tài. Do đó, việc không tuân thủ bước 1 - hòa giải, đàm phán trước khi đưa tranh
chấp ra trọng tài không nằm trong tố tụng trọng tài nên không thể hủy phán quyết trọng tài do vi phạm tố tụng.
Hơn thế nữa, việc tôn trọng thủ tục tiền trọng tài (thường mang tính chất thỏa thuận hay hợp đồng của các bên
mà không phải bắt buộc của luật) có cùng bản chất với tuân thủ bất kỳ điều khoản hợp đồng nào khác và hội
đồng trọng tài có quyền tự quyết trên cơ sở cân nhắc mọi tình huống của hợp đồng. Do đó, nên nhìn nhận vấn
đề trên là thuộc về nội dung của phán quyết trọng tài mà Tòa án thụ lý yêu cầu hủy phán quyết trọng trọng tài
không có quyền can thiệp. Giải pháp này cũng được Pháp áp dụng để ủng hộ phán quyết trọng tài (xem CA
Paris, Pôle 01. Ch. 01 26/6/2012, No10/18442, Lextenso.fr.)
22 Xem Đỗ Văn Đại, tlđd, tr.197.
23 Đây cũng là quan điểm mà Trọng tài Viên Lê Thiết Hùng-Trung tâm Trọng tài Thương mại Tài chính Ngân
hàng Việt Nam khi được khảo sát lấy ý kiến nhằm phục vụ nghiên cứu Đề tài “Phương thức giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” do PGS. TS. Đỗ Văn Đại làm chủ nhiệm.
Số 12(436) - T6/2021
43
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
của Anh tại Điều 68, 69 cũng cho phép
quyết định hủy hoặc không hủy phán quyết
trọng tài có thể bị kháng cáo.
phán vẫn có thể ra quyết định hoãn thi hành
phán quyết trọng tài nhưng việc này là có điều
kiện yêu cầu và “trong lĩnh vực trọng tài quốc
tế, việc hoãn thi hành phán quyết trọng tài
rất hiếm khi được chấp nhận. Người yêu cầu
hoãn thi hành phán quyết trọng tài phải chứng
minh được rằng yêu cầu hủy phán quyết trọng
tài có nhiều cơ hội được chấp nhận và việc thi
hành ngay phán quyết trọng tài có thể gây cho
họ một thiệt hại không thể khắc phục được”24.
Pháp luật Hà Lan cũng có hướng tương tự khi
khoản 1 Điều 1066 Bộ luật Tố tụng dân sự
(BLTTDS) Hà Lan quy định “yêu cầu hủy
phán quyết trọng tài không hoãn việc thực thi
phán quyết trọng tài”. Tại Hà Lan, yêu cầu
hủy phán quyết trọng tài không đương nhiên
làm hoãn việc thi hành phán quyết mà một bên
nếu muốn hoãn việc thi hành phán quyết thì
phải cầu Tòa án thụ lý yêu cầu hủy phán quyết
trọng tài cho đến khi tòa án có quyết định cuối
cùng về việc hủy hoặc không hủy phán quyết
trọng tài (khoản 2 Điều 1066 BLTTDS).
Nhìn lại hai vụ việc nêu trên, nếu như tồn
tại một cơ chế kháng cáo thì Tòa án nhân
dân tối cao có thể đưa ra một giải pháp định
hướng để các tòa án địa phương có thể đưa
ra những quyết định mang tính thống nhất
khi giải quyết cùng một vấn đề pháp lý.
6. Vấn đề hoãn thi hành phán quyết trọng
tài khi yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
Khoản 1 Điều 66 Luật TTTM Việt Nam
quy định “hết thời hạn thi hành phán quyết
trọng tài mà bên phải thi hành phán quyết
không tự nguyện thi hành và cũng không
yêu cầu hủy phán quyết trọng tài theo quy
định tại Điều 69 của Luật này, bên được thi
hành phán quyết trọng tài có quyền làm đơn
yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm
quyền thi hành phán quyết trọng tài”. Quy
định nêu trên có thể cho phép suy luận rằng,
việc thi hành phán quyết trọng tài sẽ không
thể được thực hiện nếu có yêu cầu hủy phán
quyết trọng tài. Điều này có thể bị lợi dụng
bởi bên không thiện chí nhằm kéo dài thời
gian thi hành phán quyết trọng tài.
Như vậy, các nước có nền trọng tài phát
triển đều không cho phép yêu cầu hủy phán
quyết trọng tài đương nhiên dẫn đến hoãn
thi hành phát quyết trọng tài. Việt Nam cần
tham khảo các quy định của pháp luật nước
ngoài này; theo đó chúng ta nên quy định về
việc hoãn thi hành phán quyết trọng tài chỉ
được áp dụng khi có yêu cầu và được tòa án
hủy phán quyết trọng tài chấp nhận. Thiết
nghĩ việc kháng cáo hủy không đương nhiên
dẫn đến việc hủy phán quyết trọng tài và
sự thật hiển nhiên là tỷ lệ quyết định trọng
tài bị hủy thấp hơn tỷ lệ phán quyết trọng
tài bị từ chối hủy. Do đó, nếu cho phép yêu
cầu hủy phán quyết trọng tài dẫn tới đương
nhiên hoãn thi hành phán quyết trọng tài thì
sẽ dẫn đến rất nhiều phán quyết trọng tài bị
Về vấn đề này, pháp luậtViệt Nam khác với
pháp luật của Pháp ở chỗ Điều 1562 Bộ luật
Tố tụng dân sự Pháp quy định, “kháng cáo hủy
phán quyết trọng tài không thể nào làm hoãn
việc thi hành phán quyết”. Cũng theo Điều
khoản trên, việc hoãn thi hành phán quyết
trọng tài chỉ được cho phép bởi thẩm phán
thụ lý yêu cầu khi thấy cần thiết. Trường hợp
này tương tự pháp luật Thụy Sỹ khi khoản 1
Điều 190 Luật Tư pháp quốc tế của Thụy Sỹ
quy định phán quyết trọng tài là “cuối cùng/
chung thẩm” (“sentence définitive”) kể từ khi
nó được thông báo, mặc dù ở Thụy Sỹ, thẩm
hoãn thi hành một cách bất hợp lý
24
Jean-François Poudret, “Les recours au Tribunal fédéral suisse en matière d’arbitrage international
(Commentaire de l’art. 77 LTF)”, ASA Bulletin 2007, p.683.
44
Số 12(436) - T6/2021
Bạn đang xem tài liệu "Hoàn thiện pháp luật trọng tài ở Việt Nam hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
hoan_thien_phap_luat_trong_tai_o_viet_nam_hien_nay.pdf

