Đề tài Định hướng nghề của sinh viên năm 4 ngành Tâm lý học ở thành phố Hồ Chí Minh

LỜI CAM ĐOAN  
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Tâm lí học với đề tài “Định hướng nghề của  
sinh viên năm 4 ngành Tâm lý học ở thành phố Hồ Chí Minh” được tác giả nghiên  
cứu lần đầu tiên. Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Kết quả,  
số liệu nghiên cứu được trích dẫn và giới thiệu trong luận văn là hoàn toàn trung thực  
và chưa từng công bố trong bất kỳ một công trình khoa học nào.  
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2018  
Tác giả  
Trần Thị Hà  
LỜI CẢM ƠN  
Để đạt được kết quả như hôm nay, tôi xin chân thành bày tỏ lòng tri ân đến:  
Quý Thầy Cô trong khoa tâm lý học Trường Đại học Sư phạm TPHCM và nhà trường  
đã tạo môi trường học tập cho tôi được tham gia nghiên cứu khoa học.  
Thạc sĩ Võ Minh Thành, người đã tận tình hướng dẫn và khích lệ tôi trong quá trình  
thực hiện đề tài.  
Quý thầy cô trong ban giám khảo hội đồng khoa học  
Cùng tất cả những người thân, chị em và bạn bè đã khuyến khích động viên và tạo  
điều kiện cho tôi được hoàn thành tốt nhất có thể.  
Khóa luận tốt nghiệp hoàn thành với sự phấn đấu và cố gắng hết mình tuy nhiên cũng  
không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi xin cảm ơn và ghi nhận những ý kiến đóng góp  
của quý Thầy Cô giáo và bạn bè!  
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2018  
Tác giả  
Trần Thị Hà  
MỤC LỤC  
LỜI CAM ĐOAN  
LỜI CẢM ƠN  
MỤC LỤC  
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................................1  
2.2.4.Hành vi ĐHN của sinh viên năm 4 ngành TLH ..Error! Bookmark not defined.  
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT  
STT  
1
Chữ viết tắt  
ĐH  
ĐHKHXH&NV Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn  
ĐHN Định hướng nghề  
ĐHSP TPHCM Đại học Sư Phạm thành phố Hồ Chí Minh  
Nghĩa đầy đủ  
Đại học  
2
3
4
5
ĐHVH  
ĐTB  
Đại học Văn Hiến  
Điểm trung bình  
Giáo dục và đào tạo  
Hà Nội  
6
7
GD-ĐT  
HN  
8
9
HS  
Học sinh  
10  
11  
12  
13  
14  
15  
16  
17  
18  
19  
20  
KHCN  
KHXHVN  
KT-XH  
NNC  
Khoa học công nghệ  
Khoa học xã hội Việt Nam  
Kinh Tế-Xã Hội  
Người nghiên cứu  
Phần mềm xử lý số liệu  
Sinh viên  
SPSS  
SV  
THPT  
TLH  
Trung học phổ thông  
Tâm lý học  
TP HCM  
UDTLH  
UNICEF  
Thành phố Hồ Chí Minh  
Ứng dụng Tâm lý học  
Quỹ nhi đồng liên hiệp quốc  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
Bảng 2.1 Thống kê thành phần mẫu..........................................................................44  
Bảng 2.2 Tổng hợp hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha................................................46  
Bảng 2.3 Kết quả về vấn đề khó khăn của SV trong ĐHN……………………..... 47  
Bảng 2.4 Kết quả hiểu biết của sinh viên về nghề có thể làm sau khi tốt  
nghiệp……....................................................................................................................48  
Bảng 2.5 Kết quả lựa chọn nghề của SV theo từng CVError! Bookmark not defined.  
Bảng 2.6 Kết quả nhận thức về phẩm chất đối với nhóm nghề giảng dạy.............54  
Bảng 2.7 Kết quả nhận thức về phẩm chất của SV theo nhóm nghề TV - TL ......55  
Bảng 2.8 Kết quả nhận thức về phẩm chất theo nhóm nghề NCKH......................56  
Bảng 2.9 Kết quả nhận thức về phẩm chất của SV đối với QL-TCNS ..................57  
Bảng 2.10 Kết quả nhận thức về phẩm chất của SV đối với nhóm nghề khác có  
UDTLH…….................................................................................................................59  
Bảng 2.11 Kết quả về nhận thức của SV về năng lực đối với nhóm Giảng Dạy....60  
Bảng 2.12 Kết quả nhận thức về năng lực cần thiết đối với nhóm TV - TL....Error!  
Bookmark not defined.  
Bảng 2.13 Kết quả nhận thức về năng lực cần thiết của SV với nhóm nghề  
NCKH………. ..............................................................................................................62  
Bảng 2.14 Kết quả nhận thức của SV về năng lực cần thiết đối với nhóm nghề  
QL-TCNS .....................................................................................................................63  
Bảng 2.15 Kết quả về nhận thức năng lực thiết yếu của SV với nhóm nghề khác  
có UDTLH ....................................................................................................................64  
Bảng 2.16 Kết quả nhận thức về phẩm chất hiện có của SV...................................66  
Bảng 2.17 Kết quả về nhận thức năng lực hiện có của SV ......................................66  
Bảng 2.18 Kết quả so sánh nhận thức của SV về những yêu cầu phẩm chất và  
năng lực cần thiết theo trường. ..................................................................................68  
Bảng 2.19 Kết quả so sánh nhận thức của SV về những yêu cầu phẩm chất và  
năng lực cần thiết theo tham số giới tính ..................................................................68  
Bảng 2.20 Kết quả so sánh nhận thức của SV về những yêu cầu phẩm chất và  
năng lực cần thiết theo tham số hộ khẩu...................................................................69  
Bảng 2.21 Kết quả biểu hiện thái độ của SV đối với các hoạt động ĐHN .......Error!  
Bookmark not defined.  
Bảng 2.22 Kết quả so sánh về biểu hiện thái độ của SV đối với các hoạt động  
trong quá trình ĐHN.......................................................Error! Bookmark not defined.  
Bảng 2.23 Kết quả về sự cân nhắc của SV trong quá trình ĐHN...........................72  
Bảng 2.24 Kết quả về biểu hiện hành vi ĐHN của SV năm 4 ngành TLH ............73  
Bảng 2.25 Kết quả so sánh biểu hiện hành vi ĐHN của SV chuyên ngành TLH  
theo các tham số nghiên cứu.......................................................................................75  
Bảng2.26 Kết quả so sánh mức độ tương quan giữa nhận thức, hành vi và thái  
độ………………...........................................................................................................75  
Bảng 2.27 Kết quả chung về các yếu tố ảnh hưởng đến ĐHN của sinh viên .........77  
Bảng 2.28 Kết quả so sánh các yếu tố ảnh hưởng ĐHN của SV theo các tham  
số…………………........................................................................................................79  
 
1
PHẦN MỞ ĐẦU  
1.  
Lý do chọn đề tài  
Thế kỷ XXI diễn ra cùng với sự thay đổi trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là sự phát triển  
mạnh mẽ của khoa học - công nghệ mới kết hợp với nền kinh tế thị trường đã mang lại  
cho con người cuộc sống hiện đại và đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của con người.  
Điều này làm cho số lượng công việc tăng cao, cùng với việc xuất hiện nhiều ngành  
nghề mới, lạ trong xã hội khiến cho nhiều bạn trẻ bối rối và gặp khó khăn trước việc lựa  
chọn nghề nghiệp, hướng đi phù hợp cho bản thân mình.  
Thế giới toàn cầu đang đứng trước một vấn đề nan giải là vấn đề việc làm trong giới  
trẻ hiện nay. Bộ trưởng Việc làm của Anh Quốc, ông Chris Graling mới đây đã phải ví  
nó như là “những quả bom nổ chậm”. Năm 2015, theo như kết quả đã điều tra của Viện  
Nghiên cứu Thanh niên, 70% sinh viên Việt Nam cho biết lo lắng hàng đầu hiện nay  
của họ là vấn đề việc làm. Điều tra của Bộ GD-ĐT, cả nước có tới 63% sinh viên tốt  
nghiệp đại học, cao đẳng ra trường không có việc làm, 37% SV có việc làm nhưng đa  
số làm trái nghề hoặc phải qua đào tạo lại [43]. Một trong những nguyên nhân khi ra  
trường sinh viên không có việc làm là định hướng nghề nghiệp không rõ ràng. Định  
hướng nghề không rõ ràng của SV có ảnh hưởng lớn đến việc tiếp thu kiến thức trong  
quá trình học cũng như cơ hội kiếm được việc làm của sinh viên sau khi ra trường. Nhiều  
nhà quản lý nhân sự ở các công ty nước ngoài có chung nhận định: “Lao động trẻ thiếu  
và yếu về ngoại ngữ cũng như sự tự tin trong giao tiếp, quan trọng hơn là họ chưa có  
định hướng nghề rõ ràng. Đại đa số có tư tưởng xin việc vì quyền lợi bản thân chứ chưa  
nghĩ nhiều về công việc, chưa thật sự tâm huyết và sống chết vì nó…”. Trong môi trường  
công việc với xu thế cạnh tranh đang ngày càng phát triển, nếu không có định hướng  
nghề rõ ràng, làm sao sinh viên có thể bảo đảm yếu tố gắn bó với công việc ở các cơ  
quan tuyển dụng [42].  
Nghề là khái niệm chung dành để chỉ những công việc sẽ gắn với bản thân của mỗi  
người trong hầu hết phần lớn khoảng thời gian quan trọng trong đời. Do đó, việc định  
hướng nghề là một điều tối cần thiết đối với các bạn sinh viên đang ngồi trên ghế giảng  
đường. Theo một khảo sát tại Trường Đại học Bách Khoa TP.HCM (2014) có: 52,6 %  
2
sinh viên năm cuối chưa có kế hoạch tìm việc cho mình; 46,3 sinh viên hiện nay chưa  
có ý định tự trau dồi về nghề nghiệp; 44,8 % sinh viên không hình dung về nghề nghiệp  
của mình sau 5 năm. Đây là những con số chứng minh sự băn khoăn của các bạn sinh  
viên với nghành nghề mình đang theo học cũng như định hướng về nghành nghề mình  
sẽ làm trong tương lai [41].  
Cuộc khảo sát năm 2011, được Trung tâm Nghiên cứu và Phân tích Chính sách thuộc  
trường ĐH KHXH&NV (ĐHQG Hà Nội) thực hiện, với quy mô gần 3.000 cựu SV thuộc  
5 khóa khác nhau đã tốt nghiệp cho thấy, 70% SV chưa có định hướng cụ thể nào cho  
nghề của họ sau khi tốt nghiệp. Theo T.V.T, người tham gia nghiên cứu, thì mức độ mù  
mờ trong định hướng nghề của SV rất cao. Một bộ phận không nhỏ SV ngay từ khi lựa  
chọn ngành học và trong quá trình học đã không có sự định hướng cụ thể và không được  
ai hướng dẫn về các nghề gắn với ngành học của mình [34].  
Giai đoạn SV là giai đoạn có đầy đủ điều kiện thuận lợi để bản thân cá nhân mỗi  
người tự xây dựng và hoàn thiện bản thân mình. Ở giai đoạn này, SV có thời gian, có sự  
chủ động học tập, có đủ nhạy bén của tư duy để nắm bắt nhịp sống của xã hội đang diễn  
ra như thế nào và kịp thời bổ sung theo nhịp sống đó. Hoạt động chủ đạo của sinh viên  
là hoạt động chuẩn bị nghề nghiệp. Trong giai đoạn này, sinh viên trực tiếp tham gia vào  
việc học nghề và trải nghiệm các công việc cụ thể của nghề. Vì vậy, tiếp tục hướng  
nghiệp cho sinh viên là điều rất cần thiết để tạo sự ổn định tâm lý và tâm thế tích cực  
cho việc chuẩn bị bước vào guồng máy sản xuất của xã hội [16]. Như vậy, khoảng thời  
gian này là khoảng thời gian mà SV phải định hướng được nghề cho chính mình một  
cách thật nghiêm túc và chính xác, mình sẽ theo hướng nào và mình sẽ làm nghề gì trong  
tương lai sắp tới. Đồng thời, đây cũng là giai đoạn phải chuẩn bị, trang bị những kiến  
thức cần có và sâu sắc về hướng mình chọn và nghề mình sẽ đảm nhận trong tương lai.  
Tuy vậy, không phải tất cả SV đều ý thức được tầm quan trọng của việc ĐHN, có thể  
do nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến tình trạng trên. Nghiên cứu kịp thời để SV ý  
thức được tầm quan trọng của việc ĐHN là rất cần thiết.  
Ngành Tâm lý học là một ngành khoa học non trẻ ra đời mới hơn một thế kỷ qua,  
Tâm lý học ngày nay đã phát triển với những bước tiến mạnh mẽ bởi sự cần thiết và tính  
3
ứng dụng của nó trong mọi lĩnh vực của cuộc sống con người. Hiệu quả đặc biệt của  
Tâm lý học không chỉ đối với việc phát triển cá nhân, giải quyết những vấn đề con người  
– xã hội mà còn góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả trong các hoạt động đa dạng và  
phong phú của con người [28]. Vì vậy, đứng trước sự phong phú và đa dạng trong các  
ngành nghề của Tâm lý học, lại càng đòi hỏi SV chuyên ngành phải trang bị và định  
hướng cho mình được ngành nghề phù hợp từ sớm là điều rất thiết thực và đáp ứng cao  
yêu cầu của xã hội hôm nay.  
Có nhiều nghiên cứu ở trong và ngoài nước đã đề cập đến ĐHN. Năm 1995, Meir,  
Melamed và Dinur nghiên cứu sự phù hợp giữa nghề nghiệp và những kỹ năng có tương  
quan tích cực dự báo thành công trong công việc và nghề nghiệp. Các nhà nghiên cứu ở  
các nước phương Tây khác cũng quan tâm đến thế hệ trẻ, như nghiên cứu của H.Perho,  
nhà TLH người Phần Lan đã tiến hành nghiên cứu “Định hướng nghề nghiệp và nghệ  
thuật sư phạm trong đào tạo giáo viên phổ thông” hay một nhà TLH Phần Lan khác,  
M.V.Volanen nghiên cứu về “Định hướng nghề nghiệp và thích ứng việc làm ở thanh  
niên” [5]. Ở nước ta, thực tế cho thấy, có nhiều tác giả đã nghiên cứu về ĐHN, tác giả  
Trần Thị Dương Liễu nghiên cứu vấn đề “Định hướng nghề nghiệp của sinh viên chuyên  
ngành Tâm lý học ở một số trường đại học tại Tp HCM” [20] hay nghiên cứu của tác  
giả Phạm Thị Thúy Hằng với đề tài “Định hướng nghề của sinh viên ngành Tâm lý học-  
Trường đại học Sư Phạm Tp.HCM [15]. Nhìn chung, các nghiên cứu đều nói đến ĐHN  
của HS, SV và thanh niên nói chung, tuy nhiên cũng chưa có tác giả nào đề cập và đi  
sâu vào tìm hiểu ĐHN của SV năm 4 ngành Tâm lý học. Chính vì vậy, người nghiên  
cứu muốn tìm hiểu nhằm giúp sinh viên ngành Tâm lý học có một tâm thế tốt để ra  
trường, có một định hướng nghề đúng và thiết thực càng sớm càng tốt để bước vào thế  
giới nghề nghiệp một cách thật sẵn sàng và vững chắc.  
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên tác giả chọn đề tài: “Định hướng nghề của sinh  
viên năm 4 ngành Tâm lý học ở thành phố Hồ Chí Minh”.  
4
2.  
Mục đích nghiên cứu  
Xác định thực trạng ĐHN của SV năm 4 ngành Tâm lý học tại thành phố Hồ Chí  
Minh, từ đó đề xuất những biện pháp nâng cao hiệu quả việc ĐHN cho SV năm 4 ngành  
Tâm lý học.  
3.  
Đối tượng và khách thể nghiên cứu  
3.1. Đối tượng nghiên cứu  
Định hướng nghề của sinh viên năm 4 ngành Tâm lý học  
3.2. Khách thể nghiên cứu  
Sinh viên chính quy năm thứ 4 ngành Tâm lý học ở Tp HCM  
4.  
Giả thuyết nghiên cứu  
SV năm 4 chuyên ngành Tâm lý học tại Tp HCM có lựa chọn nghề ở mức độ thấp.  
Một số SV vẫn chưa có định hướng nghề.  
5. Nhiệm vụ nghiên cứu  
5.1. Hệ thống hóa những vấn đề về lý luận liên quan đến ĐHN của SV năm 4 ngành  
Tâm lý học.  
5.2. Xác định thực trạng ĐHN của SV năm 4 ngành TLH  
6.  
-
Giới hạn nghiên cứu  
Về nội dung: ĐHN của SV năm 4 chuyên ngành TLH.  
Về địa điểm và đối tượng khảo sát: Chỉ nghiên cứu những SV chính quy năm 4  
-
(niên khóa 2017 - 2018) ngành Tâm lý học tại 3 trường đại học tại Tp HCM: Đại học  
Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn, Đại học Văn Hiến và Đại học Sư Phạm Tp HCM.  
7.  
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận  
Mục đích: Thu thập những tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm làm  
rõ các vấn đề lý luận của đề tài cần nghiên cứu.  
Cách thức tiến hành: Đọc, phân tích, tổng hợp tài liệu cần thiết phục vụ cho  
việc nghiên cứu, nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho việc triển khai nghiên cứu thực tiễn.  
Phương pháp nghiên cứu  
-
-
           
5
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn điều tra bằng bảng hỏi: Đây là phương pháp  
chính của đề tài.  
-
-
Mục đích: Thu thập thông tin từ phía SV.  
Cách thức tiến hành: Xây dựng bảng hỏi, khảo sát ngẫu nhiên trên 250 SV để  
tìm hiểu về biểu hiện của ĐHN của SV năm 4 ngành Tâm lý học.  
7.3. Phương pháp thống kê toán học  
-
-
Mục đích: Nhằm xử lý, phân tích, đánh giá kết quả nghiên cứu.  
Cách thức tiến hành: Sử dụng phần mềm SPSS.  
6
PHẦN NỘI DUNG  
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ  
1.  
Sơ lược lịch sử nghiên cứu về định hướng nghề  
1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài  
Tư tưởng định hướng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ đã có từ thời cổ đại dưới dạng rất sơ  
khai và biểu hiện thông qua việc phân chia lao động theo địa vị và xuất thân của mỗi  
người trong xã hội. Đến thế kỷ XIX, khi nền sản xuất phát triển cùng với những tư tưởng  
tích cực về giải phóng con người diễn ra trên khắp thế giới thì khoa học hướng nghiệp  
mới thực sự trở thành một khoa học độc lập [20].  
Hướng nghiệp xuất hiện đầu tiên ở Mỹ, bắt đầu từ năm 1850-1940, gắn liền với những  
cá nhân như Francis Galton, Wilheim Wundt, James Cattel, Alfred Binet, Frank Parson,  
Robert Yerkes, E.K. Strong. Cuối những năm 1800, một hệ thống công nghiệp với quy  
mô lớn ra đời, đã làm thay đổi môi trường mạnh mẽ, môi trường làm việc và điều kiện  
sống. Để đáp ứng được các yêu cầu của các nhà máy công nghiệp và điều kiện sống  
khắc nghiệt, chật chội trong những khu nhà ổ chuột một nhu cầu đổi mới đã xuất hiện,  
một vài nhà nghiên cứu bắt đầu quan tâm đến hành vi con người, những điều kiện khách  
quan trên để phôi thai và cho ra đời một ngành khoa học Tham vấn nghề. Nước Mỹ có  
phòng tư vấn nghề đầu tiên trên thế giới do Frank Parsons thành lập vào năm 1908 ở  
Boston. Nhiệm vụ của phòng này là tư vấn cho thanh niên có nhu cầu tìm kiếm công ăn  
việc làm và giúp cho họ chọn được những nghề phù hợp với năng lực, sở trường của  
mình [11].  
Đầu thế kỷ XX, ở Đức, Anh, Pháp, Mỹ đã có phòng tư vấn chĩ dẫn cho thanh niên  
tìm việc làm, ở đó thanh niên, học sinh được tư vấn về việc lựa chọn nghề nghiệp cho  
tương lai của họ [18].  
Vào những năm 1940, nhà TLH người Mỹ J.L. Holland (1919-2008) đã nghiên cứu  
và thừa nhận sự tồn tại của các loại nhân cách và sở thích nghề nghiệp của con người.  
Tác giả đã chỉ ra tương ứng với mỗi kiểu nhân cách là một số những nghề nghiệp tương  
xứng có thể chọn để đạt được kết quả làm việc và thành công cao nhất. Đến năm 1948,  
       
7
cuốn sách hướng nghiệp “Hướng dẫn chọn nghề” xuất bản ở Pháp được xem là cuốn  
sách đầu tiên nói về định hướng nghề nghiệp, nội dung cuốn sách đề cập đến sự phát  
triển của công nghiệp. Tiếp tục phát triển đến năm 1970, năm 1980 ở Mỹ đã kết hợp  
chặt chẽ việc tư vấn nghề với chương trình công nghệ và dạy nghề. Những nhà nghiên  
cứu ở đây cũng đã đưa môn “Hướng dẫn chọn nghề-Career guidance” vào giảng dạy ở  
trường trung học, sau đó là từ bậc trung học đến đại học đều có các cố vấn học tập hay  
cố vấn tâm lý làm việc. Năm 1974, cuốn sách nghiên cứu định hướng của nhà TLH  
người Mỹ, J.L. Holland lại tiếp tục bàn về định hướng nghề với dụng cụ tư vấn, những  
đặc điểm môi trường và con người dẫn đến việc chọn nghề, học nghề, gắn bó và thành  
công với nghề nghiệp của con người được xuất bản mới đều được Holland sửa đổi theo  
quan niệm mới của ông và theo đề xuất của khách hàng hay của các nhà phê bình. Năm  
1995, Meir, Melamed và Dinur nghiên cứu sự phù hợp giữa nghề nghiệp và những kỹ  
năng có tương quan tích cực dự báo thành công trong công việc và nghề nghiệp [20].  
Ngoài những nghiên cứu ở các nước nói trên, các nhà nghiên cứu ở các nước phương  
Tây khác cũng quan tâm đến thế hệ trẻ, như nghiên cứu của H. Perho, nhà TLH Phần  
Lan đã nghiên cứu vấn đề “Định hướng nghề nghiệp và nghệ thuật sư phạm trong đào  
tạo giáo viên phổ thông” kết quả cho thấy, trong động cơ học tập của sinh viên ngành  
Sư Phạm ước muốn nhận được điểm tốt mạnh hơn ước muốn trở thành thầy giáo giỏi.  
Từ đó, ông kêu gọi tổ chức lại hệ thống (quy trình) tuyển sinh ngành Sư Phạm. M.V.  
Volanen một người nghiên cứu Phần Lan khác lại tìm hiểu quá trình thích ứng nghề  
nghiệp và định hướng việc làm ở thanh niên. Kết quả cho thấy, những đánh giá chủ quan  
của thời kỳ quá độ ảnh hướng đến định hướng việc làm nhanh hơn nhiều so với bản thân  
thời kỳ quá độ và ảnh hưởng của những năm tháng làm việc đầu tiên đến định hướng  
việc làm phụ thuộc và quá trình thích ứng nghề nghiệp. Z. Ransen Bakh đã nghiên cứu  
về định hướng giá trị của sinh viên gắn với quá trình định hướng nghề nghiệp và các kế  
hoạch cuộc sống. Trong nghiên cứu định hướg giá trị của thanh niên, các nhà nghiên  
cứu chú ý đến định hướng nghề nghiệp của nhóm xã hội này. Như vậy, nhìn chung trọng  
tâm nghiên cứu của các nước phương Tây chủ yếu sử dụng các phương tiện, thiết bị  
chuyên môn nhằm tham vấn chuyên sâu với mục đích xác định xu hướng và sự phù hợp  
nghề của thanh niên. Viện nghiên cứu thanh niên ở Đức, trong công trình “Nghiên cứu  
8
những vấn đề thanh niên ở Cộng Hòa Dân Chủ Đức” (1976), đã nghiên cứu về định  
hướng giá trị nghề nghiệp của thanh niên công nhân Đức. Các tiêu chí có ý nghĩa quan  
trọng nhất trong công việc và động cơ làm việc được xem là những chỉ báo về định  
hướng giá trị của họ [5].  
Lĩnh vực này cũng thu hút sự quan tâm của các nhà TLH Nga. Xung quanh vấn đề  
lựa chọn nghề nghiệp, A.E. Golomstoc, E.A. Klimov, chỉ ra 10 nguyên nhân dẫn đến  
sai lầm khi chọn nghề. Về nhận thức nghề nghiệp, nhà nghiên cứu N.D. Levitop, V.A.  
Kruchetxki, A.V. Petroxki đã đề cập đến ý nghĩa của sự hiểu biết nghề định chọn đối  
với học sinh. Vì học sinh chưa có quan niệm rõ ràng về đa số các nghề nên không thể  
định hướng đúng đắn trong các nghề đó. Dự định chọn nghề của học sinh được các nhà  
nghiên cứu quan tâm: V.V. Votzinxkaia, V.S. Soukin, V.P. Gribanop, X.N. Tritaikova,  
N.N. Đakhop… [11].  
Ở Liên Xô cũ, vào những năm 29,30 của thế kỷ XX, vấn đề hướng nghiệp cho học  
sinh cũng được các nhà khoa học và lãnh đạo chính quyền Xô Viết đặc biệt quan tâm.  
Nhà giáo dục học lỗi lạc N.K. Crupxkaia đã từng nêu lên luận điểm “Tự do chọn nghề”  
cho mỗi thanh thiếu niên. Theo bà, công tác hướng nghiệp giúp cho trẻ phát triển được  
hứng thú và năng lực nghề nghiệp, giáo dục cho các em thái độ lao động đúng đắn, động  
cơ chọn nghề trong sáng. Dựa trên các luận điểm chọn nghề của C.Mác và Lê Nin các  
nhà giáo dục Liên Xô trong các tác phẩm và công trình nghiên cứu của mình đã chỉ ra  
tầm quan trọng của giáo dục hướng nghiệp và định hướng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ sẽ  
là cơ sở cho họ chọn nghề đúng đắn, phù hợp giữa năng lực cá nhân, sở thích và nhu  
cầu xã hội. Trong những năm 1970, nhà TLH Lao Động Liên Xô E.A. Kalimop đã đưa  
ra trắc nghiệm “Xác định kiểu nghề cần chọn trên cơ sở tự đánh giá” với 30 câu hỏi.  
Cùng thời gian đó A.E. Colomtoc cũng đưa ra trắc nghiệm đo hứng thú nghề nghiệp với  
78 câu hỏi, cùng thời điểm đó nhiều nhà khoa học ở Liên Xô cũ xem “Tam giác hướng  
nghiệp” của K.K. Platonov là yêu cầu chuẩn xác cho việc chọn ngành nghề. Tác giả của  
tam giác hướng nghiệp vạch ra 3 yếu tố cơ bản: Đặc điểm cá nhân, tính chất nghề nghiệp  
và nhu cầu xã hội [20].  
9
Một số nhà Tâm lý học Xô Viết khác như Ph.B. Beredin, V.A. Xmirnop nghiên cứu  
khía cạnh sinh học, xã hội của quá trình thích ứng; Ph.E. Vasiluc, N.D. Levitov, G.M.  
Anderiep nghiên cứu sự thích ứng xã hội của thanh niên với nghề nghiệp [5].  
Như vậy, điểm qua tình hình của một số nước trên thế giới, cho ta thấy hướng nghiệp  
đòi hỏi sự đánh giá dựa trên sự kết hợp những tiêu chí về giáo dục và dự báo về nhân  
cách tương lai. ĐHN cho học sinh, sinh viên là một xu thế tất yếu của mỗi thời đại. Đồng  
thời, từ những lý luận trên ta có thể thấy được đa số các nước trên thế giới có sự quan  
tâm, chú trọng và đầu tư rất khoa học và nghiêm túc trong việc ĐHN cho mỗi cá nhân.  
1.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam  
Nghiên cứu ĐHN ở Việt Nam theo các chuyên gia đã có những bước phát triển mạnh  
mẽ vào những năm 1970, 1980, tiếp thu những thành tựu của thế giới và thực tiễn nghiên  
cứu trong nước.  
Từ những năm 1994-1995, Trần Thị Minh Đức với đề tài cấp bộ về “Định hướng  
nghề nghiệp của SV và HS ở một số trường THPT và ĐH ở Hà Nội”, mã số B94; 0507  
đã mở ra một xu hướng nghiên cứu ĐHN cụ thể, thực tế và bám sát những đối tượng mà  
xã hội lúc bấy giờ đặc biệt quan tâm. Cũng trong năm 1994, Viện nghiên cứu Phát triển  
Giáo dục đã tiến hành nghiên cứu “Một số đặc điểm xu hướng nghề nghiệp của SV trong  
sự chuyển đổi kinh tế-xã hội mới” do Trần Ninh Giang làm chủ nhiệm. Kết quả phản  
ánh tình hình KT-XH chi phối mạnh mẽ đến việc chọn nghề của SV, từ đó phát triển xu  
hướng lựa chọn nghề nghiệp thiên về kinh tế và công nghiệp ở SV [20].  
Từ năm 1991-1995, nhiều đề tài KX thuộc chương trình KHCN cấp nhà nước đã tiếp  
cận: “Ảnh hưởng của kinh tế thị trường đến việc hình thành và phát triển nhân cách con  
người Việt Nam” mã số KX-07-10 do Thái Duy Duyên làm chủ nhiệm, đã khảo sát trên  
các đối tượng thanh niên, công nhân, nông dân, học sinh, sinh viên, trí thức và chủ doanh  
nghiệp trẻ tại Hà Nội, Hải Phòng, Hà Nam, Nghệ An, Hồ Chí Minh về “Nhu cầu, nguyện  
vọng của thanh niên và định hướng giá trị của thanh niên” nội dung nghiên cứu tập trung  
vào xem xét các vấn đề lý tưởng, niềm tin của thanh niên, việc làm, nghề nghiệp, rèn  
luyện, bồi dưỡng tài năng, tình yêu hôn nhân và gia đình. Năm 1989, Lê Quang Sơn  
trong luận án tiến sĩ Tâm lý học “Những đặc trưng tâm lý của định hướng giá trị của  
 
10  
thanh niên Việt Nam hiện đại” đã xem định hướng giá trị như là những thái độ của nhân  
cách đối với bản thân và thế giới trong quá khứ, hiện tại và tương lai được cấu trúc lại  
trong các thể nghiệm và biểu tượng của nhân cách [5].  
Hướng nghiệp ở Việt Nam đã có những phát triển mãnh mẽ vào thập niên 70 của thế  
kỷ XX, đặc biệt là vào năm 1977 với các nghiên cứu đầu tiên về HN do các chuyên gia  
tâm lý như Đặng Danh Ánh, Phạm Tất Dong…tiến hành. Trong công trình nghiên cứu  
của mình, tác giả Phạm Tất Dong với hai cuốn sách “Giúp bạn chọn nghề” và “Hướng  
nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường thế giới mới” số 91/1994 đã đề cập một cách  
hệ thống về hứng thú nghề nghiệp cũng như những vấn đề cơ bản về nội dung, phương  
pháp HN cho HS. Theo ông, hứng thú môn học, hứng thú nghề nghiệp có tác dụng thúc  
đẩy việc chọn nghề và thực hiện khả năng của mình là động cơ mạnh nhất, quan trọng  
nhất của việc lựa chọn nghề nghiệp của HS. Bên cạnh đó, có các công trình nghiên cứu  
khác của ông như “Hướng nghiệp cho nữ sinh phổ thông trung học” (1973), “Phụ nữ và  
nghề nghiệp” (1978)…cũng đã đóng góp to lớn trong ĐHN tại Việt Nam [30]. Theo  
tổng cục dạy nghề, viện nghiên cứu khoa học dạy nghề đã cho xuất bản cuốn sách “Tuổi  
trẻ và nghề nghiệp” năm 1986 đã nói về việc hướng nghiệp cho tuổi trẻ, sách giúp cho  
học sinh trung học phổ thông tìm hiểu về nghề nghiệp.  
Tác giả Chu Văn Thảo với công trình “Nghiên cứu giải pháp quản lý nhằm đẩy mạnh  
công tác tư vấn hướng nghiệp cho học sinh tại các trung tâm KTTH HN ở tỉnh Bắc  
Ninh” đã nhấn mạnh rằng đa số học sinh trung học trước khi chọn nghề chưa hiểu hết ý  
nghĩa và tầm quan trọng của việc chọn nghề có cơ sở khoa học, các em chưa hiểu rõ về  
nghề nghiệp chưa đánh giá đúng năng lực bản thân, sự hiểu biết về nghề của các em còn  
đơn giản, nghèo nàn so với thế giới nghề nghiệp vô cùng phong phú, đa dạng. Thiếu  
thông tin về thị trường lao động đã làm các em lúng túng khó khăn khi chọn nghề. Nhìn  
chung, nhận thức của HS về nghề nghiệp còn chung chung [18].  
Năm 2008, tác giả Trần Đình Chiến với công trình nghiên cứu “Xu hướng chọn nghề  
của học sinh lớp 12 trường THPT dưới ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường” đã phản  
ánh thực trạng chọn nghề của HS nơi đây. HS chọn nghề theo địa vị, danh tiếng trong  
xã hội, chưa quan tâm đến sự phù hợp giữa nghề với bản thân mình. Tác giả Nguyễn  
11  
Quang Uẩn cùng đồng nghiệp đã nghiên cứu về đặc điểm xu hướng nghề của học sinh  
thành phố theo các chỉ số: mức độ nhận thức nghề, tính ổn định của thái độ đới với nghề,  
qua đó cho thấy đặc điểm chung về xu hướng nghề của HS trung học, xác định được  
nghề mà học sinh biết nhiều nhất cũng như thái độ đánh giá của học sinh về các nghề  
[36].  
Năm 2009, với cuốn “Giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên các chuyên ngành  
thuộc lĩnh vực Văn hóa Thông tin” được xuất bản cũng đề cập đến vấn đề ĐHN cho các  
SV chuyên ngành, kết luận cho thấy tự bản thân SV chưa nhận thức đầy đủ và sâu sắc  
về đặc trưng của các nghề thuộc lĩnh vực Văn hóa Thông tin [12]. Từ đó, ta thấy vấn đề  
ĐHN cho SV được nghiên cứu rộng trên nhiều lĩnh vực rất cần thiết và quan trọng.  
Bên cạnh đó cũng có những đề tài luận văn, khóa luận nghiên cứu về ĐHN. Cụ thể  
như “Định hướng giá trị nghề nghiệp của sinh viên trường đại học Sư Phạm Kỹ Thuật  
Vĩnh Long” của tác giả Lê Thị Ngọc Giàu (2015) kết luận: Định hướng giá trị nghề  
nghiệp của sinh viên trường ĐH SPKT Vĩnh Long chịu ảnh hưởng bởi yếu tố nhà trường  
cao nhất. Từ đó, đòi hỏi nhà trường phải có những biện pháp đúng đắn để giúp cho sinh  
viên định hướng tốt nghề của mình [14]. Tác giả Nguyễn Ngọc Hồng Trúc với đề tài  
“Định hướng giá trị nghề của sinh viên năm thứ nhất trường đại học Nha Trang (2015)  
[32]. Luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Thị Dương Liễu (2014) là “Định hướng nghề  
nghiệp của sinh viên chuyên ngành Tâm lý học ở một số trường Đại học tại tp HCM”  
kết luận: Định hướng ngành học và nghề nghiệp của sinh viên còn chủ quan, cảm tính,  
chưa dựa trên cơ sở khoa học sự phù hợp về tính cách năng lực của bản thân với ngành  
nghề theo học [20]. Đề tài của Phạm Thị Thúy Hằng “Định hướng nghề của sinh viên  
ngành Tâm lý học-Trường đại học Sư Phạm Tp.HCM, kết luận: Sinh viên chuyên ngành  
tâm lý có định hướng nghề ở mức khá tốt [15]. Nhìn chung, các tác giả có nghiên cứu  
về định hướng nghề cho HS, SV nói chung. Nhưng cũng chưa có ai đi sâu vào để tìm  
hiểu và nghiên cứu về vấn đề ĐHN cho SV năm 4 ngành Tâm lý học, đặc biệt đây là  
giai đoạn mà SV chuẩn bị ra trường, chuẩn bị bước vào môi trường công việc theo hướng  
mình chọn. Để đáp ứng nhu cầu mà xã hội đặt ra cho SV, thì mỗi SV cần phải định  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 99 trang Thùy Anh 19000 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đề tài Định hướng nghề của sinh viên năm 4 ngành Tâm lý học ở thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfde_tai_dinh_huong_nghe_cua_sinh_vien_nam_4_nganh_tam_ly_hoc.pdf