Thực trạng năng lực tư vấn tâm lí của giáo viên chủ nhiệm ở trường Trung học Cơ sở

NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
Thực trạng năng lực tư vấn tâm lí của giáo viên chủ nhiệm  
ở trường trung học cơ sở  
Hoàng Gia Trang  
Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội  
144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam  
Email: hoanggiatra[email protected]  
Bài viết trình bày vai trò của giáo viên chủ nhiệm đối với việc tư vấn tâm lí cho  
học sinh cấp Trung học cơ sở. Kết quả nghiên cứu cho thấy, giáo viên chủ nhiệm hiểu  
biết về năng lực tư vấn tâm lí. Đồng thời, họ có thái độ tích cực, sẵn sàng tư vấn, hỗ trợ  
học sinh có khó khăn tâm lí. Trong bài, tác giả cho rằng cần bồi dưỡng, rèn luyện cho  
giáo viên chủ nhiệm các kĩ năng tư vấn tâm lí nhiều hơn để đáp ứng được yêu cầu đổi  
mới giáo dục hiện nay. Qua đó, các nhà trường có thể nâng cao chất lượng giáo dục  
toàn diện học sinh.  
Năng lực; tư vấn tâm lí; giáo viên chủ nhiệm; Trung học cơ sở.  
Nhận bài 23/01/2018 Nhận kết quả phản biện và chỉnh sửa 17/3/2018 Duyệt đăng 25/3/2018.  
1. Đặt vấn đề  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Năng lực tư vấn tâm lí của giáo viên chủ nhiệm  
2.1.1. Năng lực tư vấn tâm lí  
Giáo viên (GV) phổ thông nói chung và GV chủ nhiệm  
(GVCN) nói riêng ở trường trung học cơ sở (THCS) ngoài  
nhiệm vụ chuyên môn còn phải đảm nhận vai trò tư vấn, hỗ  
Khái niệm năng lực có nhiều cách hiểu khác nhau tùy  
trợ tâm lí cho học sinh (HS) nhằm thực hiện giáo dục toàn thuộc vào cách tiếp cận của từng tác giả. Trong bài viết này,  
diện. Vai trò tư vấn của GVCN được thể hiện qua một số văn khái niệm Năng lực tư vấn tâm lí được hiểu là sự vận dụng  
bản như sau:  
có hiệu quả tri thức, kĩ năng (KN) kết hợp với thái độ tích  
- Thông tư Liên tịch số 22/2015/TTLT-BGDĐT-BNV cực của người tư vấn thông qua quá trình tương tác để hỗ trợ  
của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) và Bộ Nội vụ ngày người có khó khăn tâm lí giải quyết những vấn đề gặp phải.  
16/09/2015 về “Quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh  
Năng lực của mỗi cá nhân được hình thành và thể hiện trong  
nghề nghiệp GV trung học cơ sở (THCS) công lập” tại các hoạt động cụ thể được đánh giá thông qua kết quả đạt được  
Điều 6, mục 1, khoản e nêu rõ nhiệm vụ của GV “Tham của cá nhân trong hoạt động đó. Một người được coi là có năng  
gia tư vấn tâm lí, hướng nghiệp cho HS và cha mẹ HS lực cần có các biểu hiện sau đây: 1/ Có tri thức, hiểu biết về  
THCS”.  
lĩnh vực hoạt động đó; 2/ Có thái độ tích cực, sẵn sàng thay  
- Thông tư số 16/2017/TT-BGDĐT của Bộ GD&ĐT về đổi, biết khắc phục khó khăn trở ngại; 3/ Biết cách thực hiện  
Hướng dẫn danh mục khung vị trí việc làm và định mức số hoạt động đó và đạt kết quả phù hợp với mục đích đề ra.  
lượng người làm việc trong các cơ sở giáo dục phổ thông  
Như vậy, năng lực gồm 3 thành phần: Sự hiểu biết (Kiến  
công lập, tại Điều 9, khoản b nêu rõ: Đối với trường THCS, thức); Thái độ (tích cực, chủ động); KN thực hiện. Trong đó,  
có thể sử dụng từ 04-08 tiết/tuần để thực hiện nhiệm vụ tư KN là mặt hành động có vai trò quan trọng để đạt kết quả tốt.  
vấn HS tùy thuộc quy mô và loại hình trường học.  
Dưới đây là kết quả nghiên cứu thực trạng năng lực tư vấn  
- Thông tư số 31/2017/TT-BGDĐT về Hướng dẫn thực tâm lí của GVCN được phân tích theo 3 thành phần nêu trên.  
hiện công tác tư vấn tâm lí cho HS trong trường phổ thông, Khảo sát được tiến hành đối với 392 HS lớp 8 và lớp 9; 72  
tại Điều 8, khoản 1 nêu rõ: Nhà trường có tổ tư vấn, hỗ trợ GVCN và cán bộ quản lí giáo dục ở 4 trường THCS trên địa  
HS và bố trí cán bộ GV kiêm nhiệm để thực hiện công tác tư bàn tỉnh Hà Nam và Hà Nội.  
vấn tâm lí cho HS.  
Như vậy, vai trò tư vấn tâm lí cho HS của GV đã được quy  
định rõ qua các văn bản của ngành GD&ĐT. Để đáp ứng  
được yêu cầu đó, GV cần được bồi dưỡng nâng cao năng  
2.1.2. Sự hiểu biết của giáo viên chủ nhiệm về năng lực tư  
vấn tâm lí  
Sự hiểu biết là thành tố quan trọng để hình thành nên năng  
lực tư vấn tâm lí. Thông tư số 31/2017/TT-BGDĐT chỉ ra lực cho mỗi người. Khi có nhận thức đúng thì chúng ta mới  
rằng: Cán bộ, GV kiêm nhiệm công tác tư vấn cho HS phải là có thái độ đúng và hành vi phù hợp để từ đó hình thành nên  
người có kinh nghiệm và được đào tạo, bồi dưỡng về chuyên năng lực đáp ứng yêu cầu công việc, nhiệm vụ cụ thể. Thực tế  
môn, nghiệp vụ tư vấn tâm lí. Trong bài viết này, chúng tôi cho thấy, cá nhân khi mắc sai lầm phần nhiều là do nhận thức  
sẽ trình bày kết quả nghiên cứu về thực trạng năng lực tư vấn không đúng đắn hoặc sai lệch về một vấn đề. Với cách hiểu  
tâm lí của GV chủ nhiệm ở trường THCS qua nghiên cứu tại như vậy, chúng tôi đã tìm hiểu nhận thức của GV về năng lực  
tỉnh Hà Nam và Hà Nội.  
tư vấn tâm lí và thu được kết quả như sau (xem Bảng 1).  
16 TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
Hoàng Gia Trang  
Bảng 1: Sự hiểu biết của GVCN về khái niệm năng lực tư vấn Bảng 2: Thái độ của GVCN về tư vấn, hỗ trợ tâm lí cho HS  
tâm lí  
Nội dung  
Tỉ lệ %  
Nội dung  
Tỉ lệ %  
44.8  
1.5  
1. Là sự vận dụng có kết quả tri thức, KN kết hợp với thái  
độ tích cực, trách nhiệm của người tư vấn thông qua quá  
trình tương tác để hỗ trợ người có khó khăn tâm lí giải  
quyết các vấn đề gặp phải.  
84.7  
1. Vui vẻ, nhiệt tình tư vấn, hỗ trợ HS  
2. Từ chối vì đó là chuyện giữa HS với nhau  
3. E ngại vì không quen tư vấn cho HS  
4. Cố gắng để tư vấn, hỗ trợ HS  
4.5  
41.8  
3.0  
2. Là sự tiếp xúc giữa chuyên gia và người gặp khó khăn  
tâm lí; chuyên gia đưa ra lời khuyên để giúp người có khó  
khăn giải quyết vấn đề.  
8.3  
5. Tích cực phối hợp với mọi người để có thể tư vấn cho  
HS  
3. Là người có khó khăn tâm lí đến nhờ các chuyên gia  
để giải quyết vấn đề của mình.  
-
6. Ý kiến khác  
4.4  
4. Là việc sử dụng kinh nghiệm đã có của người này để  
giúp cho người khác giải quyết những khó khăn tâm lí  
gặp phải.  
6.9  
Chỉ có một tỉ lệ rất nhỏ (6%) cho rằng sẽ e ngại hoặc từ  
chối tư vấn, hỗ trợ HS vì không quen với việc này hoặc  
cho đó là chuyện riêng của HS. Qua đó, cần tiếp tục tuyên  
Qua ý kiến của GVCN cho thấy, đa số ý kiến đều cho rằng truyền, nâng cao nhận thức, thái độ của GV nói chung,  
năng lực tư vấn tâm lí là sự vận dụng có kết quả tri thức, GVCN nói riêng trong việc hỗ trợ tâm lí cho HS. Đó là  
KN kết hợp với thái độ tích cực, trách nhiệm của người tư trách nhiệm của GVCN được thể hiện qua các văn bản nêu  
vấn thông qua quá trình tương tác để hỗ trợ người có khó trên. Khi GVCN hiểu biết đúng đắn và có thái độ tích cực  
khăn tâm lí giải quyết các vấn đề gặp phải. Như vậy, phần thì họ sẽ sẵn sàng, chủ động, khắc phục mọi khó khăn để  
đông GVCN đều hiểu về năng lực gồm 3 thành phần cơ bản có thể tư vấn, giúp đỡ HS đạt hiệu quả tốt hơn.  
là tri thức, KN và thái độ (chiếm 84.7%). Bên cạnh đó, còn  
khoảng 15% GVCN hiểu chưa đầy đủ về năng lực tư vấn tâm  
lí. Chính việc hiểu chưa đầy đủ có thể dẫn đến những cách  
2.1.4. Kĩ năng tư vấn tâm lí của giáo viên chủ nhiệm  
Chúng tôi tiến hành tìm hiểu KN tư vấn tâm lí của GVCN  
thức hỗ trợ cho HS chưa phù hợp khi các em gặp khó khăn tâm qua đánh giá của HS và của chính GVCN (xem Bảng 3),  
lí cần giải quyết. Thực tế cho thấy, một số GVCN thường đưa kết quả như sau: Điểm trung bình HS đánh giá các nhóm  
ra lời khuyên, hướng dẫn, hoặc chỉ bảo HS của mình cách giải KN của GVCN ở mức xung quanh 3 điểm (4 điểm: tốt; 3  
quyết vấn đề mà không phải là trao đổi để các em hiểu rõ vấn đề điểm: khá; 2 điểm: trung bình; 1 điểm: dưới trung bình).  
của mình và tự tìm cách giải quyết. Điều này có thể làm HS trở Nghĩa là, HS đánh giá KN tư vấn, hỗ trợ tâm lí của GVCN  
nên phụ thuộc, không có năng lực tự giải quyết các vấn đề nảy ở xung quanh mức khá. Trong khi đó, qua tự đánh giá,  
sinh khác sau này.  
GVCN tỏ ra tương đối tự tin về các KN của mình. Điều  
này thể hiện ở điểm trung bình đều trên 3 điểm, nghĩa là  
đạt điểm Khá và tiệm cận mức Tốt cho cả 6 nhóm KN đã  
nêu. Sự khác biệt trong đánh giá thực trạng KN này của  
2.1.3. Thái độ của giáo viên chủ nhiệm về tư vấn, hỗ trợ tâm  
lí cho học sinh  
Bên cạnh tìm hiểu hiểu biết của GVCN về khái niệm năng HS và GVCN có thể giải thích rằng, HS còn kì vọng nhiều  
lực tư vấn tâm lí, nghiên cứu cũng đã tìm hiểu thái độ của họ hơn vào KN tư vấn, hỗ trợ tâm lí của GVCN đối với các  
đối với việc tư vấn, hỗ trợ cho HS (xem Bảng 2). Chúng tôi vấn đề mà các em gặp phải.  
đưa ra tình huống và đề nghị GVCN cho biết ứng xử của bản  
thân trong tình huống đó như thế nào. Tình huống như sau:  
Các KN được HS đánh giá ở mức Khá trở lên là KN giao  
tiếp, KN hỗ trợ tìm kiếm giải pháp và KN lượng giá trong  
Bạn My học lớp 8B gặp thầy/cô để được tư vấn. My tâm tư vấn.  
sự: Các bạn trong lớp bảo em là đứa kiêu ngạo, tỏ vẻ ta đây  
KN giao tiếp, trong nhóm KN này, qua đánh giá của HS thì  
học giỏi nên không chơi với em, em rất buồn và không muốn GVCN đã thể hiện được sự quan tâm, gần gũi HS; biết lắng  
học ở đây nữa.  
nghe HS; tạo được sự tin tưởng cho HS và khuyến khích,  
Qua số liệu ở Bảng 2 cho thấy, đa số GVCN trả lời sẽ “Vui động viên HS bày tỏ ý kiến. Điểm số đạt được cho các KN  
vẻ, nhiệt tình tư vấn, hỗ trợ HS” và “Cố gắng để tư vấn hỗ này đều trên 3 điểm. Tuy nhiên, đối với KN kiềm chế cảm  
trợ HS”. Như vậy, các GVCN đều thể hiện thái độ sẵn sàng, xúc (không nổi nóng, quát mắng…), HS đánh giá với mức  
tích cực và nỗ lực để giúp HS giải quyết khó khăn tâm lí. 2.87 điểm và chính GVCN cũng tự đánh giá với mức điểm  
Qua đó cho thấy vai trò quan trọng của GVCN trong việc hỗ thấp nhất so với các KN khác. Do KN kiềm chế cảm xúc hạn  
trợ HS giải quyết các vấn đề nảy sinh trong nhà trường để từ chế nên trong thời gian qua, một số GV đã có hành vi không  
đó nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện nhằm phát triển đúng chuẩn mực của nhà giáo làm ảnh hưởng đến mối quan  
nhân cách HS.  
hệ thầy - trò như bắt phạt, hành hung, xúc phạm HS. Vì vậy,  
Số 03, tháng 03/2018  
17  
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
Bảng 3: Đánh giá thực trạng KN tư vấn tâm lí của GVCN  
Nhóm KN hợp tác gồm 5 KN thành phần sau: Tạo được sự  
ủng hộ của Ban Giám hiệu trong việc giải quyết khó khăn của  
HS; Phối hợp với GV bộ môn, cán bộ Đoàn, Đội giải quyết  
khó khăn của HS; Thu hút cha mẹ tham gia hỗ trợ giải quyết  
khó khăn của HS. Khích lệ các HS khác tham gia hỗ trợ giải  
quyết khó khăn của bạn; Thiết lập và duy trì quan hệ với các  
chuyên gia tư vấn.  
Trong các KN thành phần nêu trên, KN thiết lập và duy  
trì quan hệ với các chuyên gia tư vấn có điểm số thấp nhất  
(HS: 2.55; GV: 2.47). Chính vì hạn chế này nên công tác tư  
vấn tâm lí cho HS của GVCN chưa đạt hiệu quả cao vì họ  
thiếu sự hỗ trợ của các nhà chuyên môn. Bởi lẽ, tư vấn tâm  
lí không phải là đưa ra lời khuyên cho HS mà là giúp HS  
CÁC KN  
HS  
GV  
A. KN giao tiếp  
3.13  
2.98  
2.94  
2.92  
3.02  
3.02  
3.54  
3.37  
3.49  
3.36  
3.53  
3.44  
B. KN xử lí thông tin  
C. KN thấu hiểu HS  
D. KN hợp tác  
E. KN hỗ trợ tìm kiếm giải pháp  
F. KN lượng giá trong tư vấn  
trong giao tiếp, GV cần được rèn luyện KN kiềm chế cảm hiểu rõ vấn đề của mình, hiểu được khả năng giải quyết của  
xúc để có thể xây dựng mối quan hệ hài hòa và tư vấn HS giải bản thân, hoặc tìm kiếm sự hỗ trợ cần thiết. GVCN cần giúp  
quyết các khó khăn tâm lí.  
HS tự đưa ra quyết định trên cơ sở cân nhắc những thuận lợi  
KN hỗ trợ tìm kiếm giải pháp và KN lượng giá trong tư hoặc khó khăn của từng biện pháp cụ thể. Từ đó, nâng cao  
vấn, đều có điểm trung bình là 3.02. Trong hai nhóm KN này, được năng lực của HS để các em có KN giải quyết các vấn  
đa số các KN thành phần đều đạt trên 3.0 điểm. Tuy nhiên, đề tương tự sau này.  
GVCN cần chú ý rèn luyện thêm KN làm cho HS tin tưởng  
vào các giải pháp đã chọn và KN tạo động lực cho HS sẵn  
sàng thực hiện giải pháp; KN khuyến khích cha mẹ HS chỉ ra  
2.2. Bàn luận  
HS lứa tuổi THCS là giai đoạn đang có những biến đổi lớn  
sự thay đổi sau khi được tư vấn, hỗ trợ tâm lí. Để giúp GVCN về tâm sinh lí, phát triển các mối quan hệ xã hội và hoạt động  
thực hành tốt các KN vừa nêu, điều cần thiết là phải tổ chức học tập cũng nhiều hơn. Thêm vào đó, lứa tuổi này mong  
các lớp bồi dưỡng để họ nắm được cách thức tiến hành các muốn được độc lập, được khẳng định mình rất lớn, được đối  
KN đó khi tư vấn tâm lí cho HS.  
xử bình đẳng và tôn trọng hơn từ phía GV, cha mẹ và những  
Qua khảo sát cho thấy, hầu hết các GVCN cho biết đã người xung quanh. Chính vì thế, nếu các nhu cầu này của các  
từng tham gia giải quyết các khó khăn tâm lí của HS (chiếm em không được đáp ứng thì dễ nảy sinh những mâu thuẫn,  
94.4%). Tuy nhiên, có đến 60% số GVCN trả lời chưa từng vướng mắc và xung đột do HS thiếu kiến thức, KN và sự trải  
được tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng hoặc đào tạo ngắn nghiệm để giải quyết các vấn đề theo hướng tích cực. Vì vậy,  
hạn nào về KN tư vấn tâm lí học đường. Như vậy, có thể thấy GVCN ở trường THCS càng giữ vai trò quan trọng đối với  
rằng, một mặt GV tham gia tích cực vào việc giải quyết vấn sự phát triển toàn diện nhân cách của HS. Điều này được thể  
đề của HS, mặt khác, họ thiếu đi “công cụ” tư vấn để đạt kết hiện khi có 43.3% HS tham gia khảo sát này cho biết đã từng  
quả tốt cho hoạt động đó. Điều bất cập này cần được quan nhờ đến sự tư vấn, hỗ trợ của GVCN và khoảng 90% trong số  
tâm giải quyết trong thời gian tới. Mới đây, Sở GD&ĐT Hà này hài lòng về sự trợ giúp của thầy, cô giáo của mình.  
Nội đã ra văn bản đề nghị tất cả các trường tiểu học, THCS  
Khi được hỏi ý kiến của HS về khả năng tư vấn, hỗ trợ của  
và trung học phổ thông (THPT) thành lập phòng hoặc bộ GVCN đối với các khó khăn tâm lí của các em cho thấy, có  
phận tư vấn tâm lí cho HS. Như vậy, việc bồi dưỡng, tập huấn 49.7% HS đồng ý rằng GVCN có thể giúp đỡ các em. Số HS  
cho GV về KN tư vấn tâm lí học đường là rất cấp thiết. Nếu cho rằng GVCN không đủ khả năng chiếm tỉ lệ dưới 10%.  
không được tập huấn KN tư vấn, GV nói chung và GVCN Đối với chính GVCN và cán bộ quản lí giáo dục cũng tin  
nói riêng sẽ gặp khó khăn khi tiến hành nhiệm vụ “kiêm tưởng vào khả năng tư vấn của GVCN, có 72.2% GV và cán  
nhiệm” này. Khi được hỏi về nguyện vọng được tham gia các bộ quản lí giáo dục được hỏi đồng ý với ý kiến này. Chỉ có  
lớp bồi dưỡng về KN tư vấn tâm lí, có đến hơn 90% GVCN một tỉ lệ rất nhỏ 1.4% ý kiến còn tỏ ra băn khoăn, không đồng  
tham gia khảo sát này mong muốn được tập huấn.  
ý rằng GVCN có thể tư vấn cho HS. Số còn lại thể hiện ý kiến  
Theo đánh giá của HS, các KN mà GVCN đạt dưới 3 điểm đồng ý một phần với nhận định nêu trên.  
gồm: KN xử lí thông tin, KN thấu hiểu HS, KN hợp tác.  
Qua số liệu khảo sát nêu trên, cho thấy GVCN có thể làm  
Trong đó, KN hợp tác đạt điểm thấp nhất qua đánh giá của tốt hơn nữa công tác tư vấn, hỗ trợ tâm lí cho HS nếu họ được  
HS và của chính GVCN (tương ứng là 2.92 và 3.36). Đây tham gia tập huấn về tư vấn tâm lí học đường. Kết quả nghiên  
là nhóm KN quan trọng bởi vì GVCN không thể giải quyết cứu chỉ ra rằng, GVCN đã hiểu được về tư vấn tâm lí và đa  
được tất cả những vấn đề nảy sinh của HS mà cần có sự phối số có thái độ tích cực cố gắng để trợ giúp tâm lí cho HS. Tuy  
hợp với cán bộ quản lí nhà trường, với GV bộ môn, cán bộ nhiên, do GV của một môn học cụ thể và nhiều GV chưa được  
Đoàn, Đội, cha mẹ HS, HS và cả các chuyên gia tư vấn để có đào tạo về KN tư vấn nên họ thường làm theo kinh nghiệm của  
thể trợ giúp HS tốt nhất.  
mình. Chính vì thế, đánh giá của HS đối với các KN của GV  
18 TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
Hoàng Gia Trang  
thường ở mức độ Khá. Một số KN cụ thể chưa được HS đánh được năng lực tư vấn tâm lí cho HS ở mức độ Khá. Song  
giá cao như đã phân tích ở trên.  
để GVCN có thể đảm nhận nhiệm vụ này tốt hơn thì họ cần  
được bồi dưỡng, rèn luyện các KN tư vấn tâm lí nhiều hơn để  
đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Qua đó, các  
3. Kết luận  
Nhìn chung, GVCN tham gia nghiên cứu này đã thể hiện nhà trường có thể nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện HS.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Bộ Giáo dục và Đào tạo, ông tư số 31/2017/TT-BGDĐT về  
Hướng dẫn thực hiện công tác tư vấn tâm lí cho học sinh trong trường  
phổ thông.  
[3] ông tư số 31/2017/TT-BGDĐT về Hướng dẫn thực hiện công tác  
tư vấn tâm lí cho học sinh trong trường phổ thông.  
[2] ông tư Liên tịch số 22/2015/TTLT-BGDĐT-BNV ngày  
16/09/2015 về Quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp  
giáo viên trung học cơ sở công lập.  
THE REAL STATUS OF HOMEROOM TEACHERS’ PSYCHOLOGICAL  
COUNSELING AT LOWER SECONDARY SCHOOLS  
Hoang Gia Trang  
University of Education - VNU, Hanoi  
144 Xuan Thuy, Cau Giay, Hanoi, Vietnam  
Email: hoanggiatra[email protected]  
The paper presents the role of the homeroom teacher in psychological  
counseling for lower secondary students. The research findings showed that the  
homeroom teacher understood the competency of psychological counseling. They also  
had positive attitudes, were willing to counsel, and supported students with psychological  
difficulties. In the article, the author clearly analyzed the need to train these teachers  
more psychological counseling skills to meet the requirements of education reform  
today. Then, the quality of students’ comprehensive education could be much improved.  
Competency; psychological counseling; homeroom teacher; lower secondary  
schools.  
Số 03, tháng 03/2018  
19  
pdf 4 trang Thùy Anh 13080 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng năng lực tư vấn tâm lí của giáo viên chủ nhiệm ở trường Trung học Cơ sở", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_nang_luc_tu_van_tam_li_cua_giao_vien_chu_nhiem_o.pdf