Chăm sóc sức khỏe tâm thần dựa vào trường học: Kinh nghiệm của thế giới và bài học cho Việt Nam

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 18, Số 3 (2021)  
CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN DỰA VÀO TRƯỜNG HỌC:  
KINH NGHIỆM CỦA THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM  
Nguyễn Thị Hoài Phương  
Khoa Xã hội học và Công tác xã hội, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế  
Ngày nhận bài: 9/11/2020; ngày hoàn thành phản biện: 01/12/2020; ngày duyệt đăng: 15/4/2021  
TÓM TẮT  
Trong bối cảnh xã hội với nhiều biến động như hiện nay, học sinh đang ngày càng  
phải đối diện với nhiều vấn đề sức khỏe tâm thần do sự phụ thuộc quá mức vào  
công nghệ, giảm khả năng tương tác xã hội, áp lực học tập, khó khăn trong việc ứng  
phó với những vấn đề của cá nhân và chịu nhiều tác động tiêu cực từ môi trường  
xung quanh. Trong khi đó, trường học được xem là một trong những môi trường lý  
tưởng để thực hiện và triển khai hiệu quả các chương trình chăm sóc sức khỏe tâm  
thần cho học sinh nhằm tạo ra không gian học tập và sinh hoạt an toàn, lành mạnh  
cho trẻ em. Vì vậy, bằng phương pháp phân tích tài liệu và nghiên cứu thực tiễn, bài  
viết sẽ tập trung tìm hiểu một số nghiên cứu trong và ngoài nước về sức khỏe tâm  
thầm. Đồng thời, làm rõ nhu cầu cấp thiết của việc chăm sóc sức khỏe tâm thần cho  
học sinh trong trường học hiện nay. Từ đó, đề xuất một số định hướng phát triển  
các chương trình này tại Việt Nam trong tương lai.  
Từ khóa: trẻ em và vị thành niên, trường học, sức khỏe tâm thần.  
1. DẪN NHẬP  
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), sức khỏe tâm thần (SKTT) là trạng thái hoàn  
toàn thoải mái mà cá nhân có thể thể hiện được năng lực của bản thân và có thể ứng phó  
được với những stress thông thường trong cuộc sống. Thực tế cho thấy rằng, với sự phát  
triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường và sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách  
mạng công nghệ 4.0, đời sống của người dân đang ngày càng được cải thiện và nâng  
cao. Tuy nhiên, cùng với sự đảm bảo và đáp ứng đầy đủ các nhu cầu về vật chất, con  
người lại càng dễ mắc phải các vấn đề SKTT. Điều này là do sự phụ thuộc quá mức vào  
công nghệ, giảm khả năng tương tác xã hội, khó khăn trong việc ứng phó với những vấn  
đề của cá nhân và chịu nhiều sự tác động tiêu cực từ môi trường sống xung quanh…  
Trong đó, đặc biệt đáng chú ý là nhóm trẻ vị thành niên (từ 10 đến 18 tuổi) được xem là  
đối tượng có nguy cơ cao mắc phải các vấn đề về SKTT do những biến đổi mạnh mẽ về  
147  
Chăm sóc sức khỏe tâm thần dựa vào trường học: kinh nghiệm của thế giới và bài học cho Việt Nam  
tâm sinh lý lứa tuổi và phải liên tục đối diện với nhiều thách thức từ môi trường học tập  
và sinh hoạt hằng ngày. Theo Báo cáo tóm tắt: “Sức khỏe tâm thần và tâm lý xã hội của  
trẻ em và thanh niên tại một số tỉnh và thành phố ở Việt Nam” của Viện Nghiên cứu  
Phát triển Hải ngoại (ODI) và Qũy Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) năm 2018, nhóm  
nghiên cứu đã chỉ rõ mức độ và tính phổ biến của các vấn đề sức khỏe tâm thần và tâm  
lý xã hội tại Việt Nam đang ở mức báo động. Cụ thể, tỷ lệ hiện mắc các vấn đề SKTT nói  
chung đối với trẻ em và vị thành niên ở Việt Nam dao động trong khoảng từ 8% đến  
29% [9, tr.6]. Thực trạng này đã đặt ra nhiều thách thức trong vấn đề chăm sóc SKTT cho  
học sinh đối với ngành giáo dục ở nước ta hiện nay. Vì vậy, bài viết sẽ tập trung làm rõ  
sự cần thiết của việc chăm sóc SKTT dựa vào trường học tại Việt Nam. Đồng thời, tác  
giả xem xét và phân tích một số kinh nghiệm của thế giới để đưa ra một số định hướng  
phát triển các chương trình chăm sóc SKTT phù hợp với bối cảnh xã hội của nước ta  
trong giai đoạn hiện nay.  
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1 Phương pháp phân tích tài liệu  
Đối với bài viết này, tác giả đã tìm hiểu và tổng hợp thông tin từ nhiều nguồn tài  
liệu khác nhau như sách chuyên khảo, tạp chí, bài báo điện tử, văn bản pháp luật và  
công trình nghiên cứu có liên quan đến sức khỏe tâm thần. Qua đó, tìm hiểu và đánh giá  
các chương trình chăm sóc sức khỏe trên thế giới hiện nay. Từ đó, lựa chọn các thông tin  
hữu ích, có giá trị để làm cơ sở khoa học cho việc định hướng phát triển các chương trình  
này tại Việt Nam trong tương lai.  
2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn  
Trong bài viết này, tôi đã sử dụng một số dữ liệu, số liệu thống kê mà bản thân  
đã khảo sát từ đề tài “Khảo sát nhận thức của học sinh về sức khỏe tâm thần ở lứa tuổi  
vị thành niên trên địa bàn thành phố Huế hiện nay” vào năm 2020, nhằm bổ sung và  
làm rõ các luận cứ, luận chứng về nhu cầu chăm sóc SKTT tại trường học ở nước ta trong  
bối cảnh hiện nay. Trong đợt khảo sát này, nhà nghiên cứu đã tiến hành thực hiện phỏng  
vấn bán cấu trúc đối với ban giám hiệu nhà trường nhằm tìm hiểu tổng quan về trường  
THCS Nguyễn Văn Linh, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế và một số hoạt động liên  
quan đến công tác chăm sóc SKTT cho học sinh trong trường học. Ngoài ra, nghiên cứu  
cũng đã thực hiện khảo sát bảng hỏi với các câu hỏi được soạn thảo theo một trình tự  
1
logic. Trong đó, bảng hỏi có sử dụng thang đo DASS 21 để đánh giá mức độ trầm cảm,  
lo âu và stress đối với 216 học sinh ở khối 8 và khối 9 trong nhà trường. Sau khi hoàn  
1
DASS 21 (gồm 21 câu hỏi) là thang đo chẩn đoán khá phổ biến, chính xác và nhanh chóng về  
mức độ rối loạn lo âu, trầm cảm và stress.  
148  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 18, Số 3 (2021)  
thành khảo sát thực tế, các thông tin thu thập được qua bảng hỏi được xử lý qua phần  
mềm SPSS và các dữ liệu thống kê có ý nghĩa được đưa vào để phân tích trong bài viết.  
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
3.1 Kết quả nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe tâm thần trên thế giới  
Các nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng, tỷ lệ học sinh trong độ tuổi từ 13 đến  
18 đều trải nghiệm các vấn đề sức khỏe tâm thần ở một thời điểm bất kỳ nào đó trong  
cuộc sống là 46.3% và rối loạn tâm thần nghiêm trọng xảy ra ở học sinh chiếm tỷ lệ hơn  
20% (Forness, Freeman, Paparella, Kauffman & Walker, 2012). Tỷ lệ này được xác định  
là mang tính toàn cầu, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Do đó, việc chăm sóc SKTT  
cho học sinh luôn được chú trọng và phát triển mạnh mẽ tại các quốc gia trên thế giới.  
Đặc biệt, tại Hoa Kỳ, từ việc nhận thấy được tầm quan trọng của việc hình thành các  
dịch vụ, chương trình chăm sóc sức khỏe dựa vào trường học, quốc gia này đã chuyển  
dịch và hướng các hình thức chăm sóc, hỗ trợ truyền thông vào cơ cấu nhà trường. Từ  
đó, hình thành các chương trình chăm sóc SKTT dựa vào trường học [1, tr.151-152].  
Trong nhiều năm qua, một số trường học ở Hoa Kỳ đã xây dựng và triển khai các chương  
trình chăm sóc SKTT dựa trên cách phân loại, đánh giá và can thiệp kịp thời các vấn đề  
SKTT của học sinh trong nhà trường. Hình 1 là một trong những cách phân loại các vấn  
đề SKTT và tâm lý liên quan đến các nhóm đối tượng khác nhau và được thể hiện như  
sau:  
Hình 1. Các vấn đề của học sinh trong nhà trường (WHO, 1993) [1, tr.152]  
Dựa vào hình 1, chúng ta có thể phân loại các nhóm đối tượng với từng nội dung  
tương ứng, cũng như cung cấp dịch vụ chăm sóc SKTT một cách phù hợp với từng chủ  
đề, vấn đề cụ thể. Có thể thấy rằng, đối với mục tiêu tạo sự thoải mái về tâm trí, hoạt  
động này cần được thực hiện đối với toàn bộ các thành viên trong trường học bao gồm  
học sinh, giáo viên, cán bộ hành chính và các thành viên của cộng đồng xung quanh  
149  
Chăm sóc sức khỏe tâm thần dựa vào trường học: kinh nghiệm của thế giới và bài học cho Việt Nam  
trường học. Bên cạnh đó, tất cả giáo viên và nhà trường cần được cung cấp các kiến thức  
và kỹ năng cần thiết để có thể tự nhận biết được một số dấu hiệu liên quan đến vấn đề  
SKTT và phòng ngừa khi cần thiết. Trong nhà trường, thông thường, có khoảng 20-30%  
học sinh được xác định và có nguy cơ gặp phải các vấn đề tâm lý xã hội. Những vấn đề  
này bao gồm tình trạng nghèo đói, bạo lực gia đình, khủng hoảng tâm lý ở lứa tuổi dậy  
thì, sử dụng chất kích thích, mâu thuẫn trong gia đình... Do đó, học sinh cần được phát  
hiện sớm, theo dõi và can thiệp kịp thời. Bên cạnh đó, các học sinh có khả năng rơi vào  
các rối loạn tâm thần như trầm cảm, lo âu, rối loạn hành vi… thường chiếm tỷ lệ 3-12%  
và cần phải được can thiệp, trị liệu chuyên sâu. Bằng cách phân loại các vấn đề tâm lý  
xã hội trong nhà trường như hình 1, các chương trình, dịch vụ chăm sóc SKTT dựa vào  
trường học tại Hoa Kỳ đều hướng đến mục tiêu quan trọng là phòng ngừa ở ba cấp độ  
tổng quát, lựa chọn và chỉ định. Cụ thể, năm 1987, Gordon đề xuất phân loại khái niệm  
“phòng ngừa” như sau:  
- Biện pháp tổng quát (Universal Measures) dành cho tất cả mọi người. Lợi ích  
cho mọi người cao hơn chi phí.  
- Biện pháp lựa chọn (Selective) chỉ dành cho cá nhân thuộc một nhóm mà nguy  
cơ mắc bệnh cao hơn mức trung bình.  
- Biện pháp chỉ định (Indicated) dành cho cá nhân mà thông qua đánh giá, kiểm  
tra được xác định có các yếu tố nguy cơ được cho là nguy cơ cao để hình thành và phát  
triển một bệnh.  
Dựa vào cách phân tầng các vấn đề sức khỏe tâm thần và tâm lý xã hội, mô hình  
chăm sóc SKTT toàn diện được đưa ra và khái quát cụ thể như sau:  
Hình 2. Mô hình chăm sóc sức khỏe tâm thần toàn diện [1, tr.154]  
Có thể nói, với mô hình chăm sóc sức khỏe tâm thần toàn diện, các trường học có thể  
nhận diện rõ hơn các hoạt động có thể triển khai trong trường học với các cấp độ khác  
nhau như phòng ngừa, can thiệp và trị liệu. Ở Hoa Kỳ, áp dụng mô hình 2, ngành giáo  
dục đã xây dựng tiếp cận đa tầng trong can thiệp, hỗ trợ các vấn đề về SKTT và học tập  
150  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 18, Số 3 (2021)  
cho học sinh. Từ đó, phát triển thành mô hình Đáp ứng can thiệp (Response to  
Intervention – RTI là mô hình hướng đến việc thúc đẩy môi trường học tập lành mạnh  
thông qua hoạt động sàng lọc tổng quát, can thiệp sớm, theo dõi và hỗ trợ chuyên sâu)  
được thể hiện qua hình 3 và 4. Với cách tiếp cận này, học sinh có nguy cơ gặp phải những  
vấn đề trong học tập sẽ được cung cấp sự can thiệp sớm có tính hệ thống và chuyên sâu.  
Bên cạnh đó, trường học cần xây dựng hệ thống dịch vụ phòng ngừa, can thiệp có nhiều  
tầng, và toàn diện để cung cấp hỗ trợ sớm, có tính cấu trúc, phù hợp về độ tuổi cho các  
học sinh từ bình thường cho đến học sinh có nguy cơ và học sinh có vấn đề về SKTT.  
Hình 3.Mô hình can thiệp RTI (Đáp ứng can thiệp) [1, tr.156]  
Hình 4. Mô hình 3 tầng RTI (Đáp ứng can thiệp) [1, tr.156]  
Nhìn vào sơ đồ RTI (Đáp ứng can thiệp) như trên, chúng ta thấy:  
Tầng 1: Các chương trình khuyến khích SKTT với mục tiêu phòng ngừa ban đầu;  
khoảng 80% học sinh có thể tham gia; không cần nhận những can thiệp bổ sung chuyên  
sâu.  
151  
Chăm sóc sức khỏe tâm thần dựa vào trường học: kinh nghiệm của thế giới và bài học cho Việt Nam  
Tầng 2: Các chương trình dành cho học sinh được nhận diện là có nguy cơ phát  
triển các vấn đề SKTT hoặc học tập; khoảng 15% học sinh nhận được can thiệp và theo  
dõi thường xuyên nhằm củng cố hành vi tích cực và tăng cường kỹ năng ứng phó.  
Tầng 3: Chương trình hướng đến nhóm nhỏ học sinh (5% học sinh toàn trường)  
có dấu hiệu trầm cảm hoặc các vấn đề SKTT khác được nhận diện qua sàng lọc, giáo viên  
nhận thấy hoặc học sinh tự tìm đến. Mục tiêu của tầng 3 là nhằm giải quyết các vấn đề  
đang tồn tại của học sinh, phòng ngừa các vấn đề nghiêm trọng hơn hoặc các hậu quả,  
suy giảm chức năng do các vấn đề SKTT có thể gây ra. Thông qua việc phân tầng các  
vấn đề tâm lý xã hội và các mô hình đánh giá mức độ can thiệp các vấn đề SKTT, có thể  
thấy rằng, các chương trình chăm sóc SKTT tại Hoa Kỳ được phân loại dựa trên ba mục  
tiêu là phòng ngừa tổng quát, phòng ngừa chọn lọc và phòng ngừa chỉ định.  
Như vậy, từ việc triển khai hiệu quả các chương trình chăm sóc sức khỏe tâm  
thần dựa vào trường học tại Hoa Kỳ, các trường học ở Việt Nam hiện nay cũng nên cân  
nhắc và lựa chọn và xây dựng các chương trình phù hợp để có thể giảm thiểu các yếu tố  
rủi ro, nguy cơ tiềm ẩn do các vấn đề SKTT gây ra. Đồng thời, triển khai tốt các chương  
trình phòng ngừa theo từng cấp độ và xây dựng đội ngũ cán bộ đảm nhiệm hiệu quả  
công tác này, hướng tới việc xây dựng môi trường học đường an toàn, công bằng và lành  
mạnh cho học sinh.  
3.2 Kết quả nghiên cứu thực tiễn về nhu cầu chăm sóc sức khỏe tâm thần tại Việt Nam  
Trong những năm qua, nhiều công trình nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe tâm  
thần được triển khai thực hiện tại Việt Nam và đã cho thấy những con số thống kê đáng  
báo động về tỷ lệ người dân mắc phải những vấn đề về SKTT, đặc biệt là ở nhóm tuổi vị  
thành niên. Nghiên cứu của Hồng Minh (2019) ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã chỉ ra rằng:  
Tỷ lệ học sinh bị trầm cảm là 13,2%; 13% học sinh có biểu hiện bị rối loạn lo âu và nguyên  
nhân chính được cho là do gia đình của các em không hạnh phúc và vì áp lực học tập,  
thi cử [2]. Nghiên cứu của Trần Thành Nam và cộng sự (2016) cho thấy rằng, tỷ lệ học  
sinh lớp 9 bị rối loạn lo âu vì các vấn đề học đường nói chung và lo âu về việc không  
thỏa mãn mong đợi của người khác là 33,6%. Bên cạnh đó, nghiên cứu của Nguyễn  
Thanh Tâm và cộng sự đã cho thấy, có khoảng 18-68% học sinh THPT có biểu hiện của  
lo âu [4, tr.26]. Ngoài ra, có nhiều vấn đề khác đã và đang xảy ra đối với học sinh như  
tình trạng áp lực, quá tải trong học tập, bạo lực học đường, sự khủng hoảng định hướng  
giá trị sống, các biểu hiện hành vi lệch chuẩn, nghiện game, ma túy, mang thai tuổi học  
đường, các mối quan hệ tình cảm phức tạp, bạo lực và trầm cảm, hoàn cảnh gia đình khó  
khăn…  
Thực trạng này đã cho thấy rằng, chăm sóc SKTT cho học sinh là việc làm vô  
cùng cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. Trong nhiều năm qua, ngành giáo dục đã không  
ngừng nỗ lực để đưa ra các giải pháp phù hợp để giải quyết các vấn đề nhức nhối trong  
môi trường học đường như vấn đề trợ giúp các học sinh có hoàn cảnh khó khăn, học  
152  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 18, Số 3 (2021)  
sinh yếu thế và học sinh khuyết tật; vấn đề bạo lực học đường; vấn đề bảo vệ và chăm  
sóc trẻ em; vấn đề phòng chống các tệ nạn, phòng ngừa sử dụng chất kích thích, gây  
nghiện... Trong đó, việc phát triển lĩnh vực Công tác xã hội trong trường học được xem  
là một trong những bước tiến quan trọng nhằm góp phần giải quyết các nhu cầu bức  
thiết trong công tác tư vấn, hỗ trợ học sinh nói riêng và giải quyết các vấn đề xã hội trong  
học đường nói chung; đồng thời, góp phần đảm bảo môi trường giáo dục an toàn, lành  
mạnh, thân thiện và đảm bảo sự công bằng trong tiếp cận giáo dục.  
Năm 2018, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phê duyệt và ban hành Thông  
tư hướng dẫn công tác xã hội trong trường học (Thông tư số 33/2018/TT-BGDĐT có hiệu  
lực từ ngày 10 tháng 02 năm 2019). Với việc ban hành thông tư này, sự hình thành và  
phát triển hệ thống dịch vụ công tác xã hội trong nhà trường đã bước đầu triển khai hiệu  
quả một số hoạt động và từng bước nâng cao nhận thức của người dân về tầm quan  
trọng của việc hỗ trợ trẻ em tại trường học thông qua hệ thống văn bản pháp lý chính  
thức. Tuy nhiên, trên thực tế, việc triển khai các hoạt động hỗ trợ học sinh theo thông tư  
này vẫn còn gặp phải nhiều bất cập tại một số địa phương. Cụ thể, trên địa bàn tỉnh  
Thừa Thiên Huế, công tác hỗ trợ học sinh vẫn được triển khai theo hình thức giáo viên  
chủ nhiệm và/hoặc giáo viên tổng phụ trách thực hiện hoạt động này. Trong khi đó, họ  
không được đào tạo bài bản và chưa được tham gia các khóa tập huấn về công tác xã  
hội, nên khó khăn trong việc thực hiện hoạt động rà soát, phát hiện nguy cơ; phòng  
ngừa; can thiệp và trợ giúp cho học sinh một cách chuyên nghiệp. Bên cạnh đó, nhiệm  
vụ và vai trò chính của giáo viên vẫn là hoạt động giảng dạy trên lớp, nên các hoạt động  
này chỉ mang tính chất kiêm nhiệm và thiếu các hoạt động hỗ trợ chuyên sâu. Trong quá  
trình khảo sát thực địa tại trường THCS Nguyễn Văn Linh, đại diện Ban Giám hiệu nhà  
trường đã chia sẻ như sau:  
“Ở trong trường học, hiện không có bố trí vị trí dành cho nhân viên Công tác xã hội,  
không có chức danh này trong trường học của chúng tôi. Nhiệm vụ của nhà trường là phải tự cử  
và thành lập Ban tư vấn, chứ không có giáo viên nào phụ trách riêng về mảng tư vấn/tham vấn,  
thậm chí bộ phận giám thị còn không có. Hầu hết các em khi có vấn đề, thầy/cô là người trực tiếp  
làm việc, trao đổi. Tuy nhiên, sức người có hạn và kỹ năng hỗ trợ của thầy cô thì không phong  
phú, nên chỉ vừa đủ để thực hiện.Do đó, khi phát hiện một số học sinh có vấn đề về tâm lý hoặc  
liên quan đến trục trặc trong gia đình, ban hoạt động ngoài giờ lên lớp (thầy tổng phụ trách phối  
hợp với hiệu trưởng) sẽ trực tiếp giải quyết bằng cách nói chuyện. Hiện tại, nhà trường vẫn chưa  
triển khai hoạt động nào liên quan đến đánh giá, sàng lọc các vấn đề sức khỏe tâm thần ở học  
sinh.”  
(Phỏng vấn sâu, Nữ, 47 tuổi, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế)  
Có thể nói, công tác đánh giá và sàng lọc các vấn đề sức khỏe tâm thần ở lứa tuổi  
vị thành niên là vô cùng cần thiết để xác định nhóm học sinh có nguy cơ và có vấn đề  
cần được phát hiện và can thiệp kịp thời. Tuy nhiên, hoạt động này vẫn chưa được thực  
153  
Chăm sóc sức khỏe tâm thần dựa vào trường học: kinh nghiệm của thế giới và bài học cho Việt Nam  
hiện phổ biến ở các trường học hiện nay. Trong đợt khảo sát thực tế, nhóm nghiên cứu  
đã đánh giá mức độ lo âu, trầm cảm và stress ở học sinh trong nhà trường với kết quả  
như sau:  
Bảng 1. Mức độ trầm cảm, lo âu, stress theo thang đánh giá DASS 21  
Trầm cảm  
Lo âu  
Stress  
Mức độ  
Số lượng Phần trăm Số lượng Phần trăm Số lượng Phần trăm  
Bình thường  
Nhẹ  
Vừa  
Nặng  
Rất nặng  
Tổng  
161  
26  
20  
5
4
216  
74.5%  
12%  
9.3%  
2.3%  
1.9%  
100%  
126  
27  
44  
9
10  
216  
58.3%  
12.5%  
20.4%  
4.2%  
4.6%  
100%  
173  
14  
22  
7
0
216  
80.1%  
6.5%  
10.2%  
3.2%  
0
100%  
Nguồn: Kết quả khảo sát tại trường THCS Nguyễn Văn Linh, thành phố Huế, tháng 09/2020  
Theo kết quả nghiên cứu được thể hiện trong Bảng 1, tỷ lệ học sinh mắc phải các  
triệu chứng liên quan đến trầm cảm ở mức độ nhẹ, vừa, nặng và rất nặng dao động trong  
khoảng từ 1.9% đến 12%. Trong khi đó, mức độ stress của học sinh ở mức độ nhẹ, vừa  
và nặng chiếm tỷ lệ phần trăm lần lượt là 3.2%, 10.2% và 6.5%. Đáng chú ý, tỷ lệ học sinh  
có những dấu hiệu về lo âu ở mức độ vừa là chiếm đến 20.4%. Từ những con số thống  
kê này đã phần nào phản ánh được thực trạng thật sự đáng lo ngại và cần sự quan tâm  
đúng mức của trường học trong bối cảnh hiện nay. Đặc biệt, đối với tỷ lệ học sinh đang  
có dấu hiệu trầm cảm và lo âu ở mức rất nặng, những học sinh này rất cần được phát  
hiện và hỗ trợ kịp thời để ngăn ngừa những nguy cơ, rủi ro có thể xảy ra trong tương  
lai.  
Trong quá trình khảo sát thực tế, để tìm hiểu rõ hơn về những vấn đề của học  
sinh trong quá trình học tập và sinh hoạt hằng ngày, nhóm nghiên cứu đã khảo sát một  
số biểu hiện tâm lý thường gặp ở học sinh. Theo kết quả nghiên cứu ở bảng 2, các biểu  
hiện tâm lý thường gặp nhất ở học sinh là cảm thấy buồn, bực bội và khó chịu khi xảy  
ra mâu thuẫn (chiếm đến 66.2%). Bên cạnh đó, có 55,1% học sinh cảm thấy áp lực học  
tập vì không đạt được sự mong đợi của ba mẹ, thầy cô. Đồng thời, tỷ lệ học sinh thường  
cảm thấy buồn phiền, chán nản và thất vọng về kết quả học tập cũng chiếm đến 55,6%.  
Điều này cho thấy rằng, các biểu hiện tâm lý này sẽ có nguy cơ rất lớn dẫn đến trạng  
thái căng thẳng tâm lý-xã hội ở học sinh hiện nay.  
Bảng 2. Những biểu hiện tâm lý của học sinh trong quá trình học tập và sinh hoạt hằng ngày  
Một số biểu hiện  
Số lượng  
93  
Phần trăm  
43.1%  
Cảm thấy lo lắng khi bản thân có sự thay đổi về thể chất  
Cảm thấy buồn, bực bội, khó chịu khi xảy ra mâu thuẫn  
Cảm thấy áp lực học tập vì không đạt được sự mong đợi của ba  
mẹ, thầy cô  
143  
66.2%  
119  
23  
55.1%  
10.6%  
Cảm thấy cuộc sống không có gì thú vị và có suy nghĩ tự tử  
154  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 18, Số 3 (2021)  
Cảm thấy buồn phiền, chán nản và thất vọng về kết quả học tập  
Cảm thấy không hứng thú với việc học  
Cảm thấy mơ hồ và không có định hướng rõ ràng cho tương lai  
Ý kiến khác  
120  
41  
77  
5
55.6%  
19.0%  
35.6%  
2.3%  
Nguồn: Kết quả khảo sát tại trường THCS Nguyễn Văn Linh, thành phố Huế, tháng 09/2020  
Từ kết quả nghiên cứu ở bảng 2 cho thấy: Bên cạnh trạng thái tâm lý lo lắng, áp  
lực về việc học, sự thay đổi về thể chất cũng là vấn đề khiến các em học sinh quan tâm  
và cảm thấy lo lắng (43,1%). Chúng tôi cho rằng, sự quan tâm và lo lắng này là hoàn toàn  
phù hợp với quá trình phát triển về mặt sinh học và tâm lý ở trẻ vị thành niên. Do đó,  
nếu thiếu các kỹ năng xã hội và thiếu sự định hình các quan điểm, giá trị sống đúng đắn,  
trẻ vị thành niên sẽ rất dễ rơi vào trạng thái khủng hoảng tâm lý. Vì vậy, trong giai đoạn  
này, gia đình, trường học và môi trường xã hội đóng vai trò hết sức quan trọng trong  
việc quyết định đến hành vi và nhận thức của trẻ. Tuy nhiên, kết quả khảo sát (bảng 3)  
lại cho thấy rằng, hầu hết các em đều có xu hướng không chia sẻ với gia đình (chiếm  
63%) và không tâm sự với giáo viên trong hoặc ngoài trường (chiếm đến 94%). Thay vào  
đó, học sinh muốn được chia sẻ với bạn bè hơn (51.4%) hoặc xem phim, đọc sách (46.3%).  
Bên cạnh đó, một số em có khuynh tự giải quyết vấn đề của bản thân (31%). Ngoài ra,  
một số học sinh đưa ra ý kiến khác như: “Em chỉ im lặng và khóc”; “Ngồi trong bóng  
tối”; “Ở một mình”... Từ thực trạng này, có thể thấy rằng, học sinh có nhiều cách thức  
đa dạng để xử lý vấn đề của bản thân. Tuy nhiên, thực tế cho thấy là nhiều học sinh vẫn  
còn rất e dè để chia sẻ với gia đình và hạn chế trong việc tìm kiếm sự hỗ trợ học đường.  
Bảng 3. Một số cách thức giải quyết khó khăn và xử lý những bất ổn tâm lý ở học sinh  
Cách thức xử lý khó khăn, bất ổn về tâm lý  
Chia sẻ với gia đình  
Xem phim, đọc sách  
Tâm sự với giáo viên trong hoặc ngoài trường  
Tâm sự, nói chuyện hoặc đi chơi với bạn bè  
Tâm sự với người lạ qua mạng xã hội (Facebook, Zalo...)  
Không tâm sự với ai và tự giải quyết  
Hút thuốc, uống bia, rượu  
Số lượng  
Phần trăm  
37.0%  
46.3%  
6.0%  
80  
100  
13  
111  
31  
67  
6
51.4%  
14.4%  
31.0%  
2.8%  
Ý kiến khác  
16  
7.4%  
Nguồn: Kết quả khảo sát tại trường THCS Nguyễn Văn Linh, thành phố Huế, tháng 09/2020  
Theo ông Friday Nwaigwe, Trưởng chương trình “Vì sự sống còn và phát triển  
của trẻ em”, UNICEF Việt Nam cho rằng: "Mọi trẻ em đều có quyền cơ bản là được sống và  
phát triển tối đa, cũng như quyền đạt được tiêu chuẩn sức khoẻ tối ưu nhất. Các vấn đề về sức  
khỏe tâm thần xảy ra khi còn nhỏ sẽ làm tốn nhiều chi phí ở tuổi trưởng thành. Nếu không được  
điều trị, những điều này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển, thành tựu học tập và  
tiềm năng của các em, làm cho các em không có được cuộc sống đầy đủ và hữu ích.” Bên cạnh  
đó, khi khảo sát về nhu cầu được hỗ trợ để giải quyết các vấn đề khó khăn trong học tập  
155  
Chăm sóc sức khỏe tâm thần dựa vào trường học: kinh nghiệm của thế giới và bài học cho Việt Nam  
và đời sống cá nhân tại trường học, có đến 91.2% học sinh cho rằng bản thân mong muốn  
nhận được sự hỗ trợ này. Như vậy, để đảm bảo việc thực hiện đầy đủ các quyền của trẻ  
em, cũng như đáp ứng nhu cầu và giải quyết kịp thời các vấn đề của học sinh, việc xây  
dựng và phát triển các chương trình chăm sóc SKTT trong trường học là rất cần thiết.  
Điều này sẽ góp phần rất lớn trong công tác ngăn ngừa, phát hiện và điều trị kịp thời  
đối với các dấu hiệu liên quan đến rối loạn tâm thần thường gặp ở trẻ như stress, trầm  
cảm, lo âu; rối loạn liên quan đến phụ thuộc rượu bia, ma túy… Đồng thời, tạo ra môi  
trường phát triển tối đa và toàn diện cho học sinh trong giai đoạn hiện nay.  
4. BÀN LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ  
Hiện nay, phương hướng phát triển chủ đạo của công tác chăm sóc SKTT đều  
xuất phát từ quan điểm tích cực, tập trung vào các yếu tố hỗ trợ sức khỏe và hạnh phúc  
của con người. Sức khỏe tâm thần là quyền cơ bản của con người và là nền tảng, yêu cầu  
cơ bản của một cuộc sống hạnh phúc và đầy đủ cho mọi người dân. Do đó, phát triển  
sức khỏe tâm thần lành mạnh là nền tảng để mỗi trẻ em có thể phát huy được tiềm năng  
của mình, tạo dựng nhân cách tốt và tạo sự cân bằng về cảm xúc tình cảm trong đời sống  
hằng ngày. Một nền giáo dục tốt là nền giáo dục tạo dựng cho trẻ em có một SKTT lành  
mạnh. Các cơ sở giáo dục cần được khuyến khích tăng cường các hoạt động liên quan  
đến SKTT, bởi vì trường học là môi trường an toàn, mang tính tương hỗ xã hội, giúp trẻ  
em phát triển bản sắc, cái tôi, tự chủ và hiểu được ý nghĩa của cuộc sống. Sức khỏe tâm  
thần có mối liên hệ chặt chẽ với thành tích học tập, hành vi và cảm xúc tích cực. Vì vậy,  
phát triển chương trình chăm sóc sức khỏe dựa vào trường học sẽ góp phần đảm bảo sự  
phát triển toàn diện của trẻ, xây dựng môi trường học đường an toàn cho học sinh và  
giảm thiểu những gánh nặng xã hội và kinh tế mà vấn đề SKTT có thể mang lại trong  
tương lai. Từ các mô hình trên thế giới và thực tiễn ở Việt Nam, chúng tôi bước đầu đề  
xuất một số định hướng để phát triển các hoạt động này theo từng cấp độ và có thể thực  
hiện tại các trường học ở Việt Nam như sau:  
Đối tượng  
tham gia  
Một số hoạt động /  
Mục tiêu  
chương trình  
Cấp độ 1: Phòng ngừa tổng quát (Nhóm an toàn)  
Tất cả học sinh, - Cung cấp kiến thức và kỹ năng - Thực hiện đánh giá sàng  
giáo viên và cán cho học sinh và giáo viên về một số lọc đối với học sinh để xác  
bộ trong nhà vấn đề liên quan đến sức khỏe tâm định nhóm học sinh có  
trường  
thần.  
nguy cơ mắc phải Trầm  
cảm, Lo âu hoặc Stress.  
- Sàng lọc, đánh giá và chẩn đoán  
các vấn đề về nhận thức, học tập, - Các chương trình phòng  
cảm xúc, hành vi và xã hội thông ngừa tổng quát với các chủ  
156  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 18, Số 3 (2021)  
qua một số công cụ như DASS 21, đề về SKTT, định hướng  
GAD 7, BECK…  
nghề nghiệp, phát triển  
bản thân.  
- Kết nối với các cá nhân, trung tâm,  
tổ chức xã hội thực hiện các chương - Chương trình giáo dục kỹ  
trình ngoại khóa. năng – nhận thức – xã hội  
Cấp độ 2: Phòng ngừa lựa chọn và chỉ định (Nhóm nguy cơ)  
Một số học sinh - Hỗ trợ ban đầu với học sinh thông - Tổ chức các buổi tập huấn  
đã được sàng lọc qua can thiệp nhóm/cá nhân  
về kỹ năng ứng phó và  
quản lý cảm xúc  
và xác định có  
nguy cơ mắc phải  
- Nâng cao kỹ năng ứng phó và điều  
hòa cảm xúc cho học sinh  
- Tổ chức các buổi can thiệp  
nhóm đồng đẳng (các em  
học sinh có cùng 1 vấn đề  
về tâm lý-xã hội)  
các vấn đề hướng  
- Tạo mạng lưới kết nối với gia  
nội (trầm cảm, lo  
đình, trung tâm/cơ sở xã hội, cơ sở  
âu, stress, tự tử…)  
y tế và chính quyền địa phương  
Cấp độ 3: Can thiệp/trị liệu chuyên sâu (Nhóm có vấn đề)  
Cá nhân học sinh - Đánh giá vấn đề và lập kế hoạch - Can thiệp/trị liệu cá nhân  
được chẩn đoán can thiệp  
- Điều phối, kết nối và  
mắc phải một số  
triệu chứng rối  
loạn tâm thần  
- Kết nối và cung cấp thông tin, dịch chuyển gửi  
vụ hỗ trợ cho gia đình.  
- Chuyển gửi đến các cơ sở y tế,  
nặng  
phòng khám chuyên khoa để nhận  
được sự hỗ trợ từ các chuyên gia  
trong lĩnh vực SKTT (bác sỹ tâm  
thần, nhà tâm lý lâm sàng)  
Tại các quốc gia trên thế giới, chăm sóc sức khỏe tâm thần cho học sinh là một  
trong những mảng hoạt động quan trọng của công tác xã hội trong trường học và cần  
một đội ngũ chuyên nghiệp để thực hiện nhiệm vụ này. Mỗi trường ở Mỹ, Australia,  
Singapore hay Hồng Kông (Trung Quốc) thường có ít nhất một nhân viên CTXH  
(NASW, 2012; NCSS, 2007; SWD, 2008). Trong khi đó, tại Việt Nam, Công tác xã hội  
trong trường học vẫn còn là một lĩnh vực hoạt động khá mới mẻ tại Việt Nam và chỉ mới  
phát triển trong vòng 2 năm theo Thông tư 33/2018/TT-BGDĐT. Do đó, để có thể thực  
thi thông tư này một cách hiệu quả và có tính hệ thống, chúng ta có thể xem xét và lồng  
ghép chương trình chăm sóc sức khỏe tâm thần phù hợp, có hiệu quả trong chiến lược  
phát triển công tác xã hội trong trường học trong thời gian tới. Ngành giáo dục cần phải  
nghiên cứu và định hướng các hoạt động trọng tâm một cách đúng đắn để có thể chỉ  
đạo, hướng dẫn các cơ sở giáo dục triển khai đúng hướng, hiệu quả các chính sách, quy  
định đã được ban hành. Qua đó, các trường học có thể thực hiện đúng với các nội dung,  
157  
Chăm sóc sức khỏe tâm thần dựa vào trường học: kinh nghiệm của thế giới và bài học cho Việt Nam  
yêu cầu của thông tư hướng dẫn phát triển công tác xã hội trong trường học và xây dựng  
đội ngũ cán bộ chuyên trách thực hiện đúng và đầy đủ các vai trò, nhiệm vụ được quy  
định cụ thể.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. Đặng Hoàng Minh (2019). Chương trình chăm sóc sức khỏe tâm thần dựa vào trường học: Lý luận  
và thực tiễn. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.  
[2]. Hồng Minh (2019). “Hiệu Quả Từ Mô Hình Công Tác Xã Hội Trong Trường Học ở Hà Nội.”  
Website: laodongxahoi.net/hieu-qua-tu-mo-hinh-cong-tac-xa-hoi-trong-truong-hoc-o-ha-  
noi-1314066.html.  
[3]. Ngô Thành Phong (2014). Sức khỏe tâm lý, tâm thần của học sinh trung học cơ sở tại tỉnh Bà  
Rịa - Vũng Tàu: thực trạng và giải pháp, Kỷ yếu các đề tài nghiên cứu, ứng dụng KH&CN tập  
IX, giai đoạn 2013-2015.  
[4]. Nguyễn Thanh Tâm, Vũ Minh Phượng, Đoàn Thị Diên, Trần Văn Công (2016). Thực trạng  
lo âu và các hình thức ứng phó của học sinh trung học phổ thông, Tạp chí Khoa học, 21, tr.24-  
30.  
[5]. Phạm Văn Quyết, N. Q. (2004). Phương pháp nghiên cứu xã hội học. NXB Đại học Quốc gia Hà  
Nội, Hà Nội.  
[6]. Trần Thành Nam, Hoàng Thị Thu Hường (2016). Lo âu học đường và chiến lược ứng phó  
với lo âu ở học sinh lớp 9, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế tâm lý học học đường lần thứ 5, tr.440-  
454.  
[7]. Trần Thị Kim Huệ (2016). Trạng thái lo âu của học sinh lớp 12. Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc  
tế tâm lý học học đường lần thứ 5, tr.591-598.  
[8]. Trần Văn Công, N. T. (2019). Thực trạng khó khăn tâm lý của học sinh và nhu cầu sử dụng  
ứng dụng tư vấn tâm lý trong trường học. Tạp chí khoa học và công nghệ Việt Nam , 1-5  
[9]. UNICEF Việt Nam và Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (2018). Báo cáo tóm tắt: Sức khỏe  
tâm thần và tâm lý xã hội của trẻ em và thanh niên tại một số tỉnh và thành phố ở Việt Nam. Website:  
158  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 18, Số 3 (2021)  
SCHOOL-BASED MENTAL HEALTH CARE:  
INTERNATIONAL EXPERIENCE AND LESSONS FOR VIET NAM  
Nguyen Thi Hoai Phuong  
Faculty of Sociology and Social work, University of Sciences, Hue University  
ABSTRACT  
These days, students are getting to face to mental health problems because of relying  
too much on technology, reducing social interaction, suffering from stress of  
studying, being difficult to cope with individual issues and being impacted by  
negative factors in the surroundings. Meanwhile, the school is regarded as an ideal  
place to provide mental health program for students. Therefore, the author will  
analyze international and domestic literatures, and we will focus on clarifying the  
importance of school-based mental health care programes. From that, we suggest  
some strategies in order to develop these programs in Viet Nam in the future.  
Keywords: children and adolescents, mental health, school.  
Nguyễn Thị Hoài Phương sinh ngày 24/04/1992 tại thành phố Huế. Năm  
2014, cô tốt nghiệp chuyên ngành Xã hội học tại Trường Đại học Khoa  
học, Đại học Huế. Cô hiện đang công tác tại Trường Đại học Khoa học,  
Đại học Huế.  
Lĩnh vực nghiên cứu: Sức khỏe tâm thần.  
159  
pdf 14 trang Thùy Anh 19580 Free
Bạn đang xem tài liệu "Chăm sóc sức khỏe tâm thần dựa vào trường học: Kinh nghiệm của thế giới và bài học cho Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcham_soc_suc_khoe_tam_than_dua_vao_truong_hoc_kinh_nghiem_cu.pdf