Tài liệu Tâm lí học sáng tạo (Phần 1)

GIÁO TRÌNH TÂM LÍ HỌC SÁNGTẠO  
GIÁO TRÌNH  
TÂM LÍ HỌC SÁNG TẠO  
Tác giả: HUỲNH VĂN SƠN  
LỜI NÓI ĐẦU  
Có thể nói rằng, Tâm lí học đã trở thành một  
ngành khoa học đặc biệt phát triển trên thế giới trong  
năm mươi năm cuối của thế kỉ XX. Bằng chứng là  
hàng loạt những công trình nghiên cứu về Tâm lí học  
đã đưa đến những ứng dụng hết sức tuyệt vời cho đời  
sống con người. Chất lượng cuộc sống không những  
được cải thiện về vật chất mà cả những giá trị tinh thần  
của con người cũng được nâng lên một tầm cao mới  
nhờ các thành tựu khá rực rỡ của Tâm lí học. Và càng  
không thể phủ nhận những thành quả của các chuyên  
ngành ứng dụng của Tâm lí học như Tâm lí học tham  
vấn, Tâm lí học trị liệu và Tâm lí học sáng tạo.  
Cho đến nay, Tâm lí học sáng tạo đã tiếp cận  
 
những vấn đề khá đặc biệt trong đời sống của con  
người cũng như trong các hoạt động khác của nhân  
loại. Hiện nay, Tâm lí học sáng tạo đã thực hiện những  
nhiệm vụ không kém phần đặc biệt của mình thông  
qua các ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến sự phát  
triển của xã hội. Từ việc nghiên cứu bản chất, cấu trúc,  
cơ chế và những quy luật của sự sáng tạo, hoạt động  
sáng tạo dưới góc nhìn tâm lí đến việc tìm hiểu vai trò,  
ý nghĩa của sáng tạo trong cuộc sống, định hướng  
ứng dụng Tâm lí học sáng tạo trong cuộc sống cũng  
như tìm ra con đường, biện pháp để tìm hiểu khả năng  
sáng tạo của con người, điều khiển và phát triển tiềm  
năng sáng tạo, giáo dục sáng tạo, cho thấy Tâm lí học  
sáng tạo đã trở thành một trong những chuyên ngành  
hấp dẫn cực kì đối với khá nhiều cá nhân và tổ chức  
nghiên cứu.  
Sáng tạo vốn dĩ là một "địa hạt" hết sức đặc  
biệt nên đã thu hút sự quan tâm của khá nhiều lĩnh  
vực nghiên cứu giao thoa. Nếu cho rằng Tâm lí học là  
một khoa học chuyên nghiên cứu về con người thì  
Tâm lí học sáng tạo dần dần trở thành một trong  
những khoa học chuyên nghiên cứu về sáng tạo của  
con người. Tâm lí học sáng tạo đã phát triển mạnh mẽ  
không chỉ vì đó là khoa học tiếp cận và nghiên cứu về  
một trong những hiện tượng tâm lí của con người mà  
vì những nguyên tắc và phương pháp luận nghiên cứu  
Tâm lí học trở thành những nguyên tắc và phương  
pháp luận nghiên cứu sáng tạo, và tất nhiên, nó đã  
ảnh hưởng đến tư duy sáng tạo của con người một  
cách sắc nét nhất và hiệu quả nhất.  
Với mong muốn hệ thống hoá và cụ thể hoá  
một khoa học rất hấp dẫn dù còn mới mẻ như một  
chuyên ngành trong Tâm lí học, tác giả hi vọng những  
kiến thức về Tâm lí học sáng tạo sẽ thu hút sự quan  
tâm của thật nhiều cá nhân và tổ chức. Không chỉ là  
những sinh viên chuyên ngành Tâm lí học, Giáo dục  
học mà còn là những học viên cao học chuyên ngành  
và cả những người ứng dụng, những bậc thầy chuyên  
tìm hiểu về tư duy sáng tạo, sáng tạo của con người.  
Mong rằng cuốn sách Tâm lí học sáng tạo sẽ được  
đông đảo bạn đọc đón nhận và xem đây như là một  
lĩnh vực hấp dẫn rất cần được quan tâm, nghiên cứu  
dù là nghiên cứu cơ bản hay ứng dụng trong cuộc  
sống.  
TÁC GIẢ  
Chương 3. CÁC VẤN ĐỀ TÂM LÍ TRONG HOẠT ĐỘNG  
SÁNG TẠO  
Chương 4. NHÂN CÁCH SÁNG TẠO VÀ SỰ PHÁT  
TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC SINH  
Chương 5. TÂM LÍ HỌC SÁNG TẠO VÀ CUỘC SỐNG  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Created by AM Word CHM  
2
1. SƠ LƯỢC VÊ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ  
PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC SÁNGTẠO  
Khoa học sáng tạo xuất hiện từ rất xa xưa, khi  
con người bắt đầu xuất hiện thì khoa học sáng tạo đã  
hiện hữu để phục vụ cho nhu cầu của con người. Từ  
việc tìm ra phương thức săn bắt hái lượm, cho đến  
việc tận dụng tất cả những điều kiện xung quanh để  
sống, tồn tại và phát triển là những minh chứng cho sự  
tồn tại của khoa học sáng tạo dù đó chỉ là những mầm  
mống haynhững biểu hiện ban đầu.  
Những ý tưởng sáng tạo hay những gợi mở  
đầu tiên của khoa học sáng tạo tồn tại trong một  
khoảng thời gian khá lâu. Trong suốt thế kỉ đầu công  
nguyên, khoa học sáng tạo hiện hữu nhưng chưa có  
một cơ sở lí luận rõ ràng, cụ thể. Tất cả đều chỉ là  
những ý tưởng rải rác, những biểu hiện rất giản đơn,  
có phần mờ nhạt trong gần suốt hai thế kỉ sau đó.  
Vào cuối thế kỉ thứ II, Papp đã là người tiên  
phong khẳng định sự xuất hiện của khoa học sáng tạo  
(Heuristics) tại thành phố Alexandria. Có thể nói, ông  
 
là người đặt nền móng chính thức cho khoa học sáng  
tạo. Đâylà ý tưởng khởi thuỷcủa các khoa học về sáng  
tạo với những tìm hiểu đầu tiên về các phương pháp,  
quy tắc làm sáng chế, phát minh trong mọi lĩnh vực  
khoa học, kĩ thuật, văn hoá - nghệ thuật.  
Khoa học Heuristics tồn tại gần 17 thế kỉ (từ  
thế kỉ III đến thế kỉ XX). Trong suốt quá trình tồn tại của  
mình, khoa học này rất quan tâm đến vấn đề sáng tạo  
nhưng các thành tựu đạt được cũng rất khiêm tốn và  
dần dần bị lãng quên bởi nó chưa đi đến bản chất của  
khoa học sáng tạo. Năm 1945, - G.Polya - nhà Toán  
học người Mĩ gốc Hungary nhận định: "Đó là lĩnh vực  
nghiên cứu không có hình dáng rõ ràng... Nó được  
trình bày trên những nét chung chung, ít khi đi vào chi  
tiết".  
Thế nhưng, cũng từ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ  
XX, ở một góc nhìn khác, khoa học sáng tạo bắt đầu  
phát triển dựa trên sự phát triển của cách mạng khoa  
học - kĩ thuật. Cùng lúc này, bên cạnh các nhà khoa  
học cơ bản thì những chuyên gia về tư duy sáng tạo  
cũng như các nhà Tâm lí học bắt đầu nhập cuộc. Từ  
đây, sáng tạo bắt đầu được nghiên cứa trên cả bình  
diện rộng và sâu.  
Cũng trong khoảng thời gian này, từ những  
nghiên cứu chuyên biệt về sáng tạo của các nhà Toán  
học thì các nhà khoa học khác cũng bắt đầu chuyên  
tâm khám phá về những nguyên lí của sự sáng tạo.  
Nửa cuối thế kỉ XIX, các nghiên cứu về tâm lí trong việc  
sáng tạo khoa học bắt đầu được đề cập. Đến thế kỉ XX,  
khả năng sáng tạo được nhận diện ở những “kiểu”  
người khác nhau. Kết luận mang tính chất rất kì diệu  
và đầy tính nhân bản: sáng tạo hay khả năng sáng tạo  
có ở tất cả mọi người, kể cả những người bình thường  
nhất. Cũng chính từ quan điểm này sáng tạo được  
nghiên cứu sâu sang các lĩnh vực khác: văn học, nghệ  
thuật quản lí,...Vào thời điểm này, cùng với sự tham gia  
của nhiều nhà Tâm lí học, phương pháp thử và sai bắt  
đầu được phát hiện. Mặt khác, những yếu tố tâm lí như  
liên tưởng, tưởng tượng, tính ỳ tâm lí, sự thăng hoa,...  
cũng được quan tâm và phân tích khá chi tiết. Tuy  
nhiên, những vấn đề được đặt ra ở đây vẫn chưa được  
giải thích một cách tường minh.  
Vào thời gian sau đó, những yếu tố thuộc về  
nguyên lí sáng tạo, kĩ thuật sáng tạo mới là vấn đề thu  
hút sự quan tâm và nghiên cứu nhiều nhất. Lí do rất  
đơn giản là việc nghiên cứu ứng dụng đã trở thành  
nhu cầu bức bách của cuộc sống cũng như của các  
nhà nghiên cứu. Những phương pháp tìm đến cái mới  
như: Đối tượng tiêu điểm (Method of Focal Objects)  
của nhà nghiên cứu F. Zwicky; Phương pháp công não  
hay não công - tấn công não - tập kích não  
(Brainstorming) của A. Osbom và nhiều phương pháp  
khác như: Loại trừ; Tìm cái mới đảo ngược,... được  
đào sâu nghiên cứu. Lẽ dĩ nhiên, không thể không hạn  
chế khi tất cả những phương pháp này chỉ đến từ một  
góc nhìn cũng như mới bắt đầu được phát hiện.  
Không ít những cơ sở của các phương pháp này chưa  
thật sự vững chắc do dựa trên việc thử và sai. Mặt  
khác, chính việc cố công tìm ra đáp án nhưng thiếu "cơ  
chế định hướng" cũng như thiếu lời giải sáng tạo  
"tuyệt đối trong cái nhìn tối ưu tương đối. Cùng với sự  
phát triển của khoa học nói chung thì khoa học sáng  
tạo bắt đầu có những tiến bộ mới mang tính chất vượt  
bậc. Đặc biệt, khi ngành tin học và máy tính điện tử ra  
đời thì khoa học về sự sáng tạo lại có những điểm  
nhấn mới.  
Việc nghiên cứu về sáng tạo bắt đầu được  
triển khai một cách rộng rãi ở các nước như Mĩ, Liên  
Xô (cũ), Tiệp Khắc (cũ),... Có thể nhấn mạnh đến hoạt  
động gầy dựng việc nghiên cứu khoa học sáng tạo ở  
Liên Xô (cũ) là nhà nghiên cứu Genrich Sanfovich  
Altshuller (1926 - 1998). Cùng với những cộng sự, ông  
đã dàycông tổng hợp nhiều khoa học để dựng xâynên  
lí thuyết giải các bài toán sáng chế, được gọi là Triz.  
Cho đến thời điểm hiện nay, Triz là lí thuyết lớn với hệ  
thống công cụ hoàn chỉnh nhất trong khoa học sáng  
tạo. Có thể nhấn mạnh đến lí thuyết này với 9 quy luật  
phát triển hệ thống kĩ thuật, 40 nguyên tắc sáng tạo cơ  
bản để giải quyết mâu thuẫn kĩ thuật, 76 chuẩn dùng  
để giải các bài toán sáng chế. Hơn thế, những người  
quan tâm sử dụng có thể tiếp tục tổ hợp hoá các thành  
phần nàytheo những cách khác nhau để tạo nên sự  
đa dạng, sự phong phú và dường như không có điểm  
dừng.  
Cũng từ những thành tựu này, các nước như  
Mĩ, Anh, Đức... đã tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về sáng  
tạo cũng như các phương pháp sáng tạo. Ngoài  
phương pháp Công não (1938) đến từ Mĩ và phương  
pháp Đối tượng tiêu chuẩn do F. Kunze - người Đức  
nghiên cứu thì khá nhiều phương pháp khác được  
quan tâm và phát minh. Có thể đề cập đến phương  
pháp Phân tích hình thái (Morphological Analysic) do  
Zwicky - người Mĩ đề cập năm 1942; phương pháp  
Bảng câu hỏi kiểm tra được hoàn thành bởi nhiều tác  
giả phương Tây qua nhiều lần bàn luận, chỉnh sửa;  
phương pháp Synectic do W.Gorden (Mĩ) đề xuất vào  
năm 1960; phương pháp Tư duy theo chiều ngang  
(Lateral thinking) do E.D.Bono - người Anh đề xuất;  
phương pháp Sáu chiếc mũ tư duy (Six thinking hats  
method) cũng do E.D.Bono - người Anh phát hiện năm  
1985,...  
Có thể nói dựa trên những thành tựu và đóng  
góp của mình, sáng tạo học (creatology) đã trở thành  
một khoa học rất chuyên sâu nhưng phạm vi nghiên  
cứu cũng rất rộng lớn. Giải quyết những vấn đề trong  
sáng tạo đã khó và giải quyết bằng cách thức rất sáng  
tạo càng khó hơn vì không thể tách rời khỏi yếu tố con  
người trong hoạt động sáng tạo hay khả năng sáng  
tạo.  
Created by AM Word CHM  
2
2. VÀI NÉT VỀLỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ  
PHÁT TRIỂN CỦA TÂM LÍ HỌC SÁNGTẠO  
Dù rằng sáng tạo không phải là địa hạt độc  
quyền của các nhà Tâm lí học nhưng thực tế cho thấy  
các nhà Tâm lí học bắt đầu quan tâm nhiều đến sáng  
tạo từ giữa thế kỉ XX. Đặc biệt, sau Chiến tranh thế giới  
thứ hai, do nhu cầu tăng năng suất lao động xã hội và  
cũng như muốn dành lợi thế trong chiến tranh lạnh để  
có thể nắm quyền chỉ huy thế giới nên Mĩ đã ra sức  
phát huy tài năng sáng tạo của thế hệ trẻ và các lực  
lượng lao động khác. Chính những nhà quản lí ở đây  
đã nhận ra rằng tác động vào tâm lí cũng như kích  
thích tiềm năng của con người là căn cơ quan trọng để  
phát huy sức lao động sáng tạo. Từ những năm 50  
của thế kỉ XX, các nhà Tâm lí học Mĩ đã nghiên cứu khá  
cơ bản và hệ thống về năng lực sáng tạo của con  
người từ tuổi nhỏ đến tuổi trưởng thành. Đặc biệt hơn  
từ những 1970 - các nhà Tâm lí học Mĩ có rất nhiều  
nghiên cứu sâu về Tâm lí học sáng tạo, về công cuộc  
phát triển tài năng sáng tạo của con người.  
 
Có thể đề cập sâu đến quyển sách viết về  
sáng tạo và tư duy sáng tạo của A.Osborn vào năm  
1939. Dù không phải là một nhà Tâm lí học nhưng ông  
đã có những nhìn nhận khá sâu sắc về vấn đề sáng  
tạo và tâm lí để con người sáng tạo những sản phẩm  
độc đáo. Dưới góc nhìn là nhà kinh doanh, ông đã đề  
cập đến những phương pháp, phương án tập kích não  
để làm việc tốt, để phát triển sáng tạo. Quyển sách của  
ông đã tái bản 24 lần với những tiếng vang khi đề cập  
đến những yếu tố tâm lí của con người liên quan đến  
hoạt động sáng tạo. Ông nói: "Thành công của ông có  
được nhờ vào việc ông tìm ra phương pháp, nghĩ ra  
nhiều phương án khác nhau để hướng đến kết quả  
sáng tạo".  
Năm 1950, J. P. Guilford bắt đầu nghiên cứu  
có hệ thống về sáng tạo dưới góc nhìn Tâm lí học.  
J.P.Guilford là giáo sư Đại học thuộc miền Nam  
California. Lúc ông nhậm chức chủ tịch hội Tâm lí học  
Mĩ cũng là lúc ông dành một khoảng thời gian thích  
đáng để nói về sáng tạo trong bài phát biểu của mình.  
Ông đặt ra nhiều vấn đề xoay quanh thực trạng nghiên  
cứu về sáng tạo, hoạt động sáng tạo và đề cập thêm  
về hướng nghiên cứu, thách thức của việc phát triển  
khả năng sáng tạo, cách thức sáng tạo của con người.  
Những câu hỏi mà J.P.Guilford đặt ra cũng chính là  
những vấn đề trọng tâm mà Tâm lí học sáng tạo phải  
quan tâm, giải quyết. Có thể phát hiện tiềm năng sáng  
tạo hay không? Phát triển khả năng ấy bằng cách nào,  
phát triển đến mức nào?...Cũng từ đây, ông động viên,  
khuyến khích các nhà Tâm lí học Mĩ nghiên cứu sâu  
vào lĩnh vực có ý nghĩa này. Từ đấy, ở Mĩ dấy lên phong  
trào nghiên cứu về sáng tạo cả về số lượng nhà  
nghiên cứu - nhóm nghiên cứu cũng như các xu  
hướng nghiên cứu khác nhau.  
Tuy nhiên, dù cho những nhà Tâm lí học nổi  
tiếng như Barron, Blam, Wallase, Torrana, Bova... đã  
tập trung nghiên cứu khá nhiều về sáng tạo nhưng vẫn  
còn nặng về tính chất mô tả kinh nghiệm chứ không  
phải là thực nghiệm để rút ra quy luật. Điều mà thực  
tiễn đòi hỏi là phải tìm ra những quy luật của sáng tạo  
để có thể lấy đó làm cơ sở điều khiển, phát huy sáng  
tạo thì gần như các nhà Tâm lí học vẫn chưa giải quyết  
được. Tuy nhiên, cũng thông qua những nghiên cứu ở  
đây những vấn đề của Tâm lí học sáng tạo như bản  
chất hoạt động sáng tạo, quá trình sáng tạo, đặc điểm  
sáng tạo và nhân cách sáng tạo... đã được quan tâm  
cũng trở thành những cứ liệu rất có giá trị. Không  
những quan tâm đến việc nghiên cứu về sáng tạo  
cũng như Tâm lí học sáng tạo mà các nhà Tâm lí học  
thuộc các nước xã hội chủ nghĩa bắt đầu tổ chức nhiều  
hội thảo khoa học. Từ đó, các hướng nghiên cứu khác  
nhau về sáng tạo bắt đầu được xuất hiện thông qua  
các cuộc hội thảo mang tính chất quốc gia - quốc tế  
như: Hội thảo tại Matxcơva (Liên Xô (cũ) - 1967); Hội  
thảo tại Praha (Tiệp Khắc (cũ) - 1967); Hội thảo tại  
Liblice (1972 - Tiệp Khắc (cũ),...  
Có thể nhận thấy ở Liên Xô (cũ) đội ngũ các  
nhà Tâm lí học nghiên cứu về sáng tạo khá đông đảo.  
Nhắc đến việc nghiên cứu về sáng tạo không thể  
không kể đến O.K.Chikhômirôp; Ia.A.Pônôvariôp, B.M  
Kêdrôp; M.G.Ia.Rôsepxki; A.N.Luk; D.N Bôgôialenxki;  
X.L.Rubinstêin, L.X.Vưgôtxki, N.G.Alêcxâyep... với các  
hướng nghiên cứu chủ yếu sau:  
* Hướng 1: So sánh cách giải quyết vấn đề  
của con người và máy để nhận ra được khả năng  
sáng tạo của con người. Khả năng sáng tạo của con  
người ngoài những gì có sẵn trong chương trình. Các  
nhà nghiên cứu theo hướng này tập trung so sánh về  
khả năng và cách thức giải quyết vấn đề của con người  
và người máy (robot). Nếu như robot xét cụ thể trong  
từng trường hợp có thể làm việc hơn người (đặc biệt  
về sự tinh vi, nặng nhọc trong công việc) nhưng suy  
cho cùng robot cũng chỉ làm những chương trình có  
sẵn do con người sắp xếp, cài đặt. Trong khi đó, con  
người luôn luôn tìm tòi, khám phá để giải quyết vấn đề  
bằng cách và con đường riêng của mình. Điều này  
cũng dẫn đến một suy luận hiển nhiên là người máy  
(hay bất kì loại máy móc tinh vi) cũng không làm được  
những gì không thuộc chương trình cài đặt. Chính  
Pônôvariôp đã nhấn mạnh: "Trong tư duy sáng tạo,  
chủ thể thu được những hiểu biết mới và áp dụng  
những phương pháp mới vào hoạt động của mình. Kết  
quả tư duycho ra những hiểu biết mới và áp dụng thực  
hiện vào trong thực tiễn".  
* Hướng 2: Nghiên cứu vấn đề của hoạt động  
khoa học, tư duy khoa học và tìm ra những đặc thù của  
hoạt động phát hiện của các nhà khoa học trong đó có  
hoạt động sáng tạo.  
* Hướng 3: Tập trung nghiên cứu những vấn  
đề chung nhất của hoạt động sáng tạo.  
* Hướng 4: Nghiên cứu và phân tích tầm quan  
trọng của sáng tạo và quan hệ giữa sáng tạo với quá  
trình tiếp thu tri thức của con người.  
* Hướng 5: Tập trung nghiên cứu và nhấn  
mạnh ảnh hưởng qua lại giữa tư duy và tưởng tượng  
trong hoạt động sáng tạo của con người. Nhiều nhà  
nghiên cứu theo hướng này như X.L.Rubinxtêin,  
L.X.Vưgôtxki khẳng định rằng trong hoạt động sáng tạo  
thì tưởng tượng là thành phần không thể thiếu được và  
tưởng tượng dường như rất khó tách bạch với tư duy.  
* Hướng 6: Nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề  
thực hành cũng như lí luận của tư duy sáng tạo và tìm  
hiểu mối quan hệ của sáng tạo và hoạt động vô thức.  
* Hướng 7: Tập trung nghiên cứu về hoạt  
động sáng tạo của học sinh trong nhà trường, biện  
pháp phát triển sáng tạo cho học sinh,...  
Có thể nhận thấy rằng, việc nghiên cứu về  
sáng tạo và Tâm lí học sáng tạo ở Liên Xô (cũ) có  
những bước tiến, đặc biệt là hướng nghiên cứu rất  
phong phú và đa dạng. Việc nghiên cứu này đã đặt cơ  
s ở chung về lí luận cũng như phương pháp nghiên  
cứu về vấn đề sáng tạo - Tâm lí học sáng tạo trở nên  
quen thuộc nhưng cũng thật hấp dẫn. Trong suốt từ  
năm 1925 đến năm 1980, việc nghiên cứu này có  
những bước thăng trầm. Xem xét tiến triển của việc  
nghiên cứu cho thấy có những giai đoạn Tâm lí học  
sáng tạo trở thành một mối quan tâm đặc biệt (1925 -  
1929); (1960 - 1980), cũng có giai đoạn Tâm lí học  
sáng tạo gần như không được quan tâm nghiên cứu  
(1935 - 1945). Chắc chắn sự thăng trầm hay biến đổi  
này phụ thuộc khá nhiều vào tính thời cuộc cũng như  
bị ảnh hưởng ít nhiều vào những mấu chốt nghiên cứu  
hoặc sự "tranh cãi" quá lớn đến mức "chơi vơi" về luận  
điểm và phương pháp nghiên cứu.  
Không chỉ ở Liên Xô (cũ) mà cả Tiệp Khắc  
(cũ), vấn đề sáng tạo được các nhà Tâm lí học bắt đầu  
quan tâm từ những năm 1955 - 1960. Các vấn đề tâm  
lí trong hoạt động sáng tạo được nhiều nhà Tâm lí học  
ở Tiệp Khắc tìm hiểu như cơ chế sáng tạo, làm việc  
sáng tạo,... Cụ thể như J.H.Lasva nghiên cứu về hoạt  
động sáng tạo, cách làm việc với nhóm sáng tạo; Tác  
giả Lanđa nghiên cứu về sự khiếp sợ với hoạt động  
sáng tạo và chỉ ra những yếu tố tâm lí cản trở sự sáng  
tạo; A.Vôitrô nghiên cứu bằng cách tập hợp các  
chương trình sáng tạo để kích thích sáng tạo của con  
người,... Những nghiên cứu này khẳng định rằng nếu  
những nhà sư phạm xây dựng những chương trình  
sáng tạo, các biện pháp tác động một cách tích cực thì  
có thể kích thích tiềm năng sáng tạo của học sinh.  
Nhiệm vụ kích thích tiềm năng sáng tạo là nhiệm vụ  
quan trọng của các nhà Tâm lí học, Giáo dục học,...  
Ngoài ra có thể kể đến tác giả J.Linhart đã đặt  
cơ sở chung cho việc nghiên cứu lí luận và thực tiễn về  
hoạt động sáng tạo. Ở đây, các yếu tố tâm lí cơ bản chi  
phối hoạt động sáng tạo được phân tích khá rõ nét.  
Tác giả M.Pôpperôva - Jurcôva có nhiều đóng  
góp thực sự có giá trị với Tâm lí học sáng tạo ngày  
nay. Bà nghiên cứu những vấn đề thuộc về năng lực  
sáng tạo của con người, ảnh hưởng của môi trường,  
giáo dục đến hoạt động sáng tạo. Bên cạnh đó, bà còn  
tìm hiểu mối quan hệ giữa trí thông minh với tư duy  
sáng tạo. Bà chỉ ra rằng, việc nghiên cứu những vấn  
đề về sáng tạo, Tâm lí học sáng tạo nên xuất phát từ vị  
trí của hoạt động sáng tạo trong sự phát triển nhân  
cách, vị trí của năng lực sáng tạo trong toàn bộ cấu  
trúc nhân cách chứ không xuất phát từ bản thân Tâm lí  
học sáng tạo đơn thuần.  
Không thể không đề cập đến những nghiên  
cứu chuyên sâu về sự sáng tạo trong tâm lí trẻ em hay  
sáng tạo của trẻ em trước tuổi đến trường. Có thể  
nhận thấy sự quan tâm của các tác giả sau: L.Kinđôra;  
T.Kôvác; D.Kôpacôva; M.Duricecôva,... Các tác giả đều  
quan tâm đến hoạt động tâm lí của trẻ em trong những  
biểu hiện sáng tạo của mình. Trong hoạt động của trẻ  
luôn có yếu tố sáng tạo. Nếu xem xét hoạt động sáng  
tạo một cách nghiêm ngặt thì hoạt động của trẻ không  
phải là hoạt động sáng tạo vì cái mới chưa thật sự là  
cái mới và chưa mang ý nghĩa xã hội nhưng chính cái  
mới của trẻ lại mang dấu ấn sáng tạo đặc biệt. Các  
nhà nghiên cứu này còn nhấn mạnh rằng đừng lãng  
phí khả năng sáng tạo phi thường của trẻ vì chúng  
chưa bị bất kì yếu tố nào ràng buộc như người lớn. Mặt  
khác, các tác giả còn khẳng định rằng chính những  
yếu tố như: trò chơi, vẽ tranh, kể chuyện,... kích thích  
làm cho hoạt động sáng tạo của trẻ phát triển. Các tác  
giả trên cũng cùng có mối quan tâm đặc biệt về tác  
động của gia đình, của giáo dục nhà trường đến khả  
năng sáng tạo của trẻ. Từ việc so sánh về khả năng  
sáng tạo của trẻ có đi học ở trường Mẫu giáo với  
những trẻ sống ở gia đình cũng như việc tìm hiểu và  
so sánh không khí tâm lí trong môi trường gia đình  
ảnh hưởng như thế nào với sự phát triển sáng tạo của  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 104 trang Thùy Anh 10700 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Tâm lí học sáng tạo (Phần 1)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftai_lieu_tam_li_hoc_sang_tao_phan_1.pdf