Một số công cụ nhận diện học sinh khó khăn về nói
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN
Một số công cụ nhận diện học sinh khó khăn về nói
Ngô Thị Phương Trà
Trường Đại học Quy Nhơn
170 An Dương Vương, Quy Nhơn,
Bình Định, Việt Nam
TÓM TẮT: Bài viết giới thiệu một số công cụ nhận diện học sinh khó khăn về
nói bằng hình ảnh, ứng dụng được trên điện thoại di động. Các công cụ được
xây dựng với mục tiêu đơn giản, dễ ứng dụng, phù hợp với tâm lí lứa tuổi, kích
thích trí tò mò ở học sinh đầu cấp Tiểu học bằng những câu đố và trò chơi thú
vị. Học sinh khó khăn về nói là những học sinh có biểu hiện suy giảm về khả
năng phát âm với các dạng đặc trưng thường gặp là: Nói ngọng, nói lắp, khó
nói, chậm nói, rối loạn giọng nói, không nói được... khiến các em gặp nhiều
khó khăn trong học tập và giao tiếp hằng ngày. Các công cụ nhận diện khó
khăn về nói được dùng để kiểm tra khả năng phát âm, kiểm tra nói lắp và kiểm
tra khả năng nhận thức của học sinh. Các công cụ nhận diện này sẽ giúp giáo
viên xác định khá chính xác đối tượng học sinh khó khăn về nói. Từ đó, giáo
viên có điều kiện lên kế hoạch hỗ trợ cho đối tượng học sinh này tốt hơn trong
môi trường giáo dục hòa nhập.
Email: trantp.bd@gmail.com
TỪ KHÓA: Lời nói; khó khăn về nói; công cụ; nhận diện.
Nhận bài 16/4/2019 Nhận kết quả phản biện và chỉnh sửa 29/6/2019 Duyệt đăng 25/7/2019.
b.Các dạng khó khăn về nói thường gặp
1. Đặt vấn đề
- Không nói được (chậm nói): Là sự chậm trễ trong việc
vận dụng các cơ chế tạo âm thanh lời nói trong giao tiếp.
Trong quá trình phát triển, các em không có quá trình tập
nói, chỉ phát ra những âm vô nghĩa.
- Mất khả năng nói: Là những trẻ đã nói được nhưng
trong quá trình phát triển, do nguyên nhân nào đó dẫn tới
mất hoàn toàn hay một phần khả năng nói.
- Nói ngọng: Là phát âm sai so với chuẩn ngữ âm, các
âm thanh của lời nói không rõ ràng khiến người nghe khó
hiểu. Ảnh hưởng của các phát âm theo tiếng địa phương
nơi HS đang sống khác biệt với chính âm không được coi
là nói ngọng. Chỉ những HS phát âm sai từ 1/5 tổng số các
âm vị tiếng Việt trở lên mới nên coi là HS khó khăn về nói
và cần quan tâm đặc biệt trong hỗ trợ phát âm đúng. Nói
ngọng là dạng phổ biến nhất trong các khó khăn về lời nói.
Hiện tượng nói ngọng được thấy ở trẻ có sự bất thường về
cấu tạo cơ quan phát âm (Ví dụ: Sứt môi, khe hở vòm) và
cả ở những em bình thường về cấu tạo cơ quan phát âm.
Căn cứ vào cơ chế gây khó khăn, có thể chia thành 3 hình
Khó khăn về nói là một dạng tật khá phổ biến ở trẻ nhỏ,
đặc biệt là học sinh (HS) đầu cấp Tiểu học khi trẻ tiếp xúc
với môi trường học tập mới. Nhận diện chính xác HS khó
khăn về nói không dễ dàng. Hầu hết, giáo viên (GV) tiểu
học chỉ dựa vào kinh nghiệm cá nhân để nhận ra HS gặp
khó khăn về kĩ năng nói. Trong quá trình tổ chức các hoạt
động dạy học, khi phát hiện HS phát âm sai, GV thường
làm mẫu cho HS sửa ngay lúc đó, không có điều kiện xác
định nguyên nhân mắc lỗi, tập hợp và phân loại các nhóm
lỗi để có thể sửa lỗi cho HS một cách hiệu quả bằng việc
lên kế hoạch hỗ trợ phù hợp với các nhóm HS khó khăn về
nói khác nhau. Từ nhu cầu thực tế đó, chúng tôi đề xuất một
số công cụ đơn giản để hỗ trợ GV trong việc xác định đối
tượng HS khó khăn về nói.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Thiết kế một số công cụ nhận diện học sinh khó khăn về
nói
2.1.1. Nhận biết hiện tượng học sinh khó khăn về nói
a.Khái niệm khó khăn về nói và học sinh khó khăn về nói thức ngọng sau:
- Khó khăn về nói là sự suy giảm về khả năng phát âm
Ngọng thực thể: Là do cơ quan cấu âm có khiếm khuyết
với đặc trưng là sự thừa, thiếu hoặc biến dạng của âm thanh (liệt cơ hàm, cơ lưỡi, hãm lưỡi ngắn, khe hở môi, khe hở
tiếng nói; Sự mất lưu loát với đặc trưng là sự bất thường về vòm miệng, liệt dây thanh…).
độ trôi chảy, nhịp điệu, sự lặp đi, lặp lại các âm thanh hoặc
sự rối loạn về giọng nói với đặc trưng là sự bất thường về thần kinh, suy dinh dưỡng, giảm cơ trương lực, quá trình
cao độ, âm sắc, cường độ, trường độ, chất lượng phát âm.
phát triển của cơ thể bị trì trệ, làm cho trẻ nói ngọng hoặc
- HS khó khăn về nói là những HS có biểu hiện suy giảm chậm nói.
Ngọng sinh lí: Là do trẻ bị ốm kéo dài dẫn tới suy nhược
về: Khả năng phát âm với đặc trưng là sự thừa, thiếu hoặc
Ngọng chức năng: Không phải do tổn thương thực thể
biến dạng của âm thanh tiếng nói; Sự mất lưu loát với đặc ở cơ quan phát âm hoặc tổn thương não, mà là lỗi phát âm
trưng là sự bất thường về độ trôi chảy, nhịp điệu, sự lặp đi trong quá trình học và phát triển ngôn ngữ của trẻ.
lặp lại các âm thanh hoặc sự rối loạn về giọng nói với đặc
Trong nhà trường tiểu học, còn có những HS bị ngọng lẫn
trưng là sự bất thường về cao độ, âm sắc, cường độ, trường cả hình thức này với hình thức khác.
độ, chất lượng phát âm, khiến các em gặp nhiều khó khăn
trong học tập và giao tiếp hằng ngày.
- Nói lắp (còn gọi là nói cà lăm): Là sự rối loạn về âm
điệu, nhịp điệu, tính lưu loát của lời nói, kèm theo sự phát
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
92
Ngô Thị Phương Trà
sinh những cơn co giật, căng thẳng ở các cơ tham gia hoạt các trung tâm can thiệp cho đối tượng này đều đã trang bị
động nói.
công cụ để kiểm tra nhưng mới chỉ đơn giản là các bảng từ
thử và các thẻ từ. Người kiểm tra chủ yếu sử dụng lời nói để
kiểm tra các em. Vì vậy, khi gặp trường hợp các em không
hợp tác, việc xác định lỗi sẽ không chính xác. Để khắc phục
tình trạng này, chúng tôi tiến hành xây dựng một số công cụ
để nhận diện HS khó khăn về nói.
Ở giai đoạn hình thành ngôn ngữ (2-3 tuổi), vốn từ không
đáp ứng khả năng suy nghĩ của trẻ, gây ra hiện tượng nói
lắp. Những hiện tượng nói lắp kéo dài và chiếm tới hơn
10% số từ được nói ra sẽ được coi là trẻ khó khăn về nói.
- Nói khó: Là phát âm rất khó khăn, nước dãi chảy nhiều,
liên tục và có hiện tượng co cứng ở cơ quan phát âm (môi,
hàm, lưỡi…) có khi còn kéo theo cả sự co cứng các cơ ở
khu vực mặt hay vai, cổ và tứ chi.
2.1.2. Một số công cụ nhận biết và phân loại học sinh khó khăn
về nói
Việc xây dựng các công cụ nhận biết và phân loại HS khó
khăn về nói cần đảm bảo các nguyên tắc về tính mục đích,
tính khoa học, tính đơn giản dễ sử dụng và tính phù hợp.
Trong quá trình xây dựng các công cụ nhận diện, chúng
tôi cố gắng làm rõ mục đích: Các công cụ được xây dựng
phải xác định được HS gặp khó khăn về nói ở mức độ nào;
Lĩnh vực cụ thể của sự thiếu hụt về nói; Xây dựng được giả
thuyết về các nguyên nhân, xác định kế hoạch tác động. Để
các công cụ đi vào thực tiễn, đơn giản dễ sử dụng và phù
hợp lứa tuổi, chúng tôi đã lựa chọn trong một số lượng từ
giới hạn, tối thiểu là 14 từ để kiểm tra tối đa các kết hợp của
từ tiếng Việt. Để kết luận được chính xác mức độ phát triển
của ngôn ngữ cảm thụ và ngôn ngữ biểu đạt chúng tôi quan
tâm đến cả hai hình thức ngôn ngữ: Chủ động và bị động.
a. Công cụ kiểm tra khả năng phát âm
- Rối loạn giọng điệu: Là những trường hợp mất giọng,
giọng nói quá cao (thé), quá trầm (khàn đục), giọng nói quá
to (oang oang), giọng quá nhỏ (thều thào). Ngoài ra, sự sai
giọng còn biểu hiện ở việc nói sai cữ giọng so với đặc điểm
chung về độ tuổi và giới tính.
c.Cách nhận biết sơ bộ những học sinh có khó khăn về nói
Trong quá trình giáo dục, cần nhận biết từng dạng khó
khăn về lời nói của HS để có biện pháp rèn luyện phù hợp.
- HS chậm phát triển tiếng nói: GV thông qua quan sát,
trò chuyện với HS hằng ngày có thể dễ dàng nhận thấy trẻ
này có những biểu hiện như: Không hiểu hay hiểu rất ít khi
nghe người khác nói; Không biết nói hay nói được rất ít so
với các bạn cùng độ tuổi; Nói chuyện thiếu tự nhiên; Phát
âm sai, vốn từ nghèo nàn, nói sai ngữ pháp; Khả năng đọc
hoặc viết rất hạn chế.
HS khó khăn về nói được phân làm nhiều loại khác nhau.
Ở nhóm đối tượng HS nói ngọng, chúng ta cần kiểm tra khả
năng phát âm của HS. Tiếng Việt có 22 phụ âm đầu /b, m, f,
v, t, t’, d, n, z, ʐ, s, ş, c, ʈ, ɲ, l, k, χ, ŋ, ɣ, h, ʔ/; 2 âm đệm /w/;
16 âm chính /i, e, ε, ɤ, ɤˇ, a, ɯ, ă, u, o, ɔ, ɔˇ, εˇ, ie, ɯɤ, uo và
8 âm cuối trong đó có 6 phụ âm /m, n, ŋ, p, t, k/ và hai bán
nguyên âm /-w, -j/. Ngoài ra, còn có 06 thanh điệu (ngang,
sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng). Nếu kiểm tra tách biệt từng âm
một sẽ mất rất nhiều thời gian và công sức của HS và người
kiểm tra. Vì vậy, chúng tôi đã lựa chọn và kết hợp 48 âm
vị đó trong 14 từ, thể hiện thành bảng từ thử (xem Bảng 1).
Để kiểm tra 14 từ trên, chúng tôi thiết kế một số hình ảnh
sinh động, trực quan, có thể ứng dụng trên điện thoại di
động, để người kiểm tra dễ dàng sử dụng và tạo hứng thú
tham gia cho HS (xem Hình 1).
- HS mất khả năng nói: GV chú ý những biểu hiện như:
Thường không hiểu lời nói của những người xung quanh
(dù trước đây vẫn hiểu bình thường), không nói được hoặc
nói rất kém (dù trước đây nói được bình thường).
- HS nói ngọng: GV có thể nhận biết qua việc quan sát
hành vi giao tiếp, nói năng, qua quan sát đặc điểm cơ quan
phát âm của HS và qua sử dụng bảng từ thử. Việc quan sát,
phân tích cuối cùng cũng phải xác định HS phát âm sai bao
nhiêu âm vị, là những âm nào trong mỗi thành phần cấu tạo
của âm tiết tiếng Việt gồm: Phụ âm đầu, âm đệm, âm chính,
âm cuối và thanh điệu.
- HS nói lắp: GV có thể nhận biết qua quan sát, trò chuyện
và ghi âm để kiểm tra lại các phát ngôn của HS, xem xét tật
nói lắp ở cấp độ nào (lắp âm, lắp tiếng, lắp từ ngữ hay lắp
cả câu…) hay có những quãng cách, những chỗ ngắt, nghỉ,
giật không bình thường trong chuỗi lời nói.
- HS nói khó: GV có thể phát hiện HS nói khó dựa trên
các biểu hiện như: Phát âm rất khó khăn, thường nói câu rất
ngắn (1-2 từ) và sau một khoảng nghỉ mới nói tiếp được; Có
hiện tượng co cứng ở cơ quan phát âm (môi, hàm, lưỡi,…).
Nói khó thường gặp ở trẻ bị bại não, có khó khăn vận động
vùng cơ hàm mặt.
- HS bị rối loạn giọng điệu: GV có thể nhận biết được
qua quan sát, lắng nghe lời nói của HS và so sánh với đặc
điểm chung về giọng nói của các bạn cùng giới, cùng độ
tuổi để tìm ra.
Cách làm nêu trên chỉ để nhận biết sơ bộ những HS có
khó khăn về nói. Để xác định và phân loại chính xác HS
Hình 1: Minh họa công cụ kiểm tra
Cùng lúc đó, chúng tôi cũng kiểm tra được độ lưu loát
của lời nói, quá trình phát âm có gặp khó khăn hay không,
để xác định xem HS có thuộc loại nói khó không. Đối với
có khó khăn về nói, cần dựa trên các công cụ đánh giá, đo nhóm HS gặp vấn đề về giọng, chúng tôi tiến hành xác định
nghiệm đảm bảo tính khoa học. Các trung tâm y tế lớn và độ khàn, thé, mũi, mất giọng, yếu, đứt đoạn của giọng nói
Số 19 tháng 7/2019
93
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN
Bảng 1: Bảng từ thử
STT
1
Từ thử
Phụ âm đầu
/b/, /c/
Âm đệm
Âm chính
/u/, /i/
Âm cuối
/t/
Thanh điệu
sắc, huyền
ngang, sắc
sắc, hỏi
Bút chì
Viên phấn
Thước kẻ
Âm nhạc
Đôi dép
Nơ
/v/, /f/
2
/ie/, /ɤˇ/
/ ɯɤ/, /e/
/ɤˇ/, /a/
/o/, /ε/
/n/, /n/
/k/
3
/t’/, /k/
/ʔ/,/ɲ/
/m/, /k/
/-j/, /p/
ngang, nặng
ngang, sắc
Ngang
4
5
/d/, /z/
/n/
6
/ ɤ/
Màu xanh lá cây
Quả khế
Trái đất
/m/, /s/, /l/, /k/
/k/, /χ/
/ʈ/, /d/
/a/, /εˇ/, /a/, /ɤˇ/
/a/, /e/
/-w/, / ŋ/, /-j/
huyền, ngang, sắc, ngang
hỏi, sắc
7
8
/ w/
/a/, / ɤˇ/
/ɔ/, /ɔˇ/
/ ă/, /uo/
/ɯ/, /ɯ/
/ɯɤ/, /o/
/a/, /ê/
/-j/, /t/
/n/, /k/
/m/, /k/
sắc, sắc
9
Con sóc
Mắm ruốc
Sư tử
ngang, sắc
sắc, sắc
10
11
12
13
14
/k/, /ş/
/m/, /ʐ,/
/ş/, /t/
ngang, hỏi
nặng, ngã
Ngựa gỗ
Hoa huệ
/ ŋ/, / ɣ/
/h/, /h/
/w/,/w/
ngang, nặng
ngay trong quá trình kiểm tra khả năng phát âm của trẻ.
b. Công cụ kiểm tra tật nói lắp
1.6. Biểu hiện khác
2. Tình huống nói lắp
Song song cùng với quá trình kiểm tra việc phát âm các
phụ âm, nguyên âm, thanh điệu ở HS, chúng ta cũng tiến
hành đo được HS có mắc tật nói lắp hay không. Ở 14 từ thử,
chúng tôi cố gắng lựa chọn đa dạng các loại từ: Từ đơn, từ
ghép (hai thành tố, bốn thành tố); tạo điều kiện kiểm tra
xem HS có bị nói lắp không. Bởi vì, có trường hợp nói lắp
từ ghép mà không nói lắp từ đơn và có nhiều dạng nói lắp
khác nhau. Trong quá trình kiểm tra, ở mục 3, kiểm tra độ
lưu loát của giọng, nếu phát hiện HS nói lắp ta sẽ sử dụng
bảng kiểm tra mức độ nói lắp (xem Bảng 2) ở HS để xác
định rõ hơn kiểu nói lắp, mức độ nói lắp, cũng như tình
huống xuất hiện tình trạng nói lắp.
2.1. Nói trước cả lớp
2.2. Trả lời câu hỏi của cô giáo
2.3. Nói với bạn
2.4. Nói chuyện với người lạ
2.5. Có sự giận dữ
2.6. Có sự thất vọng, buồn chán
2.7. Có cảm giác sợ hãi
2.8. Có cảm giác xấu hổ hoặc thiếu tự tin
2.9. Tình huống khác
Bảng 2: Bảng kiểm tra mức độ nói lắp
3. Kiểu nói lắp của trẻ
Biểu hiện
Có
Không Ghi chú
3.1. Lặp lại âm (Ví dụ: c-c-con ch-ch-
chào c-c-cô…)
1. Quan sát chung
3.2. Lặp lại tiếng, từ (Ví dụ: con con con
chào….)
1.1. Trẻ không ngại trình bày ý kiến
1.2. HS thường né tránh trình bày (không
xung phong trừ khi được yêu cầu)
3.3. Lặp lại một ngữ hoặc cấu trúc (Ví
dụ: Thế là, vậy là, thế thì là…)
1.3. Ít nói nhưng không thể hiện sự thất
vọng trong học tập
3.4. Đang nói thì tắc nghẽn, không phát
ra tiếng
1.4. Ít nói và thể hiện sự thất vọng trong
học tập
3.5. Kiểu khác
4. Mức độ nói lắp
1.5. Tích cực tham gia vào các hoạt
động học tập
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
94
Ngô Thị Phương Trà
kiểm tra khả năng phát âm (xem Bảng 3).
4.1. Mất lưu loát dưới 10% số từ được
nói ra.
Lưu ý: Nếu HS không trả lời được, GV ghi kí hiệu “K”;
nếu HS trả lời đúng, GV đánh dấu “+” vào ô “Lần 1” và ô
“Đúng” sau đó ngừng lại không tiếp tục các bước tiếp theo;
nếu HS trả lời đúng nhưng phát âm sai, GV đánh dấu “-“
vào ô “Lần 1” và ghi chính xác cách phát âm của HS ở ô
“Không đúng (Phát âm thành âm gì)”.
Quy trình kiểm tra được thực hiện thông qua ba bước sau
đây:
Bước 1:
4.2. Mất lưu loát từ 10 % - 30% số từ
được nói ra nhưng không có sự tắc
nghẽn, nuốt âm.
4.3. Mất lưu loát trên 30%, có sự tắc
nghẽn trong khoảnh khắc rồi lại tiếp tục
nói được.
4.4. Có sự tắc nghẽn, dừng nói và căng
cứng, rung giật ở cơ quan phát âm.
- GV: Đưa ra câu hỏi, phần nhiều được chuyển thành các
câu đố đơn giản giúp tạo hứng thú, kích thích trí tò mò của
HS (xem Hình 2).
c. Công cụ kiểm tra khả năng nhận thức
Trong quá trình kiểm tra khả năng phát âm, chúng tôi
cũng kết hợp kiểm tra khả năng nhận thức của HS. Không
chỉ nhằm mục đích tạo hứng thú, kích thích trí tò mò ở HS
mà thông qua việc kiểm tra được thiết kế như một trò chơi
sẽ giúp chúng tôi bước đầu xác định HS có bị chậm phát
triển trí tuệ hay tự kỉ. Chúng tôi sử dụng các câu đố dân
gian hoặc các hình ảnh minh họa để HS đoán ra từ được
nhắc đến. Bằng việc chỉ ra những đặc điểm nổi bật của một
sự vật - hiện tượng, HS có thể phán đoán, liên tưởng về sự
vật, hiện tượng đó. Đây là cách dạy con trẻ quan sát và liên
tưởng thú vị nhất mà ông cha ta đã truyền đạt lại cho thế hệ
sau. Thông qua quá trình này, ta có thể xác định được HS
có gặp khó khăn về nhận thức, có thuộc nhóm HS chậm nói
hay mất khả năng nói không.
Hình 2: Minh họa bước 1
- HS: Quan sát, lắng nghe và tìm câu trả lời.
- GV: Điền thông tin vào ô “Lần 1” trong bảng 3 với 3
phương án sau:
Phương án 1: Nếu HS không trả lời được, GV ghi kí hiệu
“K” vào ô “Lần 1”;
2.2. Quy trình thực hiện
Phương án 2: Nếu HS trả lời đúng, phát âm đúng, GV
Kết quả kiểm tra sẽ được GV thể hiện cụ thể trên phiếu đánh dấu “+” vào ô “Lần 1” và ô “Đúng” sau đó ngừng lại
Bảng 3: Phiếu kiểm tra khả năng phát âm
STT Từ thử
Lần 1 Lần 2 Lần 3 Đúng Không đúng (Phát âm thành âm gì)
1
Bút chì
2
Viên phấn
Thước kẻ
Âm nhạc
Đôi dép
3
4
5
6
Cái nơ
7
Màu xanh lá cây
Quả khế
Trái đất
8
9
10
11
12
13
14
Con sóc
Mắm ruốc
Sư tử
Ngựa gỗ
Hoa huệ
Số 19 tháng 7/2019
95
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN
không tiếp tục các bước tiếp theo;
không hợp tác. Người kiểm tra, dựa trên kết quả thu được
Phương án 3: Nếu HS trả lời đúng nhưng phát âm sai, GV sẽ xác định xem HS không phát âm đúng âm nào và ghi lại
đánh dấu “-” vào ô “Lần 1” và ghi chính xác cách phát âm
của HS ở ô “Không đúng (Phát âm thành âm gì)”.
Bước 2:
chính xác âm mà HS phát ra vào phiếu kiểm tra khả năng
phát âm.
Trong quá trình thực hiện ba bước này, ngoài việc đánh
giá khả năng phát âm của HS. Chúng tôi cũng kết hợp kiểm
tra giọng điệu, độ lưu loát của lời nói dựa vào các câu trả
lời của HS.
- GV: Chiếu hình ảnh tương ứng với từ (xem Hình 3).
Sau khi kiểm tra được khả năng phát âm, giọng, độ lưu
loát của lời nói. Nếu nhận thấy HS gặp vấn đề ở một trong
các mục trên, chúng tôi mới tiến hành kiểm tra đặc điểm cơ
quan phát âm. Bằng việc phối hợp giữa phương pháp quan
sát và sử dụng các công cụ hỗ trợ tự thiết kế.
Ví dụ: Kiểm tra vấn đề hô hấp, chúng tôi thiết kế năm loại
chai nhựa chứa hạt xốp, có gắn ống thổi từ nhẹ đến mạnh,
với năm mức độ khác nhau và tổ chức trò chơi thi thổi hạt
xốp.
Về nhận thức của HS và khả năng giao tiếp:Trong quá
trình kiểm tra khả năng phát âm, chúng ta cũng phần nào
xác định được HS có gặp vấn đề về nhận thức và khả năng
giao tiếp hay không. Kết thúc quá trình này, chúng ta có thể
bước đầu kết luận HS có gặp khó khăn về nói hay không,
thuộc nhóm nào, có cần yêu cầu sự can thiệp của y tế hay
không. Từ đó, GV tiểu học có thể lên phương án giúp các
em vượt qua khó khăn của mình ngay trong chính quá trình
học tập trên lớp, đạt được mục tiêu của giáo dục hòa nhập
cho HS khó khăn về nói.
Hình 3: Minh họa bước 2
- HS: Nhìn hình trả lời.
- GV: Điền thông tin vào ô “Lần 2” trong Bảng 3 (tương
tự bước 1).
Bước 3:
- GV: Chiếu từ để kiểm tra tương ứng với hình ảnh và yêu
cầu HS phát âm. Nếu HS chưa biết đọc, GV phát âm cho
HS lặp lại (xem Hình 4).
3. Kết luận
Giáo dục ngôn ngữ là một nội dung quan trọng của
chương trình giáo dục hoà nhập. Việc thực hiện tốt nhiệm
vụ giáo dục này là cơ sở để thực hiện các nhiệm vụ giáo dục
khác nhằm đạt được mục tiêu phục hồi chức năng chung
cho HS. Về bản chất, nhiệm vụ giáo dục ngôn ngữ cho HS
là dạy HS nói đúng tiếng mẹ đẻ, biết vận dụng đúng những
quy tắc ngữ pháp thông thường vào ngôn ngữ giao tiếp, có
vốn từ phù hợp với hoàn cảnh sinh sống và mức độ phát
triển trí tuệ của HS. Việc phát âm đúng tiếng mẹ đẻ, nói
đúng ngữ pháp thông dụng và có vốn từ phong phú sẽ giúp
HS diễn đạt được nhu cầu, nguyện vọng và tình cảm của
mình, đồng thời tạo điều kiện để HS vào đời tiếp thu tốt
những kiến thức trong đời sống xã hội.
Hình 4: Minh họa bước 3
- HS: Nói to từ xuất hiện hoặc lặp lại theo hướng dẫn của
GV.
Muốn hoàn thành nhiệm vụ giáo dục ngôn ngữ, không
thể không nắm được tình trạng ngôn ngữ của HS khi mới
vào trường và diễn biến của quá trình phát triển tiếng nói
của HS trong thời gian HS học tập và vui chơi. Chính vì
vậy, cần thiết phải tiến hành kiểm tra ngôn ngữ của HS khi
mới đến trường, sau đó tiến hành kiểm tra theo dõi sau mỗi
học kì, mỗi năm học. Các công cụ được xây dựng với mục
tiêu dễ ứng dụng, phù hợp với tâm lí lứa tuổi, kích thích trí
tò mò ở HS đầu cấp Tiểu học sẽ giúp GV xác định chính
xác đối tượng HS khó khăn về nói. Từ đó, có điều kiện lên
kế hoạch hỗ trợ cho đối tượng HS này tốt hơn trong môi
- GV: Điền thông tin vào ô “Lần 3” trong bảng 3 với 3
phương án sau:
Phương án 1: Nếu HS không đọc được từ “quả khế”, GV
ghi kí hiệu “K” vào ô “Lần 3”;
Phương án 2: Nếu HS trả lời đúng, phát âm đúng, GV
đánh dấu “+” vào ô “Lần 3” và ô “Đúng”;
Phương án 3: Nếu HS đọc được nhưng phát âm sai, GV
đánh dấu “-“ vào ô “Lần 3” và tổng hợp ghi chính xác cách
phát âm của HS ở ô “Không đúng (Phát âm thành âm gì)”.
Bước 3 giúp HS làm quen với chữ cái, giúp xác định HS
nào đã biết đọc và chưa biết đọc. Với ba bước của quy trình,
chúng ta sẽ được nghe HS phát âm từ cần kiểm tra 3 lần, mà trường giáo dục hòa nhập.
không cần yêu cầu HS lặp lại sẽ gây nhàm chán, khiến HS
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
96
Ngô Thị Phương Trà
Tài liệu tham khảo
[1] Vũ Thị Bích Hạnh - Đặng Thái Thu Hương, (2004),
Hướng dẫn thực hành âm ngữ trị liệu, NXB Y học, Hà
Nội.
[2] Nguyễn Thị Kim Hiền, (2008), Xây dựng quy trình khắc
phục rối loạn ngôn ngữ cho học sinh khuyết tật ngôn ngữ
cấp Tiểu học, đề tài của Viện Khoa học Giáo dục Việt
Nam.
[4] Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, Trung tâm Giáo dục
trẻ có tật, (1991), Nội dung, phương pháp giáo dục và sửa
tật ngôn ngữ cho trẻ khuyết tật dựa vào cộng đồng, Hà
Nội.
[5] Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, Trung tâm Giáo dục
trẻ có tật, (1993), Nội dung phương pháp giáo dục trẻ tật
ngôn ngữ, (Tài liệu huấn luyện giáo viên), Hà Nội.
[3] Đoàn Thiện Thuật, (2003), Ngữ âm tiếng Việt, NXB Đại
học Quốc gia Hà Nội.
DETECTION AND RECOGNITION TOOLS OF SPEECH DIFFICULTY
FOR PUPILS WITH IMPAIRMENT
Ngo Thi Phuong Tra
Quy Nhon University
ABSTRACT: Content of speech impairment and students with speech impairment
have been mentioned, along with some common types of speech difficulty
and methods to recognize them. Several detection and recognition tools of
speech impairment are investigated in this work. All of them come with mobile
phone applications to get familiar with students, right for age psychology, and
to stimulate curiosity in elementary school students with series of interesting
puzzles and games. The detection and recognition tools of speech impairment
are used to test the ability of pronouncing, stuttering and cognitive abilities.
Therefore, these tools would help teachers to accurately identify students that
might get speech difficulty. Consequently, teachers could make an appropriate
plan to support student with impairment in an inclusive education environment.
The implementation process is described in detail.
170 An Duong Vuong, Quy Nhon,
Binh Dinh, Vietnam
Email: trantp.bd@gmail.com
KEYWORDS: Speech; speech difficulty; tool; detection and recognition.
Số 19 tháng 7/2019
97
Bạn đang xem tài liệu "Một số công cụ nhận diện học sinh khó khăn về nói", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
mot_so_cong_cu_nhan_dien_hoc_sinh_kho_khan_ve_noi.pdf

