Hạ tầng giao thông bền vững vùng Tây Nam Bộ

HẠ TẦNG GIAO THÔNG BỀN VỮNG VÙNG TÂY NAM BỘ  
TS. Nguyễn Đ nh Hòa  
ThS. Ma Ngọc Ngà  
Viện Kinh tế Việt Nam  
Hạ tầng giao thông đóng vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế, cải thiện phúc  
lợi và tiếp cận các dịch vụ xã hội của người dân. Vấn đề đặt ra là cách thức phát triển  
nhằm nâng cao vai trò và hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực của việc phát triển hạ tầng  
giao thông. Bài viết đề cập về cách tiếp cận hạ tầng giao thông bền vững và thực trạng,  
thách thức đối với phát triển bền vững vùng Tây Nam Bộ.  
I. Khung phân tích hạ tầng giao thông bền vững vùng Tây Nam Bộ  
1.1. Quan niệm về hạ tầng giao thông bền vững vùng Tây Nam Bộ  
Cho đến nay, hạ tầng giao thông thường được quan niệm tr n các phương diện: i) là  
các loại tài sản hữu hình và các loại hình hạ tầng giao thông; ii) do con người hay thiên  
nhiên tạo ra; iii) hạ tầng cứng và hạ tầng mềm (UN 2016, Agbigbe 2016, Đỗ Đức Tú  
2012, Đặng Trung Thành 2012). Nhìn chung, các thảo luận về hạ tầng giao thông  
(HTGT) tập trung vào khía cạnh kỹ thuật và huy động, sử dụng nguồn tài chính. Trong  
khi đ , một số nghiên cứu về HTGT bền vững chủ yếu xem xét về bền vững của các công  
trình HTGT. Từ khía cạnh kỹ thuật, Karlsson và cộng sự (2017) cho rằng HTGT bền  
vững là giảm phát thải khí nhà kính, sử dụng các loại vật liệu và năng lượng thân thiện  
với môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguy n và năng lượng. Theo Bryce (2008), đường  
cao tốc xanh là hệ thống các con đường giảm thiểu tác động tiêu cực tới môi trường, sử  
dụng các loại vật liệu tái tạo, bảo vệ hệ sinh thái, giảm ti u hao năng lượng và tối đa h a  
lợi ích toàn xã hội.  
Một số nghiên cứu xem xét HTGT bền vững với góc nhìn rộng hơn nhưng chưa phản  
ánh các đặc thù, nhất là đặc thù về điều kiện tự nhi n như vùng Tây Nam Bộ (TNB).  
Nghiên cứu về HTGT vùng TNB, Đặng Trung Thành (2012) quan niệm: hạ tầng bền  
vững về kinh tế là đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, thỏa mãu nhu cầu vận tải với chất  
lượng tốt, tạo thành mạng lưới liên hoàn, kết nối các phương thức vận tải, kết nối mạng  
lưới giao thông; bền vững về xã hội là đảm bảo công bằng xã hội, giảm nghèo, từng bước  
tạo sự cân bằng giữa các vùng, giải phòng mặt bằng hợp lý nhằm hạn chế thấp nhất ảnh  
hưởng đến cư dân; bền vững về môi trường là hạn chế tác động đến môi trường sống, bảo  
vệ môi trường sinh thái, giữ gìn môi trường cảnh quan, đa dạng sinh học.  
Xuất phát từ đặc điểm tự nhiên – xã hội của vùng TNB, chúng tôi quan niệm rằng  
HTGT bền vững vùng TNB (HTGT đối với phát triển bền vững của vùng TNB) là HTGT  
đồng bộ, c  cơ cấu hợp lý giữa các phương thức vận tải và phù hợp với điều kiện tự  
nhiện – kinh tế – xã hội vùng TNB, hiện đại, có khả năng đáp ứng nhu cầu đi lại của  
người dân một cách nhanh chóng, thuận tiện, an toàn với chi phí hợp lý và bảo vệ môi  
trường, thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng. HTGT bền vững vùng TNB: bền  
vững về kinh tế là thiết lập được một hệ thống HTGT hỗ trợ tốt cho việc phát triển kinh  
87  
tế; bền vững về môi trường là giảm thiểu tác động tiêu cực tới môi trường và thích ứng  
với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; bền vững về xã hội là hướng tới khả năng tiếp cận  
cho người dân với chi phí hợp lý và đảm bảo an toàn cho người, phương tiện tham gia  
giao thông.  
1.2. Các tiêu chí đánh giá hạ tầng giao thông bền vững vùng Tây Nam Bộ  
Các tiêu chí, chỉ ti u đánh giá HTGT bền vững vùng TNB dựa vào các căn cứ sau đây:  
i) Căn cứ vào các mục tiêu của Chương trình nghị sự tới năm 2030 của Liên hợp quốc  
(SDG 2030). Chương trình 2030 đề ra 17 mục tiêu phát triển bền vững với 169 chỉ tiêu  
thành phần. SDG 2030 không có mục tiêu trực tiếp cho lĩnh vực HTGT nhưng c  9 mục  
tiêu SDG liên quan chặt chẽ tới HTGT.  
ii) Căn cứ vào các mục tiêu phát triển của Việt Nam: chiến lược phát triển bền vững  
Việt Nam giai đoạn 2011–2020; chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh; chiến lược  
quốc gia về biến đổi khí hậu; chiến lược phát triển bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu  
Long; ...  
iii) Căn cứ vào chiến lược phát triển giao thông vận tải đến năm 2020, tầm nhìn đến  
năm 2030; quy hoạch phát triển giao thông vận tải vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng  
bằng sông Cửu Long đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030; kế hoach hành động  
của Bộ Giao thông vận tải về phát triển bền vững giai đoạn 2013 – 2020 (Quyết định số  
4088/QĐ-BGTVT ngày 12/12/2013).  
Việc xây dựng các tiêu chí, chỉ tiêu cần đảm bảo nguyên tắc SMART: i) cụ thể  
(specific); ii) đo lường được (measurable); iii) tính phù hợp (appropriate); iv) tính thực tế  
(realistic); v) thời gian cụ thể (timely).  
Xuất phát từ các căn cứ và nguyên tắc SMART, trong phạm vi bài viết này, các tiêu  
chí, chỉ tiêu áp dụng để đánh giá HTGT bền vững vùng TNB như sau:  
1.2.1. Các tiêu chí đánh giá về hạ tầng giao thông vùng Tây Nam Bộ  
a) Các chỉ tiêu thể hiện về quy mô và năng lực hạ tầng giao thông  
i) Chỉ tiêu về số lượng: chiều dài hoặc số lượng của từng loại hạ tầng giao thông và sự  
gia tăng về số lượng; khoảng cách và thời gian tiếp cận tới hạ tầng giao thông  
ii) Chỉ tiêu về mật độ: Mật độ đường theo diện tích đất (km/km2); Mật độ đường bộ  
theo dân số (km/1000 dân)  
iii) Chỉ tiêu về năng lực khai thác: Số lượng hành khách, khối lượng hàng h a được  
thông qua công trình giao thông  
b) Các chỉ ti u đánh giá chất lượng của hạ tầng giao thông  
i) Các chỉ tiêu đánh giá tính hiện đại: Phân theo tiêu chuẩn kỹ thuật của loại hạ tầng;  
số km đường cao tốc trong khu vực/số km đường chính yếu (Cao tốc+ cấp 1), số lượng  
CHK cấp 4E, 4F;...  
ii) Tính đồng bộ, kết nối của hạ tầng giao thông  
- Sự phù hợp về tiêu chuẩn kỹ thuật  
Đ  là sự phù hơp giữa các bộ phần cấu thành của hạ tầng giao thông, giữa công trình  
hạ tầng giao thông với đối tượng mà nó phục vụ (ví dụ, cầu có phù hợp cho xe tải đi qua  
hoặc c  đủ độ cao so với mặt nước để tàu thuyền có thể qua lại được); các chỉ tiêu xem  
xét bao gồm:  
88  
Sự phù hợp về tải trọng, kích thước của cầu và đường  
Sự phù hợp về tải trọng, kích thước của cầu và đường với phương tiện vận tải  
Sự phù hợp về tải trọng, kích thước của tàu với luồng tàu và bến cải.  
- Tính kết nối giữa các phương thức vận tải  
Các phương thức vận tải chỉ có thể phát huy hiệu quả khi được kết nối với nhau và  
đồng thời đây cũng là cách thức để tăng tính thuận lợi, tiết kiệm thời gian và chi phí  
trong vận tải hàng hóa và hành khách. Việc đánh giá tính kết nối giữa các phương thức  
vận tải được xem xét:  
Có sự gắn kết liên hoàn giữa các phương thức vận tải  
C  điểm trung chuyển, số lượng điểm trung chuyển, thời gian trung chuyển  
- Tính kết nối khu dân cư và khu công nghiệp, kết nối với các địa phương/li n vùng/  
quốc tế.  
Sự kết nối giữa các phương thức vận tải tới cửa khẩu/vùng  
Chiều dài (chất lượng hạ tầng) tới các cực tăng trưởng-khu công nghiệp/cửa  
khẩu/vùng kinh tế trọng điểm (Đông Nam Bộ)  
1.2.2. Các tiêu chí đánh giá hạ tầng giao thông bền vững vùng Tây Nam Bộ  
a) Bền vững về kinh tế: Tiêu chí về chi phí vận tải (bằng tiền và/hoặc bằng thời gian  
vận chuyển)  
Hạ tầng giao thông đ ng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy đầu tư, thương mại và  
du lịch. Sự thuận lợi của hạ tầng giao thông và chi phí vận tải ảnh hưởng tới môi trường  
kinh doanh, lợi thế cạnh tranh của địa phương, ngành hay của các doanh nghiệp. Hạ tầng  
giao thông ảnh hưởng tới chi phí vận tải tr n các phương diện: quy mô, công suất hay  
năng lực đáp ứng, tính kết nối và đồng bộ của hạ tầng giao thông, cách bố trí mạng lưới  
giao thông và phương thức/loại hình vận tải (đường sắt và đường thủy thường rẻ hơn so  
với đường bộ).  
b) Bền vững về xã hội: tiêu chí về tiếp cận hạ tầng giao thông  
Tiếp cận tới hạ tầng giao thông có tác dụng giúp người dân cải thiện thu nhập, xóa đ i  
giảm nghèo, tiếp cận tới các dịch vụ cơ bản (giáo dục, y tế), tiếp cận tới việc làm. Đây là  
các mục ti u trong Chương trình nghị sự tới năm 2030 của Liên hợp quốc (SDG 2030).  
Tiếp cận c  nghĩa là cả tiếp cận tới hạ tầng giao thông và dịch vụ giao thông (có  
đường nhưng không c  phương tiện thì ít c  ý nghĩa). Việc tiếp cận được thể hiện trên  
hai chiều cạnh: sự sẵn có của hạ tầng giao thông và có khả năng sử dụng được. Sự sẵn  
có của hạ tầng giao thông hàm ý tới sự tồn tại các công trình, vật kiến trúc như đường xá.  
Có khả năng sử dụng đề cập tới điều kiện, chất lượng của hạ tầng giao thông hay việc  
duy tu bảo dưỡng hạ tầng. Việc tiếp cận thể hiện: an toàn, giá cả hợp lý, tiện lợi và bình  
đẳng cho mọi người.  
Các chỉ ti u đánh giá tiếp cận tới hạ tầng giao thông: tỷ lệ số xã c  đường ô tô tới  
trung tâm xã; khoảng cách đến trung tâm xã; khoảng cách đến chợ, các trung tâm mua  
bán (chủ yếu phục vụ sản xuất và tiêu thụ nông sản); tiếp cận bình đẳng giữa các nhóm  
dân cư (người già, người khuyết tận, nam và nữ); tiếp cận tới hạ tầng giao thông với chi  
phí hợp lý (thời gian, tiền bạc), phù hợp với khả năng tài chính và ở mức giá vừa phải để  
có thể nhiều người tiếp cận nhằm phục vụ cho đi lại hàng ngày (đi làm, đi học, đi chợ…).  
89  
c) Bền vững về môi trường: tiêu chí về an toàn giao thông và tài nguyên - môi trường  
Số lượng, năng lực đáp ứng, tính kết nối và đồng bộ, cách bố trí mạng lưới giao thông  
nếu không đáp ứng được gây nên tỉnh trạng xung đột giao thông hệ quả là tắc nghẽn giao  
thông, ô nhiễm môi trường và thiếu an toàn đối với người, phương tiện tham gia giao  
thông. Hơn nữa, việc tập trung vận chuyển hàng hóa, hành khách nếu không chú ý tới  
đường sắt, đường thủy sẽ tạo ra áp lực đối với giao thông đường bộ gây nên tai nạn giao  
thông và ô nhiễm môi trường. Tai nạn giao thông và mức độ, xu hướng phát thải ô nhiễm  
môi trường là thước đo về sự phát triển của hạ tầng giao thông.  
II. Hạ tầng giao thông vùng Tây Nam Bộ từ góc nhìn phát triển bền vững  
2.1. Thực trạng hạ tầng giao thông vùng Tây Nam Bộ  
2.1.1. Các đặc trưng của hạ tầng giao thông vùng Tây Nam Bộ  
Vùng Tây Nam Bộ (TNB) là một đồng bằng châu thổ trẻ, được hình thành từ quá trình  
bồi đắp phù sa của sông Mêkông. Vùng TNB có hệ thống sông ngòi, kênh rạch dày đặc  
với tổng dài 28.000km (chiếm 70% chiều dài đường sông của cả nước). Đây là điều kiện  
thuận lợi cho việc phát triển giao thông đường thủy nội địa. Hầu như toàn bộ hệ thống  
kênh rạch ở TNB đều chảy theo hướng tây nam – đông bắc, đây là hướng trùng với  
hướng gió mùa Tây Nam nên thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa nông sản từ miền  
Tây lên Tp. Hồ Chí Minh bằng ghe thuyền, đặc biệt là thuyền buồm (Lê Công Lý, 2014).  
Tuy nhiên, hầu hết sông ngòi, kênh rạch ở vùng TNB đều cong queo, uốn lượn nên việc  
đi lại, vận chuyển hàng hóa tiêu tốn nhiều thời gian.  
Do được hình thành từ quá trình bồi đắp phù sa, nền đất vùng TNB thuộc dạng đất yếu  
(bùn sét, bùn sét pha, bùn cát pha). Vì vậy, việc xây dựng cơ sở hạ tâng nói chung và hạ  
tầng giao thông n i ri ng tr n vùng đất yếu gặp rất nhiều kh  khăn, đòi hỏi phải đầu tư  
nhiều vào việc xử lý nền móng và chi phí xây dựng lớn.  
Sông Mêkông là con sông thuộc loại lớn trên thế giới, phần chảy qua lãnh thổ Việt  
Nam c  độ dốc nhỏ, cao độ thi n nhi n (đồng bằng) hai bờ sông thấp. Đặc điểm này ảnh  
hưởng tới khả năng thoát nước khi vào mùa lũ. Vùng TNB là vùng đất thấp, độ cao trung  
bình so với mặt biển chỉ vào khoảng 5 mét. Một số khu vực như tứ giác Long Xuyên,  
Đồng Tháp Mười và phía tây sông Hậu đang tồn tại ở mức thấp hơn mặt biển, chính vì  
vậy mà hàng năm c  tới 1 triệu ha bị ngập nước mặn trong thời gian từ 2 đến 4 tháng.  
Vùng TNB gần như bằng phẳng và do đ , muốn đắp đường phải đào k nh và muốn đào  
kênh phải đắp đường, điển hình như cặp đôi – k nh Vĩnh Tế và đường N1. Với đặc điểm  
về thoát lũ và thường xuyên ngập nước cũng như về địa hình, việc quy hoạch và thiết kế hạ  
tầng giao thông vùng TNB phải tính tới, đảm bảo khả năng thoát lũ, hạn chế ảnh hưởng tới  
dòng chảy nhưng cũng đồng thời phải có hệ thống để ngăn nước khi hạn hán. Nói cách  
khác, hạ tầng giao thông vùng Tây Nam Bộ có đa mục tiêu – vừa là kết hợp giữa giao  
thông và thủy lợi, cầu kết hợp với cống, đường kết hợp với đê phân ranh mặn ngọt…  
Vùng TNB là nơi khan hiếm vật liệu đá nhất so với toàn quốc. Các mỏ đá ở Bảy Núi,  
Núi Sam và Hà Ti n đều có trữ lượng không lớn. Xa hơn, về phía bắc Tp. Hồ Chí Minh,  
trữ lượng đá c  lớn hơn, nhưng cự ly vận chuyển xa (Mai Anh Tuấn, 2001). Là vùng  
thường xuyên bị ngập nước, sau mỗi mùa mưa lũ hoặc việc xây dựng mới các công trình  
90  
đòi hỏi phải có các công nghệ xây dựng và vật liệu xây dựng đối với hạ tầng giao thông  
vùng TNB cho phép thi công nhanh hơn; dễ sửa chữa, bảo trì hơn; và có thể giảm chi phí  
xây dựng.  
Vùng TNB là vùng đã và đang chịu ảnh hưởng nặng nề tác động của biến đổi khí hậu,  
nước biển dâng (Nguyễn Văn Thắng và cộng sự, 2010). Biến đổi khí hậu, nước biển dâng  
ảnh hưởng đến chất lượng, tuổi thọ của công trình HTGT. Theo đ , HTGT không chỉ đáp  
ứng các yêu cầu phát triển bền vững (hạn chế các tác động làm thay đổi dòng chảy, ảnh  
hưởng tới môi trường sinh thái) mà bản thân các công trình HTGT trong vùng TNB với  
những yêu cầu rất cao về khả năng chống chịu, thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển  
dâng. Điều này đòi hỏi các loại vật liệu có khả năng thích ứng, chịu đựng được tác động  
của biến đổi khí hậu và những loại vật liệu ít tác động tới môi trường.  
Với đặc trưng là vùng c  nền đất yếu, thường xuyên bị ngập nước và lũ lụt,... ảnh  
hưởng đến chất lượng công trình. Việc khai thác và bão dưỡng các công trình giao thông  
của vùng TNB không chỉ đòi hỏi các kỹ thuật xây dựng mà đòi hỏi các công nghệ cho  
việc quản lý, phân luồng giao thông và các công nghệ đưa ra các cảnh báo cho các  
phương tiện tham gia giao thông khi điều kiện thời tiết bất lợi. Đ  là các công nghệ tiên  
tiến như hệ thống giao thông thông minh (Intelligent Transport Systems - ITS) nhằm khai  
thác hiệu quả năng lực của hệ thống giao thông hiện có (tránh tình trạng tắt nghẽn giao  
thông và theo đ  là giảm thiểu ô nhiễm môi trường) hỗ trợ cho quản lý và phân luồng  
giao thông (ví dụ: VOV giao thông), thu phí không dừng, các công nghệ cảnh báo thiên  
tai cho các phương tham gia giao thông.  
Là một đồng bằng châu thổ c  điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển nông nghiệp,  
trong thực tế cho đến nay, nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế chủ đạo (Nguyễn Xuân  
Dũng và cộng sự 2011). Nói cách khác, kinh tế vùng TNB dựa vào khai thác tài nguyên  
và là nền kinh tế vận tải (vật tư phục vụ sản xuất nong nghiệp và nông sản), nhu cầu vận  
tải lớn và hàng hóa thuộc dạng siêu trường, siêu trọng nên cần loại hạ tầng phù hợp.  
Đặc điểm sản xuất nông nghiệp của vùng TNB là mang tính thị trường, sản xuất hướng  
tới thị trường trong nước và xuất khẩu. Những hàng xuất khẩu chính của vùng TNB là  
gạo, thủy hải sản và hoa quả. Với đặc thù của mô hình tăng trưởng dựa vào nông nghiệp  
và hướng tới thị trường (nhất là xuất khẩu nông sản, hạ tầng giao thông vùng TNB đòi  
hỏi phục vụ nhu cầu vận tải và tính kết nối, nhất là tới thị trường để tạo động lực cho sự  
phát triển của vùng. Không những vậy, đặc điểm của các mặt hàng thủy sản và hoa quả là  
dễ hỏng, nhanh hỏng và những năm gần đây, các mặt hàng này khi bán tươi sống thường  
c  giá cao hơn n n ngoài đảm bảo tính kết nối tới thị trường, hạ tầng giao thông vùng  
TNB cùng đòi hỏi rút ngắn thời gian vận chuyển. Điều này không chỉ đòi hỏi chất lượng  
của hạ tầng giao thông và những sự dịch chuyển về nhu cầu sử dụng các loại hạ tầng  
giao thông (mặt hàng hàng thủy sản, hoa quả tưới đến thị trường và xuất khẩu muốn vận  
chuyển nhanh đòi hỏi sử dụng đường cao tốc và hàng không).  
Vùng TNB nằm ở hạ nguồn, những năm gần đây, các nước thượng lưu sông M kông,  
đang đẩy mạnh xây dựng các đập chứa nước quy mô lớn phục vụ các nhà máy thủy điện  
và sản xuất – đời sống. Việc các quốc gia thượng nguồn xây dựng các đập chứa nước trên  
91  
dòng chính Mêkông ảnh hưởng tới chế độ thủy văn. Thực trạng này ảnh hưởng tới việc  
khai thác giao thông đường thủy cũng như thay đổi cơ cấu vận tải hàng hóa.  
Không chỉ cạnh tranh, xung đột lẫn nhau về vệc sử dụng tài nguy n nước, các nước  
trong khu vực cũng c  những động thái phát triển kinh tế - xã hội làm thay đổi địa chính  
chính trị, tạo ra những cơ hội lẫn thách thức đối với sự phát triển của vùng TNB. Đ  là  
việc Campuchia xây dựng đặc khu Sihanoukville, Myanmar xây dựng dự án cảng nước  
sâu Dawei và trong tương lai c  thể Thái Lan xây dựng k nh đào Kra… Các nước trong  
khu vực GMS đã và đang, sẽ triển khai các dự án kết nối hạ tầng giao thông, thúc đẩy  
phát triển các hành lang kinh tế, tạo thuận lợi thương mại và vận chuyển qua biên giới.  
Điều này đặt ra đòi hỏi hạ tầng giao thông vùng TNB không chỉ kết nối với các nước  
trong khu vực (về hạ tầng cứng) mà còn yêu cầu kết nối, đồng bộ và tạo thuận lợi về hạ  
tầng mềm (thể chế) trong khu vực.  
2.1.2. Thực trạng kết cấu hạ tầng giao thông vùng Tây Nam Bộ  
Cho đến nay, hạ tầng giao thông vùng TNB c  4 phương thức vận tải gồm: đường bộ,  
đường thủy nội địa (ĐTNĐ), đường biển và đường hàng không.  
a) Hạ tầng giao thông vùng Tây Nam Bộ ngày càng cải thiện về số lượng cũng như  
chất lượng nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu vận tải và chất lượng chưa cao.  
– Thực trạng hạ tầng giao thông đường bộ  
Hạ tầng giao thông đường bộ (GTĐB) ở vùng TNB ngày càng được cải thiện cả về số  
lượng và chất lượng. Chiều dài đường bộ tăng từ 47.202,74 km (năm 2010) l n 53.764,8  
km (năm 2016), tức tăng th m 6.562,06 km. Mật độ đường theo diện tích đất (km/km2) là  
chỉ ti u đánh giá mức độ bao phủ của đường trên km2, chỉ số này càng cao chứng tỏ  
mạng lưới đường càng dày đặc. Mật độ đường bộ theo dân số (km/1000 dân) là chỉ tiêu  
đánh giá mức độ phục vụ của người dân, chỉ số này càng cao chứng tỏ mức độ phục vụ đi  
lại của người dân càng tốt. Cùng với sự gia tăng chiều dài đường, mật độ đường bộ của  
vùng TNB có sự thay đổi đáng kể, tăng từ 0,96 km/km2 (năm 2010) lên 1,3 km/km2 (năm  
2016). Mật độ đường theo dân số trong cùng giai đoạn tăng với con số tương ứng là 0,27  
km/1.000 dân và 3,0 km/1.000 dân.  
Dù đã c  nhiều nỗ lực cải thiện nhưng GTĐB vùng TNB có chất lượng còn thấp. Cho  
đến năm 2016, toàn vùng TNB c  tổng chiều dài đường bộ là 53.764,8 km, trong đ :  
trung ương quản lý (đường quốc lộ: QL) là 2.475,1 km; tỉnh quản lý là 4.943,9 km;  
huyện, xã quản lý là 46.345,8 km. Năm 2017, vùng TNB c  2.577,9 km đường do Trung  
ương quản lý, đường cao tốc chỉ chiếm 1,5  (tương đương 38,67 km), trong khi đ  
đường cấp III và cấp IV chiếm lần lượt là 49,8% và 21,8%. Về chất lượng mặt đường,  
đường quốc lộ ở vùng TNB hầu như đã được phủ mặt bê tông nhựa (92,5%); trong khi  
đó đường tỉnh còn khoảng 25% là cấp phối; đường huyện phần lớn là đường cấp phối và  
đất (81%), chỉ có 20% được láng nhựa là đường nội thị trấn và các đầu mối vào các thị  
trấn huyện (Bộ Giao thông – Vận tải, 2018a).  
92  
H nh 1: Chiều dài đƣờng bộ chia  
theo cấp quản lý (năm 2 16  
H nh 2: Chiều dài đƣờng bộ Trung ƣơng  
quản lý chia theo cấp kĩ thuật (năm  
2017)  
Nguồn: Ni n giám thống k  các tỉnh  
Nguồn: Bộ Giao thông vận tải (2018a)  
TNB  
Nhìn chung, hạ tầng giao thông đường bộ vùng TNB vẫn chưa theo kịp, nếu không nói  
là lạc hậu, so với các xu hướng tiến bộ khoa học – công nghệ, thân thiện với môi trường.  
Điều này thể hiện trên một số phương diện sau đây:  
Thứ nhất, hạ tầng kỹ thuật ở các tuyến đường quốc lộ, tỉnh lộ như hệ thống thu gom,  
thoát nước rất kém, không đáp ứng được yêu cầu ti u thoát nước vào mùa mưa. Giao  
thông đô thị hầu ở vùng TBN hầu như chưa đầu tư cho hệ thống thoát nước (các cống  
ti u nước) nên xảy ra ngập úng cục bộ ở nhiều nơi: chẳng hạn tình trạng ngập úng tại  
thành phố Tân An (tỉnh Long An) và thành phố Mỹ Tho (tỉnh Tiền Giang).4  
Thứ hai, các công cụ phục vụ quản lý hạ tầng giao thông đường bộ vẫn còn thiếu và  
chủ yếu là cách quản lý thủ công, tại các tỉnh vùng TNB vẫn chậm trễ áp dụng CNTT vào  
quản lý hạ tầng giao thông và quản lý đô thị (giao thông đô thị) nên khó quản lý các  
phương tiện vận tải chở quá tải trọng, chậm trễ áp dụng hệ thống giao thông thông minh  
(Intelligent Transport Systems – ITS) như trạm thu phí không dừng nhằm khai thác hiệu  
quả năng lực của hệ thống hạ tầng giao thông hiện có hoặc để phân luồng giao thông  
nhằm tránh tránh tình trạng tắt nghẽn giao thông, ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến  
phục vụ kiểm soát tải trọng phương tiện tham gia giao thông trên các tuyến đường bộ.  
Thứ ba, rà soát các quy hoạch phát triển giao thông của các tỉnh trong vùng TNB  
(chẳng hạn như quy hoạch giao thông của tỉnh Long An và Tiền Giang đến năm 2030 và  
tầm nhìn 2050) cho thấy các quy hoạch chưa tính tới việc thiết kế hạ tầng giao thông cho  
các phương tiện hiện đại (các loại xe tự lái) hoặc các loại phương tiện giao thông sử dụng  
dụng nhiên liệu sạch (xe chạy điện, năng lượng mặt trời, gi …) với các trạm sạc pin hai  
b n đường cho xe chạy điện.  
Thứ tư, vùng TNB không chỉ là nơi khan hiếm vật liệu đá nhất so với toàn quốc mà  
những năm gần đây các tỉnh trong vùng cũng đang đối diện với tình trạng thiếu cát xây  
dựng (Chính phủ cấm khai thác cát ở các lòng sông), ví dụ như thiếu cát để xây dựng  
4 Thảo luận của nh m nghi n cứu tại Sở Xây dựng các tỉnh Long An và Tiền Giang.  
93  
tuyến Lộ Tẻ – Rạch Sỏi (kéo theo giá cát tăng cao)5. Việc thiếu vật liệu xây dựng làm  
tăng chí phí và ảnh hưởng tới tiến độ xây dựng hạ tầng giao thông.  
– Thực trạng hạ tầng giao thông đường thủy nội địa (ĐTNĐ)  
Vùng TNB có hệ thống sông ngòi, kênh rạch dày đặc với tổng dài 28.000km (chiếm  
70% chiều dài đường sông của cả nước), 13.000 km có khả năng khai thác vận tải, trong  
đ  gần 6.000 km sông kênh có khả năng vận tải bằng loại phương tiện trọng tải 50 – 100  
tấn. Tính đến năm 2017, vùng TNB đã đưa vào quản lý khai thác vận tải 3.486 km đường  
sông: Trung ương quản lý 2800 km; còn lại do địa phương quản lý. Đối với các giao  
thông thủy nội địa do Trung ương quản lý, xét theo cấp kỹ thuật: cấp đặc biệt là 23,1 ;  
cấp I: 7,8 ; cấp II: 6,9 ; từ cấp III trở xuống chiếm tới 56,1  (Bộ Giao thông – Vận tải,  
2018a). Nhìn chung, vùng TNB có tiềm năng lớn về giao thông đường thủy nội địa để  
vận chuyển hàng hoá từ trung tâm sản xuất công nghiệp đến cảng cửa ngõ, nhưng tần  
suất và quy mô vận chuyển bị hạn chế do: (1) chưa đầu tư thỏa đáng cho việc nạo vét  
luồng lạch vẫn chủ yếu dựa vào điều kiện tự nhiên; (2) nhiều tuyến đường thủy nội địa  
không thể phát huy được do độ tĩnh không của các cầu trên tuyến chưa phù hợp.  
Với mạng lưới sông ngòi dày đặc, số lượng cảng, bến ĐTNĐ khá nhiều. Theo thống  
k , đến năm 2017, vùng TNB c  75 cảng thủy nội địa và hơn 200 bến thủy nội địa. Các  
cảng ĐTNĐ chủ yếu là các cảng xếp theo nhóm tiêu chuẩn kỹ thuật thấp (loại I: 21 cảng;  
loại II: 13 cảng; loại III: 22 cảng; loại IV: 20 cảng). Xét phân bố trong vùng TNB, các  
cảng ĐTNĐ tập trung ở các tỉnh Long An (19 cảng; chiếm 25 ), Vĩnh Long (13 cảng),  
An Giang (8 cảng), Ki n Giang (7 cảng), Cần Thơ (6 cảng), S c Trăng và Cà Mau c  số  
lượng ngang nhau (5 cảng), các tỉnh còn lại c  vài ba cảng (Cục Đường thủy nội địa,  
2018). Các cảng ĐTNĐ của vùng TNB còn nhiều hạn chế cả về chất lượng, quy mô năng  
lực hệ thống hạ tầng và trình độ công nghệ khai thác.  
H nh 3: Cảng thủy nội địa vùng TNB phân  
theo cấp kỹ thuật (năm 2 17  
H nh 4: Cảng thủy nội địa vùng TNB  
phân bố theo tỉnh (năm 2 17  
Nguồn: Cục đường thủy nội địa Việt Nam (https://viwa.gov.vn/)  
– Thực trạng hạ tầng cảng biển  
94  
Tính đến năm 2018, vùng TNB c  9 cảng biển, trong đ : cảng loại I (phục vụ chủ yếu  
cho việc phát triển của cả nước hoặc li n vùng): 2 cảng; cảng loại II (phục vụ y u cầu  
phát triển kinh tế – xã hội của vùng, địa phương): 7 cảng (cảng Tiền Giang, cảng Bến  
Tre, cảng Đồng Tháp, cảng An Giang, cảng Năm Căn – Cà Mau, cảng Kiên Giang, cảng  
Trà Vinh) và 1 cảng loại III (là loại cảng chuy n dùng, phục vụ chủ yếu cho hoạt động  
doanh nghiệp): Cảng dầu khí ngoài khơi mỏ Sông Đốc (Cà Mau).6 Tổng lượng hàng h a  
qua cảng đạt khoảng 66,5 – 71,5 triệu tấn/năm; trong đ  hàng tổng hợp, container khoảng  
21,7 – 26,2 triệu tấn/năm. Cảng biển trong vùng TNB c  năng lực hạn chế và không xử  
lý được các tàu chở hàng cỡ lớn.  
– Thực trạng hạ tầng cảng hàng không  
Vùng TNB c  4 cảng hàng không, bao gồm: Cảng hàng không quốc tế Cần Thơ và  
Phú Quốc, cảng hàng không nội địa Cà Mau và Rạch Giá. Sân bay Cần Thơ và Phú Quốc  
đạt chuẩn sân bay 4C (ti u chuẩn của tổ chức hàng không quốc tế ICAO), đảm bảo phục  
vụ 24/24 giờ cho các loại máy bay A321, A320 hoặc tương đương. Sân bay Cà Mau và  
Rạch Giá cho phép máy bay ATR72/F70 cất hạ cánh. Theo quy hoạch phát triển hàng  
không, đến năm 2030, các cảng hàng không quốc tế Cần Thơ và Phú Quốc đạt ti u chuẩn  
cấp 4E, các cảng hàng không nội địa Cà Mau và Rạch Giá đạt ti u chuẩn cấp 4C.  
Bảng 1: Năng lực thông qua của các sân bay ở vùng Tây Nam Bộ  
Năng lực thông qua đến  
Năng lực thông qua đến  
ngày 31/12/2011  
ngày 31/12/2017  
Cảng HK  
Hành  
khách/năm  
Hàng h a/năm  
Hành  
khách/năm  
Hàng  
h a/năm  
(tấn)  
(tấn)  
CHKQT  
Cần Thơ  
3.000.000  
400.000  
20.000  
10.000  
3.000.000  
2.650.000  
20.000  
CHKQT  
50.000  
Phú Quốc  
CHK Cà Mau  
CHK Rạch Giá  
Tổng  
200.000  
250.000  
10.000  
10.000  
50.000  
200.000  
250.000  
10.000  
10.000  
90.000  
3.850.000  
6.100.000  
Nguồn: Bộ Giao thông vận tải (2012) và Bộ Giao thông vận tải (2018a).  
b) Vấn đề thực hiện theo các quy hoạch phát triển hạ tầng giao thông vùng TNB  
Như vậy, vùng TNB dù c  sự gia tăng về số lượng và chất lượng nhưng so với các  
mục tiêu trong các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, về hạ tầng giao thông  
thì nhiều chỉ ti u chưa đạt được hoặc chậm tiến độ so với mục ti u, kế hoạch đặt ra. Thực  
trạng này thể hiện rõ khi xem xét tới một số công trình quan trọng mang tính đột phá  
đ ng vai trò động lực phát triển kinh tế – xã hội, thu hút đầu tư nước ngoài và hội nhập  
quốc tế và phát triển bền vững. Theo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội vùng  
6 Quyết định số 70/2013/QĐ-TTg ngày 19/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc công bố danh mục phân loại  
cảng biển Việt Nam.  
95  
7
đồng bằng sông Cửu Long , đến năm 2020, vùng TNB c  đường bộ cao tốc thành phố  
Hồ Chí Minh – Cần Thơ, nhưng đến 2018 tuyến đường mới triển khai xây dựng đoạn  
Trung Lương – Mỹ Thuận. Điều này cho thấy chiều dài đường cao tốc của vùng TNB  
chưa đạt mục ti u đề ra và đến năm 2018, toàn vùng chỉ c  38,67 km đường cao tốc. Tình  
trạng chậm tiến độ cũng diễn ra đối với dự án nâng cấp tuyến k nh Chợ Gạo (Tiền  
Giang) – tuyến cửa ngõ bằng đường thủy để vận chuyển hàng h a đến Tp. Hồ Chí Minh  
và các tỉnh vùng ĐNB.  
2.1.3. Năng lực vận chuyển và kết nối của hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông vùng  
trong phát triển kinh tế – xã hội  
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bằng sống Cửu Long8 đề ra  
mục tiêu: Phát triển vùng đồng bằng sông Cửu Long trở thành vùng trọng điểm quốc gia  
về sản xuất nông nghiệp và đánh bắt, nuôi trồng thủy sản; phát triển mạnh kinh tế biển,  
du lịch sinh thái cảnh quan sông nước. Quy hoạch phát triển vùng kinh tế trọng điểm  
Đồng bằng sông Cửu Long (bao gồm các tỉnh, thành phố Cần Thơ, An Giang, Ki n  
Giang, Cà Mau)9 xác định: Là trung tâm lớn về sản xuất lúa gạo, nuôi trồng, đánh bắt và  
chế biến thủy sản, đ ng g p lớn vào xuất khẩu nông thủy sản của cả nước. Quy hoạch đặt  
ra yêu cầu đối với hệ thống kết cấu hạ tầng là phát triển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng,  
đặc biệt là mạng lưới giao thông để tạo sự kết nối giữa các địa phương trong vùng và  
vùng lân cận, tăng cường hợp tác với các nước thuộc Tiểu vùng sông Mêkông mở rộng  
(GMS).  
Mặc dù có tiềm năng lợi thế và các định hướng quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội  
nhưng việc phát triển hạ tầng giao thông vùng TNB trong thời gian qua dường như chưa  
theo kịp và/hoặc phục vụ định hướng phát triển cơ cấu kinh tế.  
a) Hạ tầng giao thông vùng TNB thiếu tính đồng bộ, kết nối giữa các phương thức vận  
tải và thiếu lẫn yếu về tính kết nối nội vùng, liên vùng, tới các cửa ngõ quốc tế.  
Sự yếu kém trước hết thể hiện ở việc thiếu phù hợp, đồng bộ giữa các bộ phận của  
HTGT; về tải trọng, kích thước giữa cầu và đường; về tải trọng, kích thước của cầu và  
đường với phương tiện vận tải; về tải trọng, kích thước của luồng tàu và bến cảng với tàu.  
Vùng TNB với đặc trưng là sông nước nên cầu đường bộ đ ng vai trò quan trọng nhưng  
phần lớn là cầu có chiều rộng hẹp, tải trọng thấp cản trở việc đi lại của phương tiện. Vấn  
đề không chỉ là thiếu đồng bộ về cầu và đường bộ, không ít cầu ở vùng TNB (ví dụ cầu  
Măng Thít–tỉnh Vĩnh Long, cầu Nàng Hai–tỉnh Đồng Tháp) được thiết kế với tĩnh không  
của cầu thấp làm giới hạn quy mô hoạt động của các phương tiện vận tải thủy.  
Điểm yếu của HTGT vùng TNB là tính kết nối giữa các phương thức vận tải và hệ quả  
là ảnh hưởng tới tính thuận lợi, tiết kiệm thời gian và chi phí vận tải hàng hóa và hành  
7 Quyết định số 939/QĐ-TTg ngày 19/7/2012 về Ph  duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội  
vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020.  
8 Quyết định số 68/QĐ-TTg ngày 15/1/2018 của Thủ tướng về Ph  duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển  
kinh tế - xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 và tầm nhìn đến 2050; và Quyết định số  
939/QĐ-TTg ngày 19/7/2012 về Ph  duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng Đồng  
bằng sông Cửu Long đến năm 2020.  
9 Quyết định số 245/QĐ-TTg ngày 12/02/2014 của Thủ tướng về Ph  duyệt Quy hoạch tổng thể phát  
triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020, định hướng  
đến năm 2030.  
96  
khách. Tính kết nối yếu kém giữa các phương thức vận tải trước hết thể hiện ở chỗ vùng  
TNB là vùng duy nhất chưa c  đường sắt để kết nối với đường bộ, các cảng biển. Kết nối  
GTĐB với ĐTNĐ, cảng ĐTNĐ, cảng biển vẫn thiếu và yếu. Các tuyến đường kết nối đến  
cảng có tiêu chuẩn kỹ thuật chưa phù hợp với vận tải container nên nhanh chóng bị  
xuống cấp. Nhiều tuyến quốc lộ, tỉnh lộ ở vùng TNB vẫn đang thiếu các tuyến đường  
xương cá để kết nối trục giao thông chính với ĐTNĐ. Chẳng hạn, tỉnh Tiền Giang nằm  
trên các trục giao thông – kinh tế quan trọng kết nối vùng Đông Nam Bộ với vùng TNB,  
nhưng các tuyến quốc lộ và tỉnh lộ tr n địa bàn đang thiếu các tuyến đường xương cá để  
kết nối giữa đường bộ với đường thủy như QL1A nối tới sông Tiền, các cảng/bến cảng.  
GTĐB vùng TNB được bố trí theo 5 tuyến trục dọc và các tuyến trục ngang. Mạng lưới  
GTĐB trong vùng từng bước được điều chỉnh quy hoạch, nâng cấp, xây mới theo “ô bàn  
cờ”, bao gồm các trục dọc, ngang và hệ thống đường vành đai li n kết với nhau. Cho đến  
nay, GTĐB phục vụ cho kết nối nội vùng, liên vùng vẫn chưa thông suốt do thiếu cầu hoặc  
cầu tạm, bố trí chưa hợp lý, chưa c  giao thông cắt lập thể, thiếu các công trình phụ trợ.  
Các tỉnh trong vùng TNB hàng năm luân phi n tổ chức hội nghị nhằm phối hợp, liên  
kết về phát triển kinh tế, xây dựng HTGT và kêu gọi vốn đầu tư. Tr n thực tế, không ít  
trục giao thông cấp tỉnh, huyện giữa các tỉnh trong vùng vẫn thiếu đồng bộ về cấp đường,  
tốc độ lưu thông. Chẳng hạn, tuyến đường từ huyện Hòn Đất (tỉnh Kiên Giang) kết nối  
với đường huyện Thoại Sơn (tỉnh An Giang), bên phía huyện Hòn Đất đường về xã Nam  
Thái Sơn chỉ là tuyến đường cấp xã, khó kết nối với đường cấp huyện (phía Thoại Sơn).10  
GTĐB của vùng TNB kết nối tới các cửa ngõ quốc tế vẫn đang thiếu và yếu cả về  
“phần cứng” lẫn “phần mềm” (thể chế). Quốc lộ 62 đ ng vai trò như tuyến đường xương  
cá để kết nối Quốc lộ N2 với tuyến đường xuyên Á (ở Campuchia) qua cửa khẩu quốc tế  
Kiến Tường (tỉnh Long An). Quốc lộ 80, thuộc tiểu hàng lang ven biển phía Nam  
(Bangkok – Trat – Koh Kong – Kampot – Hà Tiên – Tp. Cà Mau – Năm Căn) c  vai trò  
kết nối vùng TNB với Campuchia và Thái Lan, tạo điều kiện cho việc đi lại và lưu thông  
hàng hóa trong khu vực qua cửa khẩu Hà Tiên (tỉnh Kiên Giang). Quốc lộ 91 là con  
đường kết nối thành phố Cần Thơ đến cửa khẩu Tịnh Bi n (tỉnh An Giang) và tiếp nối  
với quốc lộ 2 của Campuchia tr n địa phận tỉnh Tà Keo, cách Phnom Penh khoảng  
110 km. Trục QL91 đ ng vai trò quan trọng đối với An Giang, Cần Thơ n i ri ng và  
vùng TNB n i chung trong phát triển kinh tế – xã hội nhờ giao thương qua các cửa khẩu  
và phát triển du lịch. Mặc dù đ ng vai trò quan trọng về kết nối quốc tế, tạo thuận lợi  
thúc đẩy đầu tư, thương mại và du lịch của vùng TNB nhưng các tuyến QL62, QL80 và  
QL91 chủ yếu là khổ hẹp, chạy qua nhiều khu đông dân cư và thiếu các tuyến đường  
xương cá để liên kết nhằm hỗ trợ chuyển các hành lang giao thông thành các hành lang  
kinh tế.  
Vùng TNB không chỉ thiếu “phần cứng” mà “phần mềm” – các thể chế kết nối đang  
còn nhiều vướng mắc, nhất là vận tải xuyên biên giới. Ngày 26/11/1999, chính phủ các  
nước Lào, Thái Lan và Việt Nam (sau đ  c  sự tham gia ký kết của các nước Campuchia,  
Trung Quốc, Myanmar) đã ký Hiệp định GMS – CBTA về tạo thuận lợi vận chuyển  
10 Khảo sát của nh m tác giả, 7/2018.  
97  
người và hàng h a qua lại bi n giới giữa các nước. Hiệp định GMS – CBTA liên quan  
đến nhiều vấn đề về qua lại bi n giới và áp dụng cơ chế hải quan quá cảnh “một cửa, một  
lần dừng” tại các cửa khẩu. Tuy nhi n, một số Phụ lục và Nghị định thư của Hiệp định  
vẫn chưa được ph  chuẩn, giờ làm việc giữa các b n chưa đồng nhất, sự phối hợp của  
Biên phòng và Hải quan giữa các nước thiếu thống nhất,... gây ùn tắc, làm giảm tốc độ  
thông quan qua cửa khẩu.  
b) Đầu tư phát triển các loại hình hạ tầng giao thông thiếu phù hợp với đặc thù, điều  
kiện tự nhiên và đặc điểm sản xuất của vùng Tây Nam Bộ  
Vùng TNB với đặc thù là mạng lưới sông ngòi, kênh rạch dày đặc hay nói cách khác là  
có lợi thế về giao thông đường thủy. Tuy nhiên, nguồn vốn đầu tư chủ yếu tập trung cho  
đường bộ với 79%, hàng hải là 13 , hàng không là 7 , trong khi đường thủy nội địa là  
thế mạnh của vùng song chỉ chiếm 1% tổng đầu tư (Bảng 4). Thực trạng đầu tư thiếu hợp  
lý giữa các phương thức vận tải xuất phát từ những nguy n nhân cơ bản sau: việc đầu tư  
cho hạ tầng giao thông trong thời gian qua chú ý tới giao thông (phục vụ nhu cầu đi lại)  
nhiều hơn là vận tải (nhu cầu vận tải hàng hóa, các hoạt động kinh tế). Nói cách khác,  
đầu tư phát triển hạ tầng (cả nước nói chung và vùng TNB nói riêng) ưu tiên cho khía  
cạnh xã hội (tiếp cận giao thông: tăng khả năng tiếp cận cho người dân và xóa đói giảm  
nghèo) hơn là khía cạnh kinh tế (vận tải: đầu tư mạng lưới giao thông ĐTNĐ, đường  
sắt).  
Hình 5: Vận chuyển hành khách và hàng hóa phân theo ngành vận tải ở vùng Tây Nam Bộ  
Hình 5a: Vận chuyển hành khách (triệu lượt  
người)  
Hình 5b: Vận chuyển hàng hóa (nghìn tấn)  
Nguồn: Tổng cục Thống k , 2017.  
Việc tập trung đầu tư cho giao thông đường bộ và xem nhẹ giao thông đường thủy dẫn  
tới một số hệ quả sau:  
Thứ nhất, việc vận chuyển hành khách và hàng hóa của vùng TNB tạo ra áp lực lớn  
đối với giao thông đường bộ, vận chuyển hành khách chủ yếu là bằng chuyển bằng  
đường bộ chiếm 77  và đối với hàng hóa là 33,3%. Vận tải hành khách bằng đường bộ  
98  
tăng với tốc độ tăng trưởng là 6,3 /năm (cao hơn so với quy hoạch11: đến năm 2020 là  
5,5 /năm). Khối lượng vận tải hàng h a bằng đường bộ với tốc độ tăng trưởng là  
10,9 /năm, trong khi bằng đường thủy là 8,1  (Hình 5b).  
Thứ hai, việc tập trung đường bộ trong khi ít quan tâm tới đường thủy nội địa và cảng  
biển nên 80% hàng hóa xuất khẩu của vùng Tây Nam Bộ phải qua Thành phố Hồ Chí  
Minh hoặc cảng Cái Mép – Thị Vải, trong đ  90  phải sử dụng đường bộ và mất thêm  
tới 60% chi phí.  
c) Việc bố trí mạng lưới giao thông đường bộ với hướng tuyến vẫn thiếu gắn kết với  
những nơi tập trung sản xuất, các cực tăng trưởng  
Doanh nghiệp là lực lượng trung tâm của phát triển kinh tế, theo đ , HTGT cần hướng  
tới phục vụ doanh nhiệp để thúc đẩy phát triển sản xuất. Mặc dù vậy, việc phát triển hạ  
tầng giao thông đường bộ của vùng TNB chưa tương xứng với sự phát doanh nghiệp, sản  
xuất công nghiệp. Trong vùng TNB, thành phố Cần Thơ c  số lượng doanh nghiệp lớn  
nhất với 5.806 doanh nghiệp (năm 2016) nhưng mật độ đường theo diện tích đất  
(km/km2) thấp hơn rất nhiều so với nhiều tỉnh khác trong vùng hoặc tỉnh Long An c  số  
lượng doanh nghiệp lớn thứ hai (5.152 doanh nghiệp) song mật độ đường chỉ xếp thứ sáu.  
Tỉnh Tiền Giang chỉ c  3.271 doanh nghiệp (xếp thứ 4) nhưng mật độ đường xếp thứ  
nhất trong vùng, cao hơn so với Cần Thơ và Long An. So sánh theo tổng giá trị sản xuất  
tr n địa bàn (năm 2015) cho thấy: Long An lớn nhất (240,81 nghìn tỷ đồng), tiếp đến là  
tỉnh Ki n Giang (195,52 nghìn tỷ đồng) nhưng hai tỉnh này c  mật độ đường theo diện  
tích thấp hơn rất nhiều so với các tỉnh (Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, S c Trăng).12  
Việc phát triển GTĐB không dựa vào sự phát triển doanh nghiệp và sản xuất công nghiệp  
c  nguy cơ gia tăng chi phí vận tải và đường sá nhanh xuống cấp do áp lực của việc vận  
chuyển hàng h a.  
Vùng TNB có nhiều cảng ĐTNĐ nhưng chủ yếu là cảng hàng hóa, các cảng phục vụ  
vận chuyển hành khách với số lượng khiêm tốn. Cả vùng có 75 cảng ĐTNĐ nhưng chỉ có  
4 cảng chính phục vụ vận chuyển hành khách bằng ĐTNĐ13; một số bến quy mô nhỏ,  
lượng tàu thuyền và khách qua lại không đáng kể. Các cảng hành khách hiện nay thiếu  
đồng bộ, thiếu các công trình phụ trợ như trạm nghỉ, điểm trung chuyển....  
Trong số 71 cảng hàng hóa ở vùng TNB, các cảng phục vụ cho việc bốc dỡ, vận  
chuyển vật liệu xây dựng chiếm tới 14 cảng, trong khi đ  dù c  tới 46 cảng hàng hóa  
nhưng các khảo sát từ các doanh nghiệp cho thấy so với nhu cầu vẫn thiếu cảng cho các  
loại hàng nông sản (trái cây, thủy sản,...), nhất là thiếu cảng hàng hóa bốc xếp container  
(phục vụ cho xuất khẩu) – các tuyến ĐTNĐ cho tàu c  trọng tải lớn.  
Như vậy, qua phân tích thực trạng kết cấu HTGT vùng TNB có thể rút ra một số nhận  
xét: việc đầu tư cho HTGT trong thời gian qua mới chỉ chú ý tới giao thông (phục vụ nhu  
cầu đi lại), chưa chú trọng nhiều tới vận tải (vận tải hàng hóa, các hoạt động kinh tế) và  
11 Quyết định số 11/2012/QĐ-TTg ngày 10/2/2012 về quy hoạch hạ tầng giao thông vùng kinh tế trọng  
điểm đồng bằng sông Cửu Long.  
12 Tính toán của nh m tác giả từ số liệu điều tra doanh nghiệp (Tổng cục Thống k ).  
13 Cảng thủy nội địa hành khách Nhà hàng khách sạn Ninh Kiều; Cảng hành khách du lịch Ninh Kiều;  
Cảng thủy nội địa Rạch Giá; cảng hành khách Châu Đốc.  
99  
yếu kém trong việc phân bổ nguồn lực phát triển HTGT, nhất là đối với GTĐB. Với cách  
thức phát triển HTGT vùng TNB như thời gian qua c  nguy cơ ảnh hưởng tới sự phát  
triển bền vững.  
2.2. Ảnh hưởng của kết cấu hạ tầng giao thông với phát triển của vùng  
2.2.1. Những tác động trên phương diện kinh tế  
Chi phí vận tải là một trong những thức đo để đánh giá thực trạng về số lượng, chất  
lượng lẫn cách thức đầu tư phát triển HTGT. Tính toán từ số liệu điều tra doanh nghiệp  
giai đoạn 2011 – 2016 cho thấy trong tỷ trọng chi phí vận tải trong tổng chi phí kinh  
doanh của doanh nghiệp giảm nhẹ năm 2016 so với năm 2011 ở tất cả các tỉnh trong  
vùng TNB (Bảng 2).  
Trong các tỉnh vùng TNB, tỷ trọng chi phí vận tải trong tổng chi phí kinh doanh, năm  
2016, cao nhất là tỉnh An Giang (4,2%). Trong giai đoạn 2011 – 2016, tỷ trọng chi phí  
vận tải trong tổng chi phí kinh doanh giảm nhiều nhất là ở tỉnh Bến Tre, tiếp theo là tỉnh  
Long An, thành phố Cần Thơ, ...  
Mặc dù tỷ trọng chi phí vận tải trong tổng chi phí kinh doanh ở các tỉnh vùng TNB có  
xu hướng giảm nhưng vẫn còn cao và giảm chậm hơn so với mặt bằng chung của cả nước  
(năm 2011 là 0,04  và năm 2016 là 0,03 ).  
Bảng 2: Chi phí vận tải của doanh nghiệp vùng Tây Nam Bộ (%)  
Năm  
4,30 1,70 5,90 4,10 2,60 2,20 2,10 2,60 2,90 1,90 2,60 2,00 2,10  
3,10 1,10 2,70 3,00 17,30 2,30 25,80 1,20 2,30 4,90 2,70 0,90 1,80  
3,20 1,50 2,60 5,90 4,50 2,00 5,80 1,30 1,90 9,70 4,20 1,30 1,20  
3,20 6,30 1,80 7,20 3,00 1,20 4,00 2,50 29,20 1,30 3,10 3,00 1,10  
2,20 1,40 1,50 3,80 1,70 1,00 4,20 1,50 1,20 2,30 1,30 3,00 1,00  
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả từ Điều tra doanh nghiệp (Tổng cục Thống kê)  
2011  
2012  
2013  
2014  
2015  
Tỷ trọng chi phí vận tải trong tổng chi phí kinh doanh của doanh nghiệp ở TNB có xu  
hướng giảm xuống là do sự cải thiện cả về số lượng và chất lượng của HTGT của các  
tỉnh trong vùng. Sự cải thiện HTGT góp phần giảm chi phí vận tải cho các doanh nghiệp.  
Việc giảm chi phí vận tải của doanh nghiệp trong vùng TNB là do thay đổi cơ cấu vận  
tải theo khối lượng vận chuyển. Việc vận chuyển hàng h a đang chuyển dần từ vận tải  
đường bộ sang đường thủy và các loại hình vận tải khác, giảm từ 31,8  (năm 2008)  
xuống còn 30,1% (năm 2015) (Hình 5). Việc giảm vận tải bằng đường bộ góp phần giảm  
chi phí vận tải của doanh nghiệp là bởi vận tải bằng đường bộ thường có chi phí vận tải  
cao hơn so với các phương thức vận tải khác. Theo Blancas và El–Hifnawi (2014), chi  
phí vận tải đường bộ, trên một tấn hàng cao hơn với vận tải đường sắt, đường thủy và  
đường biển lần lượt là 2,6 lần; 3 lần và 10 lần. Việc vận chuyển một tấn hàng từ vùng  
100  
TNB vận chuyển bằng đường thủy về các cảng Tp. Hồ Chí Minh để xuất khẩu c  chi phí  
rẻ hơn khoảng 10 – 60  so với vận tải bằng đường bộ.  
So sánh giữa các tỉnh vùng TNB cho thấy tỉnh nào có mật độ đường theo diện tích đất  
cao hơn và tăng nhanh thì chi phí vận tải của doanh nghiệp c  xu hướng giảm nhanh hơn.  
Điểm thứ hai để giải thích cho chi phí vận tải của các doanh nghiệp giảm nhanh hay  
chậm giữa các tỉnh trong vùng TNB là đầu tư cho việc cải tạo hệ thống GTĐT.  
Chi phí vận tải trong trong tổng chi phí kinh doanh của doanh nghiệp ở TNB vẫn giảm  
chậm và ở mức cao so với mặt bằng chung của cả nước là do các nguyên nhân sau:  
i) Vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ chỉ chiếm khoảng 33,3% tổng khối lượng vận  
chuyển ở vùng TNB. Vận tải đường bộ có tổng khối lượng vận chuyển thấp hơn so với  
vận tải đường thủy nhưng quãng đường vận chuyển bằng đường bộ dài hơn. Vận chuyển  
bằng đường thủy của vùng TNB chủ yếu trong nội vùng, vùng Đông Nam Bộ và sang  
Campuchia. Trong khi đ , vận tải đường bộ có thể vận tải hàng hóa theo trục Bắc – Nam,  
vận tải liên tỉnh.  
ii) Kết nối giữa các phương thức vận tải đang là nút thắt ảnh hưởng đến năng lực của  
cả hệ thống giao thông vận tải n n hàng h a phải bốc dỡ nhiều lần đẩy chi phí l n cao.  
Việc thiếu mạng lưới đường bộ cao tốc, khổ đường hẹp ảnh hưởng tới thời gian vận  
chuyển, chi phí vận tải của vùng TNB.  
ii) Mạng lưới các cảng, bến bãi phân tán manh mún và sự thiếu đồng bộ giữa quy mô  
bến cảng và luồng vào cảng, nhiều bến cảng thiếu hệ thống kho bãi... buộc doanh nghiệp  
phải bốc dỡ hàng nhiều lần. Tình trạng luồng tuyến giao thông nội địa không đồng cấp và  
phần lớn trang thiết bị bốc xếp hàng h a chưa được đầu tư hiện đại h a hoặc hiện đại h a  
nhưng chưa đồng bộ n n năng lực bốc dỡ hàng h a thấp. Giá cước vận tải ĐTNĐ thấp  
hơn so với vận tải đường bộ nhưng tr n nhiều tuyến vận tải, chi phí xếp dỡ chiếm tới 35 –  
40  tổng chi phí cho vận tải trọn g i.  
Những yếu kém về HTGT và chi phí vận tải cao ảnh hưởng tới môi trường kinh doanh,  
thu hút đầu tư. Vùng TNB vẫn là vùng trũng về thu hút đầu tư và phát triển doanh  
nghiệp. Cho đến năm 2015, toàn vùng TNB chỉ có 33.607 doanh nghiệp (chiếm 7,5  
tổng số doanh nghiệp cả nước), thấp hơn rất nhiều so với vùng Bắc Trung bộ và duy n  
hải miền Trung (58.223 doanh nghiệp) chứ chưa n i đến việc so sánh với vùng Đồng  
bằng Sông Hồng và vùng Đông Nam Bộ. Việc thu hút FDI vào vùng TNB đến nay vẫn  
còn khá khiếm tốn, đến ngày 31/12/2017, vùng TNB chỉ c  1.426,0 dự án (chiếm 5,7  
tổng dự án) và 20.085,0 triệu USD (chiếm 6,3 ) (Tổng cục Thống k , 2017).  
2.2.2. Những tác động trên phương diện xã hội  
Tiếp cận tới hạ tầng giao thông và đóng góp vào thay đổi phúc lợi của người dân14  
Việc tiếp cận tới HTGT của người dân vùng TNB ngày càng được cải thiện. Tỷ lệ xã  
c  đường ô tô đến trung tâm xã đã tăng từ mức 84,7  (năm 2004) l n 95,4  (năm 2014).  
Thời gian c  thể sử dụng trong năm (số tháng) của đường giao thông phản ánh về điều  
kiện, chất lượng của HTGT. Tỷ lệ thôn/ấp c  đường ô tô sử dụng được cả 12 tháng trong  
năm đạt 75,6  (năm 2014) so với mức 62,5  (năm 2002). Những chuyển biến này góp  
14 Các số liệu phần này được nh m tác giả tính toán từ Điều tra mức sống dân cư (Tổng cục Thống k ).  
101  
phần tạo thuận lợi cho các hoạt động kinh tế – xã hội của người dân theo các thời vụ  
trong năm. Tuy vậy, chất lượng đường ở các thôn/ấp của vùng TNB chưa đáp ứng được  
các yêu cầu phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, sản xuất nông nghiệp.  
Tỷ lệ thôn/ấp c  đường thuỷ là phương tiện giao thông quan trọng c  xu hướng giảm  
dần từ 67,6  (năm 2002) xuống 49,5  (năm 2014). Tương tự, tỷ lệ thôn/ấp c  đường  
thuỷ đi qua thôn/ấp cũng c  xu hướng giảm xuống. Điều này phản ánh sự phụ thuộc hay  
khai thác các lợi thế về GTĐT như là phương tiện giao thông ở nhiều thôn/ấp ở vùng  
TNB đang giảm xuống.  
Việc có HTGT mới chỉ là một khía cạnh của vấn đề, khoảng cách và thời gian từ nơi  
người dân sinh sống, làm việc tới các cơ sở hạ tầng, dịch vụ thiết yếu khác là rất quan  
trọng bởi nó ảnh hưởng tới hoạt động kinh tế và cải thiện phúc lợi. Trong vòng hơn 10  
năm (2004 – 2016), ở vùng TNB hầu như không c  sự thay đổi về khoảng cách trung  
bình từ thôn/ấp đến các cơ sở hạ tầng thiết yếu của người dân. Khoảng cách trung bình từ  
xã tới các địa điểm người dân của xã đến bán sản phẩm nông nghiệp tuy c  giảm nhưng  
vẫn ở mức khá cao (từ 5,6 km năm 2004 xuống 2,79 km năm 2014). Khoảng cách từ  
thôn/ấp đến các cơ sở hạ tầng thiết yếu thay đổi còn phụ thuộc vào sự phát triển của các  
hạ tầng khác chứ không chỉ từ phía HTGT. Vấn đề cần bàn tới là sự thuận tiện và thời  
gian để người dân đi lại. C  một số nơi, dù khoảng cách từ thôn/ấp đến trụ sở UBND xã  
vẫn như vậy nhưng tốn nhiều thời gian để đi lại mà nguy n nhân chủ yếu là việc xây  
dựng HTGT (đường bộ) chắn ngang đường đi lại của người dân.  
Tiếp cận HTGT không chỉ là tiếp cận tới hạ tầng mà còn bao gồm cả dịch vụ giao  
thông. Đối với vùng TNB, tỷ lệ thôn/ấp c  tuyến xe/ tàu/ thuyền chở khách đi qua đang  
c  xu hướng giảm xuống từ mức 73,9  (năm 2002) xuống 58,9  (năm 2014). Đối với  
giao thông đường thủy, tỷ lệ thôn/ấp c  tàu/thuyền chở khách đi qua giảm xuống do các  
cảng, bến bãi tr n các tuyến ĐTNĐ phục vụ chở hành khách ngày càng giảm xuống.  
Bảng 3: Xu hƣớng về tiếp cận hạ tầng giao thông và tỷ lệ đi học chung ở vùng  
TNB  
Tỷ lệ đi học chung  
Tỷ lệ thôn/ấp c  đường ô tô đến  
thôn/ấp sử dụng được trong cả  
Tỷ lệ xã c  đường  
ô tô đến UBND xã  
Trung học cơ  
sở  
Trung học  
phổ thông  
Năm  
năm  
59,9  
62,0  
66,0  
73,0  
75,6  
2006  
2008  
2010  
2012  
2014  
85,7  
87,7  
91,9  
94,3  
95,4  
86,8  
89,1  
83,5  
83,5  
89,2  
55,7  
58,6  
57,7  
57,1  
60,7  
Nguồn: Điều tra mức sống dân cư (Tổng cục Thống kê).  
Mức sống của người dân khá l n là do đ ng g p của nhiều yếu tố trong đ  c  những  
đ ng g p do sự thay đổi về cơ sở hạ tầng. Tỷ lệ xã có mức sống khá l n do thay đổi về cơ  
102  
sở hạ tầng, năm 2004 so với năm 1999 và năm 2014 so với năm 2009, ở vùng TNB lần  
lượt là 72,6  và 69,3 . Các số liệu này cho thấy đối với vùng TNB, tỷ lệ xã có mức  
sống khá l n do thay đổi về cơ sở hạ tầng cao hơn so với các thay đổi khác. Điều này thể  
hiện vai trò quan trọng của cơ sở hạ tầng đối với vùng TNB.  
Do vai trò quan trọng của HTGT, việc tiếp cận loại hạ tầng này c  đ ng g p vào cải  
thiện khả năng tiếp cận tới giáo dục. Trong giai đoạn 2006 – 2014, cùng với sự cải thiện  
về việc tiếp cận tới HTGT (tỷ lệ xã c  đường ô tô đến UBND xã và tỷ lệ thôn/ ấp có  
đường ô tô sử dụng được trong cả năm) việc tiếp cận tới giáo dục (tỷ lệ đi học chung ở  
bậc phổ thông) ở vùng TNB cũng c  xu hướng gia tăng (Bảng 3). Mật độ đường theo dân  
số (km/1000 dân) phản ánh mức độ phục vụ đi lại của người dân, so sánh giữa các tỉnh  
trong vùng TNB cho thấy việc tiếp cận HTGT tốt hơn c  khả năng dẫn đến tiếp cận tốt  
hơn đối với giáo dục. Vai trò của tiếp cận HTGT đối với tiếp cận giáo dục có thể là do  
tạo điều kiện cho học sinh thuận lợi trong việc đi lại hay đ ng g p vào cải thiện cải thiện  
thu nhập qua đ  thúc đẩy tiếp cận giáo dục.  
2.2.3. Tác động trên phương diện tai nạn giao thông và bảo vệ môi trường, thích ứng  
với biến đổi khí hậu  
Sự gia tăng dân số, các hoạt động kinh tế và sự gia tăng các phương tiện giao thông  
đang gia tăng áp lực lên hạ tầng giao thông. Mật độ giao thông vận tải hàng khách và  
hàng hóa trên nhiều tuyến giao thông (chẳng hạn: QL1, QL30, QL80, QL90,…) ở vùng  
TNB đang ở mức quá tải. Việc thiết kế HTGT thiếu phù hợp gây nên tình trạng thiếu an  
toàn trong khai thác, vận hành. Hơn nữa, chú trọng đầu tư vào GTĐB và xem nhẹ GTĐT  
tạo gánh nặng về vận tải đối với chính GTĐB, góp phần gây ra ùn tắc, tai nạn giao thông  
(TNGT) và ô nhiễm môi trường.  
Trong giai đoạn 2012 – 2017, TNGT ở vùng TNB c  xu hướng giảm xuống theo cả 3  
tiêu chí (số vụ TNGT, số người chết và số người bị thương), trong năm 2017, cả vùng có  
2.435 vụ TNGT và 1.701 người chết vì TNGT. Mặc dù vậy, số vụ TNGT/100.000 dân và  
số vụ TNGT/10.000 phương tiện trong giai đoạn này vẫn ở mức cao so với cả nước,  
trong năm 2017, các con số tương ứng là 23,5 vụ (cả nước là 9,08 vụ) và 3,81 vụ (Ủy ban  
ATGT quốc gia, 2017).  
Về ô nhiễm môi trường, tại một số tuyến đường giao thông ở các đô thị như Cần Thơ,  
Mỹ Tho, Long Xuy n, Cà Mau, Tân An, S c Trăng,.... nồng độ NO trung bình năm đều  
2
dưới mức cho phép, nhưng trong giai đoạn 2012 – 2016, c  xu hướng gia tăng (Bộ Tài  
nguy n và Môi trường, 2017). Thực trạng này do nhiều nguy n nhân như các phương tiện  
tham gia giao thông ngày càng tăng nhưng HTGT không đáp ứng kịp. Vấn đề đường hẹp,  
nhiều giao cắt, chất lượng đường kém, phân luồng hạn chế, luôn phải thay đổi tốc độ,  
dừng lâu gây n n lượng khí độc hại. Việc vận tải hành khách và vận tải hàng h a (theo  
chiều dài) ở vùng TNB chủ yếu là đường bộ, hay n i cách khác là dựa vào phương thức  
vận tải phát thải CO2. Các nghi n cứu đã chỉ ra vận tải đường thủy sẽ ít khí thải hơn so  
với đường bộ (Blancas và El–Hifnawi, 2014).  
Rà soát các quy hoạch phát triển giao thông và thực tiễn HTGT của các tỉnh trong  
vùng TNB cho thấy ở một số tỉnh đã lồng ghép, tính tới nhưng chưa đề cập tới cách xây  
dựng như thế nào (những giải pháp cụ thể, có tính khả thi) để thích ứng với biến đổi khí  
103  
hậu, nước biển dâng. Vùng TNB với đặc trưng là sông nước, kênh rạch; tại một số nơi  
trong vùng, việc xây dựng và cách thức xây dựng HTGT cũng như phụ thuộc vào GTĐB  
làm thay đổi dòng chảy, làm thay đổi môi trường sinh thái. Nhiều vùng đất ở Kiên Giang,  
Cà Mau, vốn là những vùng sản xuất lúa gạo, đã phải chuyển đổi mục đích sử dụng đất  
sang nuôi trồng thủy sản do đất đai bị nhiễm mặn và không được tự nhiên rửa chua, bổ  
sung dinh dưỡng cho đất.  
2.3. Thu hút và đầu tư phát triển kếu cấu hạ tầng giao thông vùng Tây Nam Bộ  
2.3.1. Thực trạng đầu tư phát triển hạ tầng giao thông  
Về đầu tư giữa các loại hạ tầng giao thông: Đồng bằng sông Cửu Long, một vùng đất  
trẻ với nhiều kênh rạch, được biết đến với những đặc trưng như nền đất yếu, mùa nước  
nổi. Việc đầu tư phát triển mạng giao thông đường bộ sẽ tốn kém, cả về chi phí đầu tư  
ban đầu và chi phí vận hành bảo dưỡng, so với phát triển mạng giao thông đường sông.  
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long là vùng trọng điểm sản xuất lương thực, thủy sản, hoa  
quả của cả nước, góp phần quan trọng vào an ninh lương thực quốc gia, đ ng g p lớn vào  
xuất khẩu nông, thủy sản của cả nước. N i cách khác, đặc điểm nền kinh tế của vùng Tây  
Nam Bộ là nền kinh tế vận tải, nhu cầu vận tải lớn và hàng hóa thuộc dạng siêu trường,  
siêu trọng nên cần loại hạ tầng phù hợp.  
Tuy nhiên, vùng Tây Nam Bộ đối mặt với thách thức cân đối giữa phát triển hạ tầng  
giao thông đường bộ với hạ tầng giao thông đường thủy nội địa để khai thác lợi thế vận  
chuyển hàng h a si u trường, siêu trọng với giá rẻ dựa trên các con sông, các con kênh  
do thiên nhiên ban tặng. Trong giai đoạn 2010 – 2016, vùng TNB đã đầu tư hoàn thành  
khoảng 46 dự án (trong đ  ri ng đường bộ là 39 dự án) với tổng mức đầu tư khoảng  
76.462 tỷ đồng, trong đ  nguồn vốn đầu tư chủ yếu tập trung cho đường bộ với 79%,  
hàng hải là 13 , hàng không là 7 , trong khi đường thủy nội địa là thế mạnh của vùng  
song chỉ chiếm 1% tổng đầu tư. Ngoài các dự án đã hoàn thành, hiện nay trong vùng  
TNB đang triển khai 20 dự án với tổng mức đầu tư khoảng 72.301 tỷ đồng, trong đ  các  
dự án giao thông đường bộ (20 dự án) chiếm tới 66.201 tỷ đồng (tương đương 92 ).  
Bảng 4: Vốn đầu tƣ hạ tầng giao thông vùng TNB chia theo ngành  
Giai đoạn 2010 – 2016  
Giai đoạn 2016 – 2020  
Chuyên  
ngành  
Vốn đầu tư  
Tỷ lệ ( )  
(tỷ đồng)  
Tổng mức đầu  
tư (tỷ đồng)  
73.033  
Vốn đầu tư  
(tỷ đồng)  
Tỷ lệ ( )  
Đường bộ  
Đường biển  
ĐTNĐ  
60.404,96  
9.940,06  
764,62  
79,0  
13,0  
1,0  
61.458  
18.006  
10.347  
1.770  
67,11  
19,66  
11,30  
1,93  
18.006  
11.827  
1.770  
Hàng không  
Tổng  
5.352,34  
76.461,98  
7,0  
100,0  
104.636  
91.581  
100,0  
Nguồn: Bộ Giao thông – Vận tải (2018b).  
Việc tập trung đầu tư cho đường bộ so với đường thủy cũng được thể hiện ở các địa  
phương trong vùng TNB. Tỉnh Long An, xét các công trình thuộc địa phương quản lý,  
104  
cho thấy hàng năm đầu tư cho giao thông đường bộ khoảng 500 tỷ đồng, trong khi đầu tư  
cho giao thông ĐTNĐ chỉ 1,2 tỷ đồng (Sở GTVT tỉnh Long An, 2018). Tình trạng cũng  
diễn ra tương tự ở Ki n Giang, đầu tư cho giao thông đường bộ chiếm tới 80,5% tổng đầu  
tư hạ tầng giao thông tr n địa bàn tỉnh (Sở GTVT tỉnh Kiên Giang, 2018).  
Hạ tầng giao thông đường bộ đang gánh chịu một áp lực và trọng tải lớn về vận  
chuyển hành khách và hàng h a. Hơn nữa, với đặc thù của vùng Tây Nam Bộ, suất đầu tư  
hạ tầng giao thông đường bộ lớn hơn 30  so với mức trung bình, để xử lý nền đất yếu;  
chi phí bảo dưỡng đường bộ cao hơn do ảnh hưởng của mùa nước nổi. Trong khi, việc  
đầu tư cho hạ tầng giao thông đường bộ ở vùng Tây Nam Bộ lại ưu ti n vào đầu tư xây  
dựng mới hơn là cho công tác bảo dưỡng (Đặng Trung Thành, 2012). Hệ quả là ảnh  
hưởng tới chất lượng hạ tầng giao thông, gây tốn kém để nâng cấp hoặc đầu tư các tuyến  
giao thông mới.  
Trong khi đầu tư cho đường thủy với tỷ lệ thấp, việc đầu tư trong lĩnh vực này chủ yếu  
là cho đầu tư mới (hệ thống biển báo, quan sát...), ít quan tâm tới duy tu và nạo vét luồng  
lạch.  
2.3.2. Sự tham gia của khu vực doanh nghiệp tư nhân trong và ngoài nước  
Giống như thực trạng của cả nước, trong giai đoạn vừa qua, đầu tư cho hạ tầng giao  
thông ở vùng TNB chủ yếu là từ nguồn ngân sách và nguồn ODA, sự tham gia của khu  
vực tư nhân còn thấp và chuyển biến chậm. Trong giai đoạn 2010 – 2016, nguồn vốn đầu  
tư chủ yếu từ trái phiếu chính phủ (47 ) và ngân sách nhà nước (19%); các nguồn vốn  
đầu tư ngoài ngân sách chiếm tỷ lệ còn thấp (chưa đến 15%) (Bảng 5).  
Bảng 5: Đầu tƣ hạ tầng giao thông vùng TNB qua các giai đoạn chia theo nguồn vốn  
Giai đoạn 2010 – 2016  
Giai đoạn 2016 – 2020  
Vốn đầu tư Tỷ lệ  
(tỷ đồng) (%)  
Vốn đầu tư  
(tỷ đồng)  
14.652,12  
36.263,69  
14.297,77  
7.282,40  
Tỷ lệ  
Nguồn vốn  
Nguồn vốn  
(%)  
19,2  
47,4  
18,7  
9,5  
NSNN  
TPCP  
ODA  
BOT  
Nguồn vốn Nhà nước:  
TTCP và NSNN  
Nguồn vốn ODA  
Nguồn vốn xã hội h a:  
BOT, BT và PPP  
Tổng  
28.012 31,0  
30.183 33,0  
33.386 36,0  
91.581 100,0  
XHH  
Tổng  
3.966,00  
5,2  
76.461,98  
100,0  
Nguồn: Bộ Giao thông – Vận tải (2018b)  
Trong thời gian qua Nhà nước chú trọng xã hội h a đầu tư và việc đầu tư vào hạ tầng  
giao thông đường bộ thuận lợi hơn về thu hồi vốn cho nhà đầu tư so với đường thủy. Đây  
là lý do nguồn vốn đầu tư vào hạ tầng giao thông đường bộ cao hơn so với đường thủy  
nội địa. Vì lý do này, trong giai đoạn tới, việc đầu tư vào hạ tầng giao thông cần phân  
định chức năng: hạ tầng giao thông đường thủy khó thu hồi vốn đầu tư nên nhà nước đầu  
tư tham gia đầu tư nhiều hơn (so với tư nhân và đầu tư của nhà nước vào đường thủy  
nhiều hơn so với đường bộ), lĩnh vực hạ tầng giao thông đường bộ có khả năng thu hồi  
105  
vốn thì khu vực tư nhân tham gia. Hơn nữa, việc thu hút vốn khu vực tư nhân đầu tư vào  
hạ tầng giao thông ĐTNĐ cũng cần vốn mồi từ phía nhà nước.  
Bảng 6: Các nguồn vốn đầu theo theo các loại hạ tầng giao thông ở vùng TNB,  
giai đoạn 2 16 – 2020  
Đường bộ  
Đường biển  
ĐTNĐ  
Hàng không  
VĐT  
(tỷ  
VĐT(tỷ Tỷ lệ VĐT(tỷ Tỷ lệ VĐT(tỷ Tỷ lệ VĐT(tỷ Tỷ lệ  
đồng)  
đồng)  
(%)  
40,7  
đồng)  
(%)  
6,1  
đồng)  
(%)  
17,1  
đồng)  
160  
(%)  
9,0  
Nhà  
nước  
24.990  
1.092  
1.770  
28.012  
38,4  
20,9  
0,0  
63,4  
19,5  
23.621  
12.847  
6.562  
2.015  
30.183  
33.386  
91.581  
ODA  
XHH  
Tổng  
93,9  
91,0  
16.914  
1.610  
61.458 100,0  
18.006 100,0  
10.347 100,0  
1.770 100,0  
Nguồn: Bộ Giao thông – Vận tải (2018b)  
Đầu tư của khu vực tư nhân chủ yếu vào hạ tầng giao thông đường bộ. Nguồn vốn  
ngoài ngân sách chủ yếu tập trung tại các dự án BOT đường bộ (10%) và các dự án đầu  
tư cơ sở hạ tầng hàng không (5%) do Tổng công ty hàng không Việt Nam và Tổng công  
ty quản lý bay đầu tư. Đối với khu vực tư nhân, sự tham gia vào lĩnh vực giao thông  
đường bộ lại chủ yếu là từ các nhà đầu tư trong nước, trong khi đ  chưa hấp dẫn các nhà  
đầu tư FDI.  
2.3.3. Những vấn đề huy động và sử dụng các nguồn lực phát triển hạ tầng giao thông  
a) Huy động vốn xây dựng hạ tầng giao thông  
Việc huy động vốn của khu vực tư nhân chủ yếu là thông qua các dự án BOT. Vấn đề  
nổi cộm nhất của các dự án BOT giao thông hiện nay là về mức thu phí, tổng mức đầu tư  
và thời gian thu phí hoàn vốn của nhiều dự án BOT. Vấn đề đặt các trạm thu phí và  
khoảng cách giữa các trạm thu phí trên các tuyến đường cũng là vấn đề nhiều bất cập  
hiện nay, điển hình như trạm thu phí BOT Cai Lạy (tỉnh Tiền Giang).  
Bên cạnh đ , không ít dự án BOT giao thông xảy ra tình trạng nguồn vốn nhà đầu tư  
bỏ ra để làm dự án với đa phần vốn đầu tư đi vay ngân hàng và vốn tự có của nhà đầu tư  
chỉ chiếm một phần rất nhỏ, nói cách khác là tình trạng “tay không bắt giặc”.15  
Xung đột giữa phát triển hạ tầng giao thông với phát triển các ngành kinh tế khác từ  
g c nhìn huy động nguồn vốn phát triển hạ tầng giao thông khi đặt các trạm thu phí dày  
đặc (để thu hồi vốn cho nhà đầu tư) ảnh hưởng tới chi phí vận tải và khả năng cạnh tranh  
của các ngành kinh tế khác; không những vậy, việc đặt trạm thu phí dày đặc còn gây nên  
tình trạng ắch tắc giao thông.  
b) Phân bổ, sử dụng vốn xây dựng hạ tầng giao thông  
15 Báo cáo số 197/BC-UBTVQH14 ngày 21/10/2017 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Kết quả giám  
sát “việc thực hiện chính sách, pháp luật về đầu tư và khai thác các công trình giao thông theo hình thức  
hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT)”.  
106  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 34 trang Thùy Anh 16940 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Hạ tầng giao thông bền vững vùng Tây Nam Bộ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfha_tang_giao_thong_ben_vung_vung_tay_nam_bo.pdf