Thị trường đất đai đối với doanh nghiệp khu vực tư nhân ở Việt Nam

Thị trường đất đai đối với doanh nghiệp  
khu vực tư nhân ở Việt Nam  
Nguyễn Đình Hòa(*)  
Trần Thị Việt Hà(**)  
Tóm tắt: Đất đai là một trong những đầu vào sản xuất. Việc tiếp cận đất đai có ý nghĩa  
quan trọng đối với các thành phần kinh tế, nhất là doanh nghiệp khu vực tư nhân. Bài viết  
đề cập đến quá trình cải cách, vận hành thị trường đất đai và thực trạng tiếp cận đất đai  
của doanh nghiệp khu vực tư nhân.  
Từ khóa: Thị trường đất đai, Doanh nghiệp, Doanh nghiệp khu vực tư nhân, Việt Nam  
Abstract: Land is among production inputs. Land access, therefore, is important to  
economic sectors, especially private enterprises. The paper focuses on the process of  
reforming and operating land market and reality of land access by private enterprises.  
Keywords: Land Market, Enterprises, Private Enterprises, Vietnam  
1
1. Mở đầu  
nghĩa vụ bình đẳng giữa các đối tượng sử  
dụng đất. Những cải cách này tạo ra môi  
trường cạnh tranh bình đẳng hơn và điều  
kiện tiếp cận quyền sử dụng đất đối với  
doanh nghiệp khu vực tư nhân.  
2. Khái quát khung pháp lý về thị trường  
đất đai cho sự phát triển của doanh nghiệp  
khu vực tư nhân  
Hình thành và phát triển thị trường đất  
đai vận hành theo cơ chế thị trường được  
xem là một công cụ quan trọng và giúp  
phân bổ, sử dụng hiệu quả nguồn lực này.  
Ở Việt Nam, nhìn chung, khung khổ pháp  
lý về đất đai ngày càng được cải thiện trên  
các phương diện về quyền sử dụng đất, đối  
tượng sử dụng đất, quyền được giao và sử  
dụng đất ngày càng bình đẳng và cạnh tranh  
giữa các thành phần kinh tế, và quá trình  
giao đất, thuê đất ngày càng minh bạch  
hơn. Những cải cách này góp phần thúc đẩy  
Đất đai là một trong những đầu vào sản  
xuất. Hình thành và phát triển thị trường đất  
đai vận hành theo cơ chế thị trường là một  
trong những nội dung quan trọng của phát  
triển nền kinh tế thị trường định hướng xã  
hội chủ nghĩa. Với việc chuyển đổi từ nền  
kinh tế kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị  
trường, đất đai chính thức được thừa nhận  
là hàng hóa. Cùng với đó, Nhà nước tiến  
hành cải cách các chính sách về đất đai theo  
hướng từng bước xóa bỏ bao cấp về đất đai  
cho các thành phần kinh tế và chuyển sang  
đấu giá quyền sử dụng đất. Pháp luật về đất  
đai cũng có những điều chỉnh về quyền và  
(*) TS., Viện Kinh tế Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa  
học xã hội Việt Nam;  
(**) Viện Kinh tế Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học  
xã hội Việt Nam.  
Thị trường đất đai…  
33  
phát triển thị trường đất đai và hoàn thiện cạnh tranh hơn, qua đó góp phần nâng cao  
thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội hiệu quả sử dụng đất.  
chủ nghĩa.  
Luật Đất đai (năm 2003 và năm 2013)  
Số lượng các quyền đối với sử dụng cho phép người sử dụng đất được lựa chọn  
đất không ngừng được bổ sung góp phần giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê  
chuyển quyền sử dụng đất thành một loại đất. Doanh nghiệp sử dụng đất có quyền  
tài sản, điều này thúc đẩy quá trình tái lựa chọn hình thức trả tiền thuê đất một  
phân phối lại đất đai với tư cách là nguồn lần hoặc nhiều lần. Việc đưa ra các lựa  
lực sản xuất đến những nơi có năng suất chọn này nhằm tạo điều kiện thuận lợi để  
cao hơn, theo cơ chế thị trường. Trên cơ khuyến khích các chủ thể tham gia vào  
sở Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai thị trường đất đai. Luật Đất đai năm 2013  
năm 2003 kế thừa và bổ sung hình thành 9 tiếp tục xu hướng thu hẹp các trường hợp  
quyền cơ bản đối với quyền sử dụng đất. được Nhà nước giao đất không thu tiền  
Trong giai đoạn 2003-2013, Luật Đất đai sử dụng đất, giao đất có thu tiền sử dụng  
năm 2013 tiếp tục hoàn thiện các quyền đất, chuyển cơ bản sang áp dụng hình thức  
của quyền sử dụng đất. Mặc dù vậy, quyền thuê đất; thực hiện cơ chế đấu giá quyền  
thế chấp bằng quyền sử dụng đất mới chỉ sử dụng đất khi giao đất có thu tiền sử  
được pháp luật thừa nhận với các tổ chức dụng đất, cho thuê đất.  
tín dụng có tư cách pháp nhân của Việt  
Nam, chưa được thực hiện tại các tổ chức sử dụng đất được bình đẳng giữa các đối  
tín dụng nước ngoài. tượng sử dụng đất là doanh nghiệp trong  
Việc thực hiện nghĩa vụ đối với quyền  
Luật Đất đai đã có những bổ sung đối nước và nước ngoài. Luật Đất đai năm  
tượng sử dụng đất, góp phần tăng mức độ 2013 cho phép các doanh nghiệp trong  
bao phủ các nhóm dân cư và các tổ chức nước và nước ngoài đều có quyền lựa chọn  
kinh tế - xã hội trong nước cũng như quốc thuê đất trả tiền hằng năm hoặc trả tiền một  
tế. Luật Đất đai năm 2003 bổ sung đối lần. Luật cũng cho phép Việt kiều và doanh  
tượng là người Việt Nam định cư ở nước nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thể  
ngoài; tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư được kinh doanh bất động sản, từ đó tạo  
vào Việt Nam theo pháp luật về đầu tư. Luật ra một môi trường kinh doanh cạnh tranh,  
Đất đai năm 2013 bổ sung nhóm đối tượng đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng đất.  
sử dụng đất bao gồm các doanh nghiệp có  
Điểm tiến bộ trong Luật Đất đai năm  
vốn đầu tư nước ngoài, trong đó có doanh 2013 là thể chế hóa nguyên tắc cấp giấy  
nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, doanh chứng nhận quyền sử dụng đất (Điều 98),  
nghiệp liên doanh, doanh nghiệp Việt Nam các tài sản gắn liền với đất đai, bảo vệ  
mà nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, quyền lợi của những người có quyền sử  
sáp nhập, mua lại theo quy định của pháp dụng đất khi giao dịch. Luật Đất đai năm  
luật về đầu tư. Việc bổ sung đối tượng sử 2013 không quy định thời gian giải quyết  
dụng đất có ý nghĩa trong việc tăng thêm đối với từng thủ tục hành chính về đất đai,  
chủ thể tham gia vào thị trường đất đai, nhưng bổ sung quy định về công khai thủ  
đặc biệt là thị trường bất động sản. Việc tục hành chính về đất đai. Điều này giúp  
cho phép giao đất cho người nước ngoài người dân và doanh nghiệp nắm được quy  
sẽ giúp tạo ra một môi trường kinh doanh trình và thời gian, trách nhiệm của các cơ  
Thông tin Khoa học xã hội, số 7.2020  
34  
quan trong việc giải quyết từng loại thủ tục 66,6% năm 2003 và 79,7% năm 2013, đến  
hành chính. năm 2018 đạt 82,3%. Quy mô diện tích đất  
Mức độ can thiệp của Nhà nước vào thị chuyển sang cho các hoạt động phi nông  
trường đất đai cũng đã có sự cải thiện theo nghiệp cũng tăng lên nhanh chóng. Tính  
hướng vận hành theo nguyên tắc thị trường. đến năm 2013, tỷ trọng diện tích đất phi  
Luật Đất đai năm 2003 và năm 2013 từng nông nghiệp tăng lên 11,41%, tương đương  
bước áp dụng cơ chế định giá dựa trên khoảng 3,78 triệu ha (tăng thêm 1,65 triệu  
nguyên tắc sát với giá thị trường. Khung giá ha so với năm 2003) và năm 2018 là 3,75  
đất và phương pháp xác định giá đất được triệu ha (chiếm 11,3%) (Tổng cục Thống  
Chính phủ ban hành hằng năm. Cơ chế hình kê, 2019).  
thành khung giá đất đã có sự tham chiếu  
- Thị trường đất sản xuất nông nghiệp:  
với giá tự do và phạm vi áp dụng khung Theo số liệu từ Diễn đàn Nông nghiệp mùa  
giá đất cũng đã có sự thu hẹp, góp phần mở thu 2019 do Liên minh Nông nghiệp Việt  
rộng tầm ảnh hưởng của cơ chế thị trường Nam phối hợp với Viện Nghiên cứu kinh tế  
đối với các loại hình giao dịch.  
và chính sách (VEPR) tổ chức, diện tích đất  
Bên cạnh cải cách Luật Đất đai, các luật sản xuất nông nghiệp bình quân đầu người  
có liên quan như Luật Nhà ở, Luật Kinh ở Việt Nam là 0,25 ha. Trong thời gian qua,  
doanh bất động sản, Luật Doanh nghiệp, thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp  
Luật Đầu tư,... và các văn bản dưới luật là đã phát triển nhanh với tỷ lệ diện tích đất  
hành lang pháp lý cũng được bổ sung, sửa nông nghiệp được thuê, mua ngày càng  
đổi tạo điều kiện cho sự phát triển của thị tăng. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều rào cản  
trường đất đai, điều tiết thị trường bất động chính sách trong tích tụ đất nông nghiệp,  
sản, bao gồm cả việc tạo lập, giao dịch, như: i) hạn mức nhận chuyển nhượng sử  
xác lập quyền sở hữu, quản lý khai thác, sử dụng đất nông nghiệp vẫn còn hạn chế,  
dụng sản phẩm bất động sản và quản lý các không quá 10 lần hạn mức được giao; ii)  
chủ thể tham gia thị trường.  
3. Thị trường các loại đất phục vụ cho sản đất có thu tiền sử dụng đất nông nghiệp mà  
xuất kinh doanh của doanh nghiệp chỉ được thuê đất để đầu tư sản xuất nông  
doanh nghiệp trong nước không được giao  
- Thay đổi cơ cấu sử dụng đất: Luật nghiệp; iii) doanh nghiệp nước ngoài không  
Đất đai năm 2003, sửa đổi năm 2013 đã được phép nhận chuyển nhượng quyền sử  
đem đến sự phát triển nhanh chóng cho dụng đất. Đặc biệt, quyền tài sản đối với đất  
thị trường đất đai, thể hiện thông qua quy nông nghiệp chưa được đảm bảo như các  
hoạch và chuyển đổi mục đích sử dụng đất loại đất khác (do chưa có sở hữu). Trong  
đai. Công nghiệp hóa và đô thị hóa dẫn khi đó, chưa có quy định rõ vai trò của Nhà  
tới nhu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng nước trong việc hỗ trợ doanh nghiệp thuê  
đất tăng nhanh. Nếu như vào năm 1993 lại hoặc nhận góp vốn bằng quyền sử dụng  
Việt Nam có tới 32% diện tích đất chưa đất nông nghiệp quy mô lớn (Theo: Đỗ  
sử dụng (tương đương 10.498.300 ha), thì Hương, 2019). Diện tích đất nông nghiệp  
con số này đã giảm xuống còn 26,9% vào được đưa vào các giao dịch mua bán và  
năm 2003 và 8,9% vào năm 2013 và đến cho thuê vẫn còn thấp so với diện tích đất  
năm 2018 là 6,4%. Cơ cấu diện tích đất nông nghiệp được sử dụng. Nguyên nhân  
nông nghiệp tăng, từ 62,3% năm 1993 lên là do việc cấp giấy chứng nhận quyền sử  
Thị trường đất đai…  
35  
dụng đất đạt tỷ lệ chưa cao, nhất là đất lâm trường, trong đó diện tích nhà ở riêng lẻ  
nghiệp và đất nuôi trồng thủy sản. Đặc vào khoảng 63.164.300 m2 và diện tích nhà  
biệt, việc gộp chung tất cả các mảnh đất ở chung cư vào khoảng 2.862.900 m2 (Tổng  
vào một giấy chứng nhận quyền sử dụng cục Thống kê, 2019).  
đất khiến các hộ gia đình muốn bán hoặc 4. Tiếp cận đất đai của doanh nghiệp khu  
chuyển nhượng bất kỳ một mảnh nào trong vực tư nhân  
số những mảnh đất được giao sẽ gặp khó  
Đất đai là nguồn lực quan trọng, có thể  
khăn, bởi nếu thực hiện giao dịch sẽ phải sử dụng làm tài sản thế chấp để vay vốn  
hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngân hàng. Do đó nếu không có khả năng  
đã cấp và xin cấp lại, gây tốn kém chi phí, tiếp cận đất đai với chi phí và thủ tục hợp lý,  
thủ tục tốn thời gian.  
quyền sử dụng không được bảo đảm sẽ là  
- Thị trường cho thuê đất tại các bất lợi lớn đối với doanh nghiệp, đặc biệt là  
khu công nghiệp: Thực hiện chính sách đối với các doanh nghiệp khu vực tư nhân.  
khuyến khích và thu hút đầu tư, thị trường Dù đã có nhiều cải thiện nhưng các doanh  
bất động sản phục vụ sản xuất công nghiệp nghiệp khu vực tư nhân vẫn gặp nhiều khó  
đã bắt đầu hình thành với sự ra đời của khăn trong quá trình tiếp cận đất đai.  
các công ty đầu tư kinh tế hạ tầng các  
- Tiếp cận thông tin và quy hoạch sử  
khu công nghiệp. Kể từ khi thành lập dụng đất  
khu công nghiệp đầu tiên năm 1991 (khu  
Về vấn đề tiếp cận quy hoạch đất đai,  
công nghiệp Tân Thuận), đến năm 2019 không ít doanh nghiệp tư nhân khó khăn  
cả nước có 326 khu công nghiệp với tổng khi tìm các hạng mục quy hoạch về đất  
diện tích đất tự nhiên 95,5 nghìn ha; trong đai. Báo cáo về Chỉ số hiệu quả quản trị  
đó, diện tích đất công nghiệp có thể cho và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam  
thuê đạt 65,6 nghìn ha. Bên cạnh các khu (PAPI)1 cho thấy, trong năm 2018, chưa  
công nghiệp, Việt Nam còn có hệ thống tới 25% số người trả lời được biết về quy  
các cụm công nghiệp được thành lập bởi hoạch/kế hoạch sử dụng đất khu vực mình  
các ủy ban nhân dân cấp tỉnh để phục vụ sống. Chưa đến 30% cho biết họ có cơ hội  
các doanh nghiệp trong nước với quy mô tham gia góp ý kiến cho kế hoạch sử dụng  
vừa và nhỏ. Tính đến năm 2018, đã có đất (CECODES, VFF-CRT, RTA & UNDP,  
650 cụm công nghiệp với tổng diện tích là 2019). Theo Jones Lang LaSalle (JLL,  
28.000 ha. Mặc dù diện tích đất khu công 2018), năm 2018 Việt Nam hiện xếp thứ  
nghiệp tăng lên nhưng diện tích có thể cho 61/109 quốc gia về tính minh bạch trên thị  
thuê và diện tích đã cho thuê còn thấp. Cho trường bất động sản.  
đến năm 2019, tỷ lệ lấp đầy các khu công  
Khó khăn đầu tiên mà các doanh nghiệp  
nghiệp đạt khoảng 74% (Vụ Quản lý Khu phải vượt qua là việc tiếp cận thông tin về  
kinh tế - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2019).  
- Thị trường bất động sản: Giai đoạn  
2000-2019 chứng kiến sự bùng nổ của thị  
trường bất động sản, nhất là đất đô thị. Diện  
tích đất xây dựng đô thị của cả nước tăng  
nhanh. Bình quân hằng năm có khoảng  
66.027.100 m2 đất ở được cung ứng cho thị  
quỹ đất, quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử  
1 Chỉ số PAPI đo lường và so sánh trải nghiệm và  
cảm nhận của người dân về hiệu quả và chất lượng  
thực thi chính sách và cung cấp dịch vụ công của  
chính quyền địa phương ở 63 tỉnh, thành phố tại  
Việt Nam.  
Thông tin Khoa học xã hội, số 7.2020  
36  
dụng đất và các dự án của các địa phương.  
Việc không có quy hoạch sử dụng đất càng  
làm tăng thêm thủ tục hành chính (vì phải  
xin chủ trương về quy hoạch) và tăng thêm  
khả năng rủi ro của cơ chế “xin - cho”.  
- Thực trạng tiếp cận đất đai của doanh  
nghiệp khu vực tư nhân  
Theo kết quả điều tra của Báo cáo Chỉ  
số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm  
2018 đối với 10.681 doanh nghiệp hoạt  
động tại 63 tỉnh/thành năm 2018, doanh  
nghiệp đang gặp nhiều khó khăn trong việc  
tiếp cận đất đai, mở rộng mặt bằng kinh  
doanh. Có tới 16% tổng số doanh nghiệp  
khảo sát trả lời có khó khăn về tìm kiếm  
đất đai, mặt bằng kinh doanh phù hợp. Đặc  
biệt, các doanh nghiệp khu vực tư nhân có  
quy mô nhỏ, nhất là những doanh nghiệp  
vừa và nhỏ, các doanh nghiệp non trẻ gặp  
khó khăn trong tiếp cận đất đai với tỷ lệ cao  
hơn (Hình 1 và Hình 2).  
Hình 2: Tỷ lệ doanh nghiệp gặp  
khó khăn theo số năm hoạt động  
của doanh nghiệp (%)  
Các doanh nghiệp cho biết, sau khi  
nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, họ  
gặp rất nhiều phiền hà trong các thủ tục về  
giải phóng mặt bằng, bồi thường cho người  
dân hay các thủ tục quy định khác của tỉnh  
(44% số doanh nghiệp trả lời). Khoảng 1/3  
số doanh nghiệp đánh giá quy hoạch đất  
đai của tỉnh chưa đáp ứng được nhu cầu  
phát triển của doanh nghiệp; 1/4 số doanh  
nghiệp nhận định việc cung cấp thông tin  
dữ liệu về đất đai không thuận lợi. Thiếu  
qũy đất sạch, giải phóng mặt bằng chậm,  
giá đất theo quy định của Nhà nước cao…  
(Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt  
Nam, 2019).  
Nguồn: Phòng Thương mại và Công nghiệp  
Việt Nam (2019).  
doanh nghiệp nhà nước. Thực tế vẫn tồn tại  
trường hợp các tập đoàn và tổng công ty  
nhà nước được cơ quan có thẩm quyền phê  
duyệt ưu tiên trong tiếp cận đất đai hay còn  
được tiếp cận đất đai với giá rẻ hơn so với  
giá thị trường. Bên cạnh các doanh nghiệp  
nhà nước, các doanh nghiệp đầu tư trực  
tiếp nước ngoài (FDI) cũng dễ dàng tiếp  
cận đất đai hơn các doanh nghiệp tư nhân  
trong nước, nhất là ở các dự án lớn. Chính  
quyền địa phương thường dành ưu tiên cho  
việc thu hồi, cấp đất cho các dự án FDI,  
vì đối với chính quyền địa phương, thu hút  
FDI là ưu tiên hàng đầu do tiềm năng tăng  
trưởng của các dự án đó. Không chỉ vậy,  
doanh nghiệp FDI còn được miễn tiền thuê  
Nhìn chung, các doanh nghiệp nhà  
nước thường tiếp cận đất đai và mặt bằng  
sản xuất kinh doanh dễ dàng hơn, thuận  
lợi hơn so với khối tư nhân; và 70% mặt  
bằng kinh doanh hiện nay trong nền kinh tế  
đang thuộc quyền quản lý và sử dụng của  
Thị trường đất đai…  
37  
đất trong 3 đến 15 năm kể từ khi xây dựng bố quy hoạch đất đai nhưng không được  
xong nhà xưởng (tùy lĩnh vực, địa bàn). triển khai trong một thời gian dài cũng như  
Doanh nghiệp FDI còn được miễn hoặc nhiều quy hoạch đất đai không được công  
giảm tiền sử dụng đất từ 30% đến 70% (Bộ khai minh bạch đã làm ảnh hưởng tới tâm  
Kế hoạch và Đầu tư, 2017). Dựa vào kết lý ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh  
quả điều tra Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp của doanh nghiệp.  
tỉnh (PCI) năm 2018 có thể thấy, vẫn có tới 5. Kết luận và khuyến nghị chính sách  
32,4% doanh nghiệp cho biết các tỉnh còn  
Khu vực kinh tế tư nhân, doanh nghiệp  
ưu tiên, ưu ái doanh nghiệp nhà nước và khu vực tư nhân ngày càng được khẳng  
doanh nghiệp FDI hơn các doanh nghiệp tư định đóng vai trò quan trọng trong nền kinh  
nhân, con số này đã giảm so với 41,2% năm tế Việt Nam. Tuy nhiên trong quá trình hoạt  
2017 (Phòng Thương mại và Công nghiệp động, doanh nghiệp khu vực tư nhân vẫn  
Việt Nam, 2019).  
còn gặp nhiều khó khăn, nhất là trong việc  
- Thời gian, thủ tục và các chi phí đối tiếp cận đất đai. Nhằm giải quyết vấn đề  
với việc tiếp cận đất đai của doanh nghiệp này, trong thời gian tới cần tập trung vào  
khu vực tư nhân  
Thủ tục đất đai là một trong những  
những vấn đề cơ bản sau:  
Thứ nhất, tự do hóa hơn nữa về thị  
thủ tục hành chính phức tạp nhất trong trường đất đai (rút ngắn thời gian, đơn giản  
các loại thủ tục hành chính. Chính vì vậy hóa thủ tục và từng bước xóa bỏ cơ chế  
có đến hơn 30% doanh nghiệp cho biết có kiểm soát giá hoặc nới lỏng quyền định giá  
chi trả chi phí không chính thức để đẩy của doanh nghiệp) để các giao dịch đất đai  
nhanh thủ tục đất đai. Tuy nhiên “tham diễn ra thuận lợi, tạo điều kiện cho doanh  
nhũng lớn” có dấu hiệu giảm bớt so với nghiệp tiếp cận đất đai phục vụ sản xuất.  
năm 2017. Năm 2018 có 48,4% doanh Trên thực tế hiện nay, việc mua/bán, cho  
nghiệp đồng ý với nhận định “chi trả ‘hoa thuê đất, nhất là đất sản xuất nông nghiệp,  
hồng’ là cần thiết để có cơ hội thắng thầu” vẫn gặp không ít khó khăn. Nhà nước cần  
(Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt đẩy mạnh hơn nữa việc phân bổ đất đai  
Nam, 2019), trong khi năm 2017 tỷ lệ này dựa theo cơ chế thị trường (thông qua cạnh  
là 54,9% (Phòng Thương mại và Công tranh, đấu giá quyền sử dụng đất) để nguồn  
nghiệp Việt Nam, 2018).  
lực này đến được với những người sử dụng  
Theo khảo sát của Viện Nghiên cứu hiệu quả, bởi các doanh nghiệp nhà nước  
Quản lý Kinh tế Trung ương và Tổ chức Trợ và FDI vẫn được ưu đãi hơn trong tiếp cận  
giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ, một doanh đất đai.  
nghiệp Việt Nam phải mất trung bình 230  
Thứ hai, cần minh bạch về quy hoạch  
ngày và 7 thủ tục để có được giấy chứng đất đai để doanh nghiệp tiếp cận được các  
nhận quyền sử dụng đất (Dẫn theo: Trần thông tin về quy hoạch hoạch sử dụng đất.  
Ngọc Hùng, 2018). Đây là thời gian quá Trước hết, đối với những nơi đã có quy  
dài để doanh nghiệp có thể có được giấy hoạch sử dụng đất, Nhà nước cần ổn định  
chứng nhận quyền sử dụng đất, vì thế doanh quy hoạch sử dụng đất để doanh nghiệp  
nghiệp thường sử dụng đất để sản xuất kinh có thể định hướng địa điểm xin phép đất  
doanh trong khi không có giấy chứng nhận đầu tư, kinh doanh. Đẩy mạnh ứng dụng  
quyền sử dụng đất. Ngoài ra, việc công công nghệ thông tin theo hướng công bố  
Thông tin Khoa học xã hội, số 7.2020  
38  
các thông tin và quy hoạch sử dụng đất trên  
mạng Internet và các ứng dụng là giải pháp  
hữu hiệu để tăng cường tính minh bạch  
Hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam  
(PAPI) 2018: Đo lường từ kinh nghiệm  
thực tiễn của người dân, Hà Nội.  
này. Triển khai dịch vụ công trực tuyến 3. Đỗ Hương (2019), “Phát huy quyền sử  
(cấp độ 3 và cấp độ 4) trong việc giải quyết  
các hồ sơ, thủ tục và các giao dịch về đất  
đai nhằm giảm thời gian, thủ tục và chi phí  
cho doanh nghiệp. Việc gắn camera quan  
sát tại các khu vực giải quyết các thủ tục  
dụng đất nông nghiệp nâng cao kinh  
tế”, Báo điện tử Chính phủ, http://  
baochinhphu.vn/kinh-te/phat-huy-quyen-  
su-dung-dat-nong-nghiep-nang-cao-kinh-  
te/378208.vgp, truy cập ngày 20/6/2020.  
hành chính đất đai cũng giúp tăng cường 4. Jones Lang LaSalle (JLL) (2018),  
tính minh bạch và hạn chế các chi phí  
không chính thức.  
Thứ ba, thay đổi mô hình và cơ chế  
vận hành khu công nghiệp, cụm công  
Global Real Estate Transparency Index.  
5. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt  
Nam (2018), Chỉ số năng lực cạnh tranh  
cấp tỉnh PCI năm 2017, Hà Nội.  
nghiệp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. 6. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt  
Hầu hết các khu công nghiệp, cụm công  
nghiệp được các doanh nghiệp kinh doanh  
Nam (2019), Chỉ số năng lực cạnh tranh  
cấp tỉnh PCI năm 2018, Hà Nội.  
hạ tầng tiếp nhận đất và xây dựng hạ tầng, 7. Tổng cục Thống kê (2019), Niên giám  
sau đó cho các doanh nghiệp khác thuê lại.  
Cách làm này không phù hợp với các doanh  
Thống kê năm 2018, Nxb. Thống kê,  
Hà Nội.  
nghiệp vừa và nhỏ bởi các doanh nghiệp 8. Trần Ngọc Hùng (2018), Tham luận Hội  
kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp, cụm  
công nghiệp tính đất thương phẩm (thậm  
chí là địa tô chênh lệch) đối với doanh  
nghiệp sử dụng đất  
thảo về Pháp luật và thực tiễn về tiếp cận  
đất đai của doanh nghiệp tại Việt Nam,  
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt  
Nam tổ chức, ngày 30/06/2018, Hà Nội.  
9. Vụ Quản lý Khu Kinh tế - Bộ Kế hoạch  
và Đầu tư (2019), Báo cáo tình hình  
thành lập và phát triển khu công nghiệp,  
khu kinh tế 6 tháng đầu năm 2019, http://  
idTin=43533&idcm=54, truy cập ngày  
28/5/2020.  
Tài liệu tham khảo  
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2017), Đề án  
tổng thể chính sách cạnh tranh quốc  
gia, Hà Nội.  
2. CECODES, VFF-CRT, RTA & UNDP  
(2019), Chỉ số Hiệu quả Quản trị và  
pdf 7 trang Thùy Anh 23020 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thị trường đất đai đối với doanh nghiệp khu vực tư nhân ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthi_truong_dat_dai_doi_voi_doanh_nghiep_khu_vuc_tu_nhan_o_vi.pdf