Mối liên quan giữa tiếp xúc nhiệt độ cao kết hợp dung môi hữu cơ và các triệu chứng trầm cảm, rối loạn lo âu, stress ở công nhân ngành da giầy
Kết quả nghiên cứu KHCN
MỐI LIÊN QUAN GIỮA TIẾP XÚC NHIỆT ĐỘ CAO
KẾT HỢP DUNG MÔI HỮU CƠ VÀ CÁC TRIỆU
CHỨNG TRẦM CẢM, RỐI LOẠN LO ÂU, STRESS
Ở CÔNG NHÂN NGÀNH DA GIẦY
TS. Phan Minh Trang
Phân viện Khoa học An toàn vệ sinh lao động và Bảo vệ môi trường miền Nam
Tóm tắt:
Công nhân làm việc trong ngành công nghiệp giầy da có nhiều nguy cơ mắc bệnh nghề nghiệp
cả thể chất và tinh thần, do trong môi trường lao động có tiếp xúc với nhiều yếu tố nguy cơ điển
hình là nhiệt độ cao và hơi dung môi hữu cơ. Một nghiên cứu cắt ngang kết hợp đo môi trường
lao động bao gồm nhiệt độ cao và hơi dung môi hữu cơ, với phỏng vấn trực tiếp trên 425 công
nhân ngành công nghiệp giầy bằng công cụ chẩn đoán sàng lọc các triệu chứng tâm thần là
DASS 21, để tìm hiểu các triệu chứng tâm thần ở công nhân và các yếu tố nguy cơ có liên quan.
Qua phân tích thống kê kết quả cho thấy, có mối liên quan giữa tiếp xúc giữa nhiệt độ cao và hơi
dung môi hữu cơ, gây ra nguy cơ xuất hiện các triệu chứng tâm lý tâm thần ở công nhân ngành
da giầy cao. Trong đó, nhóm công nhân tiếp xúc với yếu tố nguy cơ là dung môi hữu cơ và nhiệt
độ cao có các triệu chứng trầm cảm và căng thẳng cao hơn nhóm không tiếp xúc với OR=1,21
(0,92 – 1,59) và 1,34 (1 – 1,78) tương ứng.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
những thay đổi kéo dài của cá tính hay tâm trạng
như rối loạn cảm xúc, giảm khả năng kiểm soát
hay động lực phát triển, hoặc giảm khả năng trí
tuệ như giảm sự tập trung, giảm trí nhớ hay
năng lực học tập [3],[4],[5],[6].
ơi dung môi hữu cơ được sử dụng
rộng rãi trong ngành công nghiệp sản
xuất da giầy, đặc biệt trong keo dán
H
giầy ở giai đoạn quét keo và dán giầy. Dung môi
hữu cơ là hợp chất thơm dùng để pha chế keo
dán, được sử dụng trong ngành giầy là
methyletyl ketone (MEK), aceton, … Đây là loại
dung môi dễ bay hơi, có khả năng gây ngộ độc
cấp tính và mãn tính đối với người tiếp xúc, đặc
biệt tác hại trên hệ thần kinh trung ương [1],[2].
Các nghiên cứu dịch tễ học về mối liên quan
giữa tiếp xúc dung môi hữu cơ và các vấn đề
sức khỏe tâm lý tâm thần bao gồm các rối loạn
được biểu hiện qua sự biến đổi có thể hồi phục
của các triệu chứng lâm sàng chủ quan ở công
nhân như mệt mỏi, kích thích, giảm trí nhớ,
Một số nghiên cứu trong ngành da giầy tại
Việt Nam đã được thực hiện nhiều năm qua cho
thấy, tác giả Nguyễn Thị Minh Ngọc năm 1998
đã nghiên cứu ảnh hưởng của dung môi hữu cơ
đến hệ thần kinh ở công nhân ngành sản xuất
giầy và đã tìm ra 6 loại dung môi trong vùng thở
của công nhân như benzen, toluen, xylen,
dicloetylen, dicloetan, tricloetan. Giá trị tiếp xúc
với hỗn hợp các chất dung môi hữu cơ trong
khoảng từ 0,32 – 1,55, trong đó có 2 nhóm vượt
quá tiêu chuẩn cho phép 1,43 và 1,55. Ngoài ra,
Taïp chí Hoaït ñoäng KHCN An toaøn - Söùc khoûe & Moâi tröôøng lao ñoäng, Soá 1,2&3-2021
50
Kết quả nghiên cứu KHCN
2
2
kết quả các test phản xạ đơn giản tăng 7,3%
(P<0,01), khả năng nhớ ngắn hạn giảm (P
<0,05), triệu chứng đau đầu chiếm 81%, khó
nhớ chiếm 42%, dễ nổi cáu chiếm 61,3%
(P<0,001) [7].
Z
p(1-p)/d = 235 công nhân
(1 - /2)
Các số liệu về môi trường lao động là nhiệt
độ cao, dung môi hữu cơ bao gồm MEK,
Acetone, và MEK kết hợp Acetone được đo đạc,
phân tích và đánh giá như là các nguy cơ có liên
quan đến sức khỏe tâm lý tâm thần ở công
nhân.
Gần đây, một nghiên cứu ở Hải Phòng Việt
Nam năm 2012 với cỡ mẫu 420 công nhân
ngành giầy cũng cho thấy, có khoảng 18,8%
công nhân có tỉ lệ hiện mắc bệnh trầm cảm và
các yếu tố nghi ngờ liên quan đến trầm cảm này
bao gồm yêu cầu lao động tập trung cao (OR =
3,0, 95% CI: 1,1–8,3), hỗ trợ xã hội thấp (OR =
4,7, 95% CI: 1,2–12,8), không đủ phương tiện
bảo vệ (OR = 4,1, 95% CI: 2,2–10,1) và vắng
mặt lao động (OR = 6,2, 95% CI: 2,5–18,9) [8].
Dựa vào quy trình sản xuất để lựa chọn mẫu
nghiên cứu được chia thành hai nhóm có tiếp
xúc với dung môi hữu cơ tại các khâu in, quét
keo, sấy, dán đế giầy và không tiếp xúc với yếu
tố nguy cơ hơi dung môi hữu cơ tại các khâu
may, kiểm tra giầy hoàn tất, vệ sinh, và đóng gói.
2.3. Thu thập số liệu
Tuy nhiên, ở Việt Nam, các nghiên cứu về
sức khỏe tâm lý tâm thần nói chung và bệnh
trầm cảm, stress, rối loạn lo âu nói riêng trong
dân số lao động công nghiệp còn rất hạn chế,
mặc dù những công nhân này đã đang và sẽ góp
phần quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã
hội ở Việt Nam. Do vậy, nghiên cứu và đánh giá
rối loạn tâm lý tâm thần ở người lao động và các
yếu tố nguy cơ tại nơi làm việc, nhất là môi
trường lao động với hơi dung môi, nhiệt độ cao
trong ngành công nghiệp da giầy là rất cần thiết.
Các biến số:
- Biến số tiếp xúc: công nhân tiếp xúc với
o
nhiệt độ cao (≥ 31 C), hơi dung môi hữu cơ (chủ
yếu là MEK và Acetone) tại nơi làm việc ; công
nhân không tiếp xúc với yếu tố nguy cơ là hơi
o
dung môi hữu và nhiệt độ ≤ 30 C.
- Biến số hậu quả: rối loạn tâm lý tâm thần
bao gồm trầm cảm, stress và rối loạn lo âu.
- Các biến số khác: tuổi, giới, tình trạng gia
đình, học vấn, kinh tế xã hội,...
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, KỸ THUẬT
SỬ DỤNG
Thu thập thông tin về sức khỏe tâm lý tâm thần:
+ Biến số các thông tin về sức khỏe tâm lý
tâm thần được thu thập bằng phỏng vấn sàng
lọc phát hiện các triệu chứng liên quan đến trầm
cảm, stress, rối loạn lo âu ở công nhân bằng bộ
câu hỏi DASS 21 được chuẩn hóa tiếng Việt.
DASS 21 là công cụ được chuẩn hóa và được
sử dụng tại nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam,
nhằm đo đạc mức độ về trầm cảm, rối loạn lo âu,
và stress trên cộng đồng, là những dấu hiệu xuất
hiện trong tuần trước khi được phỏng vấn, gồm
4 mức độ điểm tương ứng từ nhẹ đến nặng với
các mức độ rối loạn mà người được hỏi cảm
nhận [9]. Trầm cảm được đo bởi mức độ về sự
tuyệt vọng, mất ý nghĩa cuộc sống, giảm khả
năng, và cạn kiệt năng lượng. Trong khi đó, tình
trạng rối loạn lo âu được đánh giá qua các hoạt
2.1. Thiết kế nghiên cứu và đối tượng nghiên
cứu:
Là nghiên cứu cắt ngang trên các đối tượng
công nhân đang làm việc trong ngành da giầy tại
TpHCM.
2.2. Cỡ mẫu nghiên cứu:
Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu: Một nghiên
cứu tại Hải Phòng Việt Nam về tỉ lệ trầm cảm ở
công nhân ngành da giầy, kết quả cho thấy có
đến 18,8% công nhân có các triệu chứng trầm
cảm [8]. Do vậy, trong nghiên cứu này chọn p =
18,8%.
Thêm vào đó, với d = 0,05, α = 5% → Z
1- α /2
= 1,96, nên cỡ mẫu nghiên cứu cần thiết là n =
Taïp chí Hoaït ñoäng KHCN An toaøn - Söùc khoûe & Moâi tröôøng lao ñoäng, Soá 1,2&3-2021
51
Kết quả nghiên cứu KHCN
động thể chất, các triệu chứng thực thể có liên
quan đến hoạt động tự nhiên của cơ thể về sinh
lý học như khó thở, ra mồ hôi tay,… Ngoài ra
stress cũng được đo kiểm qua các dấu hiệu mãn
tính như trãi qua sự căng thẳng, mất khả năng
kiểm soát, hoặc bối rối lo sợ.
- Thu thập thông tin chung đối tượng được
phỏng vấn bằng bảng câu hỏi cá nhân tự thiết
kế, để tìm kiếm các thông tin về tuổi, giới, tình
trạng gia đình, học vấn, tiền sử gia đình, việc
dùng thuốc,… có thể là yếu tố gây nhiễu hoặc
tương tác với yếu tố tiếp xúc.
3. KẾT QUẢ
Kết quả Bảng 1 cho thấy nhiệt độ, ẩm độ, và
tốc độ gió tại thời điểm khảo sát cả trong khu
vực hoạt động của nhà máy và ngoài trời
không vượt quá tiêu chuẩn cho phép (TCVN
2016). Tuy nhiên, khu vực quét keo, dán đế,
o
thành hình có nhiệt độ luôn cao hơn 30 C so
với khu vực QC, may, chỉnh lý với nhiệt độ
o
dưới 30 C.
Nhiệt độ tăng dần trong suốt 8 giờ ca lao
động, trong đó thời điểm nhiệt độ tăng cao nhất
là từ 14h đến 16h với nhiệt độ trung bình là
- Phân tích số liệu với phân tích đơn biến và
đa biến mối liên quan giữa tiếp xúc hơi dung môi
hữu cơ, nhiệt độ cao và các vấn đề sức khỏe
như các triệu chứng liên quan đến trầm cảm,
stress và rối loạn lo âu bằng hồi quy logistic để
ước tính OR và khoảng tin cậy 95%.
o
33,5 C (Hình 1). Như vậy, thời điểm tiến hành
khảo sát môi trường lao động, nhiệt độ tại khu
vực quét keo cao hơn tiêu chuẩn cho phép của
o
Việt Nam là dưới 32 C (TCVN 2016).
MEK và Aceton là loại dung môi dễ bay hơi,
có khả năng gây ngộ độc cấp tính và mãn tính
đối với người tiếp xúc, đặc biệt tác hại trên hệ
thần kinh trung ương. Trong nghiên cứu này, kết
quả đo đạc tại Bảng 2 cho thấy, nồng độ các
chất dung môi hữu cơ chưa vượt quá tiêu chuẩn
Việt Nam cho phép (Tiêu chuẩn 3733/BYT).
Tuәi, giӟi, tình trҥQJ JLD ÿình, hӑc vҩn, tiӅn sӱ gia
ÿình mҳc bӋnh tâm thҫn, yӃu tӕ kinh tӃ xã hӝi…
Nhóm không tiếp xúc có tuổi đời trẻ hơn và
học vấn cao hơn so với nhóm phơi nhiễm với
yếu tố nguy cơ DMHC và nhiệt độ cao (Bảng 3).
TiӃp xúc DMHC,
To ꢀꢁoC
Trҫm cҧm, rӕi loҥn
lo âu, stress
Bảng 1. Kết quả vi khí hậu tại nhà máy sản xuất giày được khảo sát năm 2019
Các chӍ tiêu
NhiӋW ÿӝ (To)
Ĉӝ ҭm (H%)
TӕF ÿӝ gió (m/s)
Khu vӵc
QC
ChӍnh lý
Chuҭn bӏ
May
RӱDꢀpSꢀPjL ÿӃ
Quét keo thành hình
Máy ép cao tҫng
Khác
Ngoài trӡi 8h – 9h
QCVN 2016/BYT
29,89 0,7
29,65 1,6
30,65 0,8
29,65 0,9
31,04 0,7
31,97 1,1
31 0,98
29,93 1,4
29,8
70,36 4,1
67,87 9,9
61,18 7,7
0,44 0,1
0,39 0,1
0,65 0,4
0,51 0,2
0,42 0,1
0,4 0,14
0,34 0,1
0,4 0,1
0,4 – 0,7
61,23
3
62,61 8,2
60,71 7,1
58,23 5,6
68,51 10,9
56,8
18 - 32
40 - 80
0,2 – 1,5
Taïp chí Hoaït ñoäng KHCN An toaøn - Söùc khoûe & Moâi tröôøng lao ñoäng, Soá 1,2&3-2021
52
Kết quả nghiên cứu KHCN
Nhiet do va thoi gian
05:33:20
08:20:00
11:06:40
Time
13:53:20
16:40:00
Hình 1. Nhiệt độ tại khu vực quét keo được đo liên tục trong 8 giờ ca lao động
Bảng 2. Hơi dung môi hữu cơ được đo tại các khu vực có sử dụng dung môi hữu cơ trong suốt 8
giờ ca lao động
Hóa chҩt
Sӕ mүu
NӗQJ ÿӝ
Trung bình
Ĉ/&
Tӕi thiӇu
TӕL ÿD
Khu thành hình
98,65
Methyl ethyl ketone (MEK)
Acetone
40
29
31,97
8,8
54,6
52,7
172
92,1
72,15
.KX VѫQ
125,82
85,55
Methyl ethyl ketone (MEK)
Acetone
16
4
23,66
5,64
87,3
79,5
162
91,8
Khu dán keo
108,57
Methyl ethyl ketone (MEK)
Acetone
8
7
34,04
20,07
60,5
37,8
145
86.2
62,54
Tiêu chuҭn VSCN 4Ĉ ꢀꢁꢀꢀꢂꢃꢄꢄꢃꢂ4Ĉ-BYT
+ѫL 0(.
+ѫL $FHWRQH
ꢀꢄꢄ mg/m3
ꢀꢄꢄ PJꢂP3
Bảng 3. Đặc điểm dân số của nhóm tiếp xúc và không tiếp xúc với yếu tố nguy cơ là DMHC và nhiệt
độ cao
ĈһF ÿLӇm
Công nhân
Nhóm tiӃp xúc DMHC, To ꢀꢁoC
50,12%
Nhóm không tiӃp xúc DMHC, To ꢀꢂoC
49,88%
Tuәi
34,8 9 (19 – 53)
28,5 6 (18 – 40)
Hӑc vҩn
82,5% (cҩp 1 và 2)
90 % (cҩp 2 và 3)
Tình trҥng hôn nhân
ꢃꢄꢅꢄꢆ ꢀÿӝc thân và lұS JLD ÿình)
96,7% ꢀÿӝc thân và lұS JLD ÿình)
Taïp chí Hoaït ñoäng KHCN An toaøn - Söùc khoûe & Moâi tröôøng lao ñoäng, Soá 1,2&3-2021
53
Kết quả nghiên cứu KHCN
2
0ӕL OLrQ TXDQ WULӋX FKӭQJ WkP WKҫQ Yj \ӃX Wӕ QJX\ Fѫ
1.8
1.6
1.4
1.2
1
1.78
1.59
1.34
1
1.21
0.92
1.11
0.85
0.65
0.8
0.6
0.4
0.2
0
7UҫP FҧP
5ӕL ORҥQ OR kX
&ăQJ WKҷQJ
Hình 2. Mối liên quan giữa tiếp xúc dung môi hữu cơ, nhiệt độ cao
và sự xuất hiện các triệu chứng rối loạn tâm lý tâm thần ở công nhân
o
Công nhân có nguy cơ bị stress ở nhóm có
hơn (≥ 31 C) những công nhân làm việc ở khu
o
tiếp xúc với dung môi hữu cơ và nhiệt độ ≥ 31 C
vực không phơi nhiễm DMHC và chịu ảnh hưởng
của nhiệt độ không khí thấp hơn (< 30 C).
o
cao hơn 34% so với nhóm không tiếp xúc DMHC
o
và nhiệt độ <30 C. Trong khi đó, mặc dù nhóm
Trong nghiên cứu này, nhóm tiếp xúc với yếu
tố nguy cơ chiếm 50,12% công nhân có tuổi
trung bình là 34,8 9 và nhóm so sánh chiếm
49,88% công nhân có tuổi trung bình là 28,5 6.
Cả hai nhóm công nhân tham gia nghiên cứu có
tỉ lệ độc thân và lập gia đình tương đương nhau,
tuy nhiên nhóm có tiếp xúc với yếu tố nguy cơ có
trình độ học vấn chủ yếu là cấp 1,2 thấp hơn
nhóm được so sánh thì đa số ở cấp 2, 3 (Bảng
3). Ngành công nghiệp da giầy tại Việt Nam là
một trong những ngành công nghiệp có số
lượng công nhân khá nhiều, chủ yếu là lao động
nữ, làm việc trong môi trường lao động có tiếp
xúc với nhiệt độ cao và hơi dung môi hữu cơ.
Những yếu tố nguy cơ trong môi trường lao
động, có thể kết hợp tác động đồng thời gây ra
sự gia tăng gánh nặng liên quan đến sức khỏe
tâm thần và hành vi của công nhân, đặc biệt tại
quốc gia có đặc điểm khí hậu nóng cận nhiệt đới
như Việt Nam.
tiếp xúc với dung môi hữu cơ có các triệu chứng
liên quan đến trầm cảm cao hơn nhóm không
tiếp xúc là 21%, tuy nhiên mối liên quan không
có ý nghĩa thống kê với khoảng tin cậy 95% là
0,92 và 1,59 (Hình 2).
4. BÀN LUẬN
Kết quả nghiên cứu (Bảng 1-2, Hình 1) cho
thấy, nhiệt độ trung bình tại các phân xưởng quét
keo, thành hình,... được khảo sát về vi khí hậu
(nhiệt độ, độ ẩm, và tốc độ gió) cho thấy nhiệt độ
o
khá cao vượt quá 31 C so với các khu vực
không có sử dụng DMHC là may, QC, đóng gói
o
chỉnh lý với nhiệt độ tối đa dưới 30 C. Thêm vào
đó, nhiệt độ được đo liên tục trong khoảng thời
gian từ 14h – 15h tại khu vực quét keo, có chỉ số
o
rất cao từ 33,5 đến 34 C, vượt quá tiêu chuẩn
o
cho phép của TCVN 2016 là 32 C. Như vậy,
công nhân tại khu vực có tiếp xúc với dung môi
hữu cơ đồng thời bị tác động bởi nhiệt độ cao
Taïp chí Hoaït ñoäng KHCN An toaøn - Söùc khoûe & Moâi tröôøng lao ñoäng, Soá 1,2&3-2021
54
Kết quả nghiên cứu KHCN
Dựa vào bộ câu hỏi DASS21, kết quả nghiên
cứu cho thấy công nhân có nguy cơ bị stress ở
nhóm công nhân có tiếp xúc với dung môi hữu
cơ và nhiệt độ cao tại khu vượt dán giầy cao
hơn nhóm không tiếp xúc là 34% (Hình 2).
Trong khi đó, mặc dù nhóm tiếp xúc với DMHC
có các triệu chứng trầm cảm cao hơn nhóm
không tiếp xúc là 21%, tuy nhiên mối liên quan
không có ý nghĩa thống kê với khoảng tin cậy
95% là 0,92 và 1,59 (Hình 2). Theo y văn, các
dung môi hữu cơ được sử dụng trong ngành da
giầy có tác động đến hệ thần kinh trung ương
nếu tiếp xúc lâu dài [10]. Tại Phần Lan với
nghiên cứu không can thiệp và độ nhạy cao để
phát hiện sớm sự suy giảm chức năng thần kinh
ở nhóm công nhân tiếp xúc với hợp chất DMHC.
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, nhóm công
nhân có phơi nhiễm nghề nghiệp với DMHC thì
có tần số xuất hiện các triệu chứng tâm thần
kinh cao hơn so với nhóm không tiếp xúc được
chứng minh qua tỉ lệ bất thường về điện não đồ,
ở các nhóm tiếp xúc DMHC khác nhau cũng có
sự khác biệt trong tổn thương trên điện não đồ
khác nhau (11). Một nghiên cứu tại Negeria về
nhà máy sản xuất da giầy về sự mệt mỏi, đau
đầu, rối loạn giấc ngủ, chóng mặt, vật vờ liên
quan đến tiếp xúc dung môi hữu cơ (DMHC).
Kết quả cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê về mối liên quan giữa tiếp xúc với hơi
DMHC là MEK và các triệu chứng tâm thần kinh
như đau đầu, rối loạn giấc ngủ, choáng váng, và
vật vờ tương ứng [12].
tăng nhiệt độ tại nơi làm việc, ảnh hưởng đến
sức khỏe và năng suất lao động của lực lượng
công nhân [14].
5. KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu này bước đầu cho thấy,
có mối liên quan giữa tiếp xúc nhiệt độ cao, hơi
dung môi hữu cơ và nguy cơ rối loạn trầm cảm,
stress ở công nhân ngành da giầy, trong đó
nhóm phơi nhiễm DMHC làm việc ở nhiệt độ ≥
o
31 C có tỉ lệ trầm cảm và stress tăng 21% và
34% tương ứng so với nhóm không phơi nhiễm
o
DMHC và nhiệt độ dưới 30 C. Điều này giúp
cho việc định hình các giải pháp cần thiết cụ thể
hỗ trợ công nhân ngành da giầy nói riêng, và
các công nhân làm việc tại các ngành công
nghiệp có tiếp xúc với nhiệt độ cao kết hợp
DMHC nói chung, nhằm phòng ngừa các bệnh
về rối loạn tâm lý tâm thần điển hình là stress,
trầm cảm, rối loạn lo âu nghề nghiệp, có liên
quan đến phơi nhiễm yếu tố vật lý và hóa học.
Đồng thời giúp các nhà quản lý sức khỏe nghề
nghiệp xây dựng các giải pháp và chương trình
sức khỏe, nhằm phòng ngừa và bảo vệ sức
khỏe người lao động cả thể chất lẫn tinh thần,
cũng như nâng cao năng suất lao động của
công nhân tại nơi làm việc.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Foa V, Martinotti I. (2012), Shoe factory
workers, solvents and health, Giornale italiano di
medicina
del
lavoro
ed
ergonomia.
Gần đây, kết quả nghiên cứu trên 40.000
công nhân trong các ngành công nghiệp tại Thái
Lan về nguy cơ sức khỏe tâm thần có liên quan
đến môi trường lao động nóng cho thấy rằng,
84% công nhân bị mệt mỏi tâm thần khi làm việc
trong môi trường với nhiệt độ cao [13]. Nhiệt độ
cao được xem là nguy cơ mang tính vật lý ảnh
hưởng đến sức khỏe, khả năng hoạt động của
con người, đặc biệt tại các quốc gia nhiệt đới và
cận nhiệt đới như Việt Nam. Điều này ảnh
hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế xã
hội của chính các quốc gia đó, và được ước tính
sẽ mất hơn 20% GDP vào năm 2100 do vấn đề
2012;34(1):16-8.
[2]. Nijem K, Kristensen P, Thorud S, Al-Khatib A,
Takrori F, Bjertness E. (2001), Solvent expo-
sures at shoe factories and workshops in Hebron
City, West Bank, Int J Occup Environ Health;
7(3):182-8.
[3]. Chen R, Dick F, Semple S, Seaton A, Walker
LG (2001), Exposure to organic solvents and
personality. Occupational and environmental
medicine, 58(1):14-8.
[4]. Dick F, Semple S, Osborne A, Soutar A,
Taïp chí Hoaït ñoäng KHCN An toaøn - Söùc khoûe & Moâi tröôøng lao ñoäng, Soá 1,2&3-2021
55
Kết quả nghiên cứu KHCN
Seaton A, Cherrie JW, et al. (2002), Organic sol-
vent exposure, genes, and risk of neuropsycho-
logical impairment, QJM : monthly journal of the
Association of Physicians; 95(6):379-87.
Anxiety and Stress among Small and Medium
Enterprise Workers in Indonesia, Malaysia,
Thailand, and Vietnam, International Journal of
Occupational Health & Public Health Nursing; 3.
13-29. .
[5]. Wang JD, Chang YC, Kao KP, Huang CC,
Lin CC, Yeh WY (1986), An outbreak of N-hexa-
ne induced polyneuropathy among press proof-
ing workers in Taipei, American journal of indus-
trial medicine; 10(2):111-8.
[10]. Hänninen H, Eskelinen L, Husman K,
Nurminen M (1976), Behavioral effects of long-
term exposure to a mixture of organic solvents,
Scandinavian journal of work, environment &
health; (4):240-55.
[6]. Mutti A, Ferri F, Lommi G, Lotta S, Lucertini
S, Franchini
I
(1982), n-Hexane-induced
[11]. Seppalainen AM (1981), Neurophysiological
findings among workers exposed to organic sol-
vents, Scandinavian journal of work, environment
& health; 7 Suppl 4:29-33.
changes in nerve conduction velocities and
somatosensory evoked potentials, International
archives of occupational and environmental
health; 51(1):45-54.
[12]. Oleru UG, Onyekwere C. (1992),
Exposures to polyvinyl chloride, methyl ketone
and other chemicals. The pulmonary and non-
pulmonary effect, International archives of occu-
pational and environmental health; 63(7):503-7.
[7]. Hoàng Minh Hiền (2002), Báo cáo tổng kết
đề tài “Nghiên cứu đánh giá tình trạng sức khỏe
và sức nghe của người lao động tiếp xúc với
dung môi hữu cơ (toluen, xylen,...) trong một số
nghề sản xuất và đề xuất một số biện pháp góp
phần bảo vệ sức khỏe người lao động”, mã số
200/03/TLĐ, Hà Nội.
[13]. Tawatsupa B, Lim LLY, Kjellstrom T,
Seubsman SA, Sleigh A, Team TCS (2010), The
association between overall health, psychologi-
cal distress, and occupational heat stress among
a large national cohort of 40,913 Thai workers,
Global health action; 3.
[8]. Minh KP (2014), Work-related depression
and associated factors in a shoe manufacturing
factory in Haiphong City, Vietnam, International
journal of occupational medicine and environ-
mental health; 27(6):950-8.
[14]. Kjellstrom T, Briggs D, Freyberg C, Lemke
B, Otto M, Hyatt O. Heat (2016), Human
Performance, and Occupational Health: A Key
Issue for the Assessment of Global Climate
Change Impacts, Annual review of public health;
37:97-112.
[9]. Ratanasiripong PK, Orawan & Bell, Edith &
Haigh, Charlotte & Susilowati, Indri & Isahak,
Marzuki & Harncharoen, Kitiphong & Nguyen,
Toai & Low, Wah Yun (2016), Depression,
Ảnh minh họa. Nguồn: Internet
Taïp chí Hoaït ñoäng KHCN An toaøn - Söùc khoûe & Moâi tröôøng lao ñoäng, Soá 1,2&3-2021
56
Bạn đang xem tài liệu "Mối liên quan giữa tiếp xúc nhiệt độ cao kết hợp dung môi hữu cơ và các triệu chứng trầm cảm, rối loạn lo âu, stress ở công nhân ngành da giầy", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
moi_lien_quan_giua_tiep_xuc_nhiet_do_cao_ket_hop_dung_moi_hu.pdf

