Phát triển tư duy phê phán cho sinh viên thông qua dạy học phần Tâm lí học đại cương

Nguyễn Chí Tăng, Phạm Văn Hiếu  
Phát triển tư duy phê phán cho sinh viên  
thông qua dạy học phần Tâm lí học đại cương  
Nguyễn Chí Tăng1, Phạm Văn Hiếu2  
TÓM TẮT: Tư duy phê phán có vai trò hết sức quan trọng và cần thiết đối với  
1 Email: chitang_sp@yahoo.com.vn  
2 Email: hieupv12[email protected]  
Trường Cao đẳng Sư phạm Bà Rịa - Vũng Tàu  
689 Cách Mạng Tháng Tám, thành phố Bà Rịa,  
tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Việt Nam  
mỗi người nói chung và người học nói riêng. Tuy nhiên, những nghiên cứu về  
sự hình thành và phát triển tư duy phê phán cho học sinh, sinh viên trong quá  
trình dạy học vẫn còn hạn chế. Trong bài viết này, tác giả phân tích và làm  
sáng tỏ một số vấn đề lí luận cơ bản về tư duy phê phán (Khái niệm tư duy phê  
phán; Một số kĩ năng để phát triển tư duy phê phán; Một số dấu hiệu chứng tỏ  
sinh viên có tư duy phê phán), đồng thời đưa ra mô hình thiết kế bài dạy trong  
học phần Tâm lí học đại cương nhằm phát triển tư duy phê phán cho sinh viên.  
TỪ KHÓA: Phát triển tư duy phê phán; tư duy phê phán; Tâm lí học đại cương.  
Nhận bài 15/8/2019 Nhận kết quả phản biện và chỉnh sửa 20/9/2019 Duyệt đăng 25/10/2019.  
pháp giảng dạy học phần Tâm lí học (TLH) đại cương nhằm  
phát triển TDPP cho sinh viên (SV).  
1. Đặt vấn đề  
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về Đổi mới  
căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 29-  
NQ/TW) của Đảng đã nêu rõ: “Đổi mới căn bản, toàn diện  
giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi,  
cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội  
dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm  
thực hiện”. “Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ  
yếu theo số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả,  
đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng”. Để quán triệt quan  
điểm này, Đảng ta cũng đã đề ra nhiệm vụ, giải pháp rất cụ  
thể, đó là: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và  
học theo hướng hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ động,  
sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng (KN) của người  
học, khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ  
máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích  
tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri  
thức, KN, phát triển năng lực”. Như vậy, đổi mới phương  
pháp dạy học (PPDH) là một yêu cầu bức thiết cần được coi  
trọng trong mọi nhà trường, trong hoạt động của mỗi giáo  
viên (GV).  
Thực tiễn việc đổi mới PPDH trong nhà trường hiện nay  
đã được triển khai, GV tích cực hưởng ứng nhưng hiệu quả  
chưa được như mong muốn. Có không ít GV vẫn truyền thụ  
kiến thức theo lối truyền thống, một chiều, học sinh lĩnh hội  
tri thức thụ động. Đổi mới PPDH không chỉ vận dụng được  
PPDH hiện đại vào trong nhà trường mà điều cơ bản là  
giúp người học tham gia hoạt động nhận thức tích cực, độc  
lập sáng tạo và biết cách học. Trong quá trình dạy học, GV  
phải chú ý đến các phương pháp phát triển tư duy cho học  
sinh, đặc biệt là những tư duy bậc cao như tư duy phê phán  
(TDPP). Đây là một việc làm không hề dễ dàng, đòi hỏi  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Cơ sở lí luận về tư duy phê phán  
a. Khái niệm TDPP  
Theo R. Ennis (1987), TDPP là: “Sự suy niệm hợp lí tập  
trung vào việc quyết định nên tin điều gì hay làm điều gì”.  
Một người có TDPP thường: 1/ Đánh giá độ tin cậy của các  
nguồn thông tin; 2/ Xác định kết quả, nguyên nhân và giả  
thiết; 3/ Đánh giá chất lượng của các luận chứng, bao gồm  
cả sự thừa nhận nguyên nhân, giả thiết và bằng chứng; 4/  
Phát triển và bảo vệ quan điểm về vấn đề; 5/ Đặt những câu  
hỏi làm rõ thích hợp; 6/ Lập kế hoạch thực nghiệm và xem  
xét đề cương thực nghiệm; 7/ Xác định các điều khoản phù  
hợp với ngữ cảnh; 8/ Công bằng, khách quan, không thiên  
vị; 9/ Cố gắng thu thập đầy đủ thông tin; 10/ Rút ra kết luận  
khi đã được chứng thực, nhưng với sự thận trọng [1, tr.180].  
Paul và Scriven cho rằng: TDPP là một tiến trình tư duy  
tích cực và thành thạo trong việc khái niệm hóa, phân tích,  
tổng hợp, và đánh giá những tin tức thu nhận được từ sự  
quan sát hay do kinh nghiệm, suy niệm, lí luận, hay giao  
tiếp (với các nguồn tin khác) để hướng dẫn hành động và sự  
tin tưởng. Richard Paul và Linda Elder đề ra một cấu trúc  
cơ bản vẫn thường được gọi chung là cấu trúc Paul-Elder,  
cho việc giảng dạy và đào tạo KN TDPP, gồm ba phần: 1/  
Phân tích tư duy; 2/ Đánh giá tư duy; 3/ Cải thiện tư duy [2].  
Eichhorn (2014) đưa ra định nghĩa: TDPP là một sự tư  
duy có kỉ luật, tự định hướng, phản ánh một trình độ cao  
về KN và khả năng tư duy - tư duy về sự tư duy của chính  
mình trong lúc suy tư để làm cho sự tư duy của mình trở  
nên tốt hơn [3].  
Phan Thị Luyến đã công bố một số công trình nghiên  
phải có những nghiên cứu, tìm tòi, ứng dụng và chia sꢀ kinh cứu của mình về đề tài này và tác giả đã đưa ra định nghĩa:  
nghiệm cùng đồng nghiệp. Xuất phát từ những lí do trên, “TDPP là tư duy có suy xét, cân nhắc, đánh giá và liên hệ  
trong bài viết này, chúng tôi trình bày việc đổi mới phương mọi khía cạnh của các nguồn thông tin với thái độ hoài  
Số 22 tháng 10/2019  
13  
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
nghi tích cực, dựa trên những tiêu chuẩn nhất định để tìm  
ra những thông tin phù hợp nhất nhằm giải quyết các vấn  
đề đặt ra” [4].  
- Lựa chọn thời điểm để quan sát bởi vì hoạt động quan  
sát chỉ thực hiện được trong thời gian, không gian và giai  
đoạn diễn tiến nhất định nào đó của sự kiện. Quan sát nên  
kết hợp với các phương pháp khác để đảm bảo độ tin cậy và  
cơ sở pháp lí cho thông tin đã thu thập.  
Từ việc nghiên cứu, tìm hiểu các khái niệm về TDPP trên  
đây, chúng tôi nhận thấy, các tác giả đã đề cập tới tính tích  
cực, kỉ luật, sự tin tưởng và hoài nghi, sự suy xét, cân nhắc,  
phân tích, tổng hợp và đánh giá trong khái niệm. Tiếp thu  
những tư tưởng trên, chúng tôi đưa ra khái niệm về TDPP  
như sau làm khái niệm công cụ trong bài viết của mình:  
TDPP là cách nghĩ và lập luận logic tích cực, có kỉ luật sử  
dụng các thao tác trí tuệ vào việc phân tích, tổng hợp, đánh  
giá sự việc, xu hướng, ý tưởng, giả thuyết… từ sự quan sát,  
kinh nghiệm, chứng cứ, thông tin, sự suy xét, lí lẽ nhằm  
mục đích nhận thức đúng, chính xác và khoa học về sự  
vật và hiện tượng (đúng - sai, tốt - xấu, hay - dở, hợp lí -  
không hợp lí, nên - không nên, cần - không cần, cách duy  
nhất - nhiều cách …) và rút ra quyết định, cách ứng xử của  
cá nhân, nhờ đó cá nhân đưa ra quyết định phù hợp để giải  
quyết vấn đề tốt nhất.  
Các bước quan sát thu thập thông tin:  
- Bước thứ nhất: Phải xác định được một cách sơ bộ  
khách thể của quan sát, cần chỉ ra những đặc trưng, các tình  
huống và những điều kiện hoạt động của đối tượng quan sát  
và những biến đổi của chúng.  
- Bước thứ hai: Phải xác định được thời gian quan sát, địa  
điểm và thời điểm để thực hiện quan sát, thời gian và cách  
thức tiếp cận với đối tượng.  
- Bước thứ ba: Lựa chọn cách thức quan sát. Căn cứ vào  
nội dung quan sát, căn cứ vào từng đối tượng quan sát cụ  
thể và từng loại quan sát mà lựa chọn cho phương pháp cho  
phù hợp để thu thập thông tin.  
- Bước thứ tư: Tiến trình quan sát thu thập thông tin.  
- Bước thứ năm: Thực hiện việc ghi chép thông tin từ  
quan sát.  
b. Một số KN để phát triển TDPP  
• KN quan sát: KN quan sát là cách nhìn nhận hiện  
tượng, sự vật một cách chi tiết, có phân tích và phục vụ  
cho mục đích rõ ràng. Khác với quan sát thông thường, KN  
quan sát không nhìn mọi thứ một cách ngẫu nhiên, mà quan  
sát có chủ đích, rồi ghi nhớ, xâu chuỗi những điều liên quan  
để vận dụng giải quyết vấn đề một cách tối ưu và nhanh  
chóng. Trong bất kì lĩnh vực nào đều đòi hỏi con người  
phải có KN quan sát. Để rèn luyện KN TDPP cho SV, rất  
cần tới KN quan sát, vì nó giúp SV nhận ra bản chất vấn đề  
nhanh chóng, từ đó có nhận thức chính xác, khoa học, đưa  
ra những phương pháp, ý tưởng thích hợp nhất. Quan sát là  
một KN bởi nó không đơn thuần phụ thuộc vào thị giác mà  
nó còn có thể rèn luyện để phát triển hơn nữa. Và rèn luyện  
các KN mềm trong đó có KN quan sát sẽ giúp ích rất nhiều  
cho sự phát triển của bản thân.  
- Bước thứ sáu: Tiến hành kiểm tra.  
• KN thu thập thông tin: KN thu thập thông tin là biết  
thu thập thông tin có trọng tâm, bảo đảm thu thập các thông  
tin cần thiết, khắc phục tình trạng thu thập thông tin dàn  
trải, thiếu các thông tin cần thiết.  
- Xác định nhu cầu bảo đảm thông tin: Mỗi SV có nhu  
cầu khác nhau đối với vấn đề bảo đảm thông tin cho hoạt  
động học tập, nghiên cứu của mình. Khi xác định nhu cầu  
bảo đảm thông tin, cần phải trả lời đầy đủ các câu hỏi: Vấn  
đề đang giải quyết cần có những thông tin nào? Thông tin  
hiện có còn thiếu những nội dung gì? Những thông tin quan  
trọng nhất để xử lí vấn đề?  
- Xác định các kênh và nguồn thông tin: Trên cơ sở xác  
định nhu cầu thông tin, việc xác định kênh và nguồn thu  
thập thông tin là bước tiếp theo của quá trình thu thập thông  
tin. Ở đây, chủ thể thu thập thông tin cần xác định rõ thông  
tin sẽ thu thập từ nguồn nào. Nguồn thông tin trên thực tế  
có thể phân loại theo những cách tiếp cận khác nhau nhưng  
tổng thể có thể được chia thành thông tin thứ cấp và sơ cấp.  
- Thiết lập hình thức và chế độ thu thập thông tin: Đọc  
và ghi chép: Việc thu thập thông tin thứ cấp gắn liền với  
việc đọc và ghi chép tài liệu. Khi thu thập thông tin qua  
nguồn thứ cấp cần chú ý kĩ thuật đọc và ghi chép, sao chụp  
một phần hoặc toàn bộ văn bản, tài liệu. Việc sao chụp văn  
bản, tài liệu cần được lựa chọn khoa học, xác định đúng nội  
dung cần sao chụp để thuận lợi trong quá trình xử lí, tránh  
sự quá tải về khối lượng tài liệu sao chụp; Thảo luận nhóm  
Cách quan sát để đạt hiệu quả cao:  
- Quan sát để tìm ra ý nghĩa: Quan sát không chỉ là mô tả  
lại những gì nhìn thấy mà phải đi liền với sự phân tích, bình  
giá để tìm ra ý nghĩa, giá trị của chi tiết, sự kiện.  
- Quan sát phải có suy luận, phán đoán: Quan sát không  
có nghĩa chỉ là nhìn, trông mà là thấy được sự vật, hiện  
tượng. Quan sát khác với hoạt động nhìn, trông vì quan sát  
có sự tham gia của hoạt động tư duy như: phân tích, tổng  
hợp, suy luận, phán đoán…  
- Quan sát trong sự so sánh: So sánh những gì quan sát  
được ở sự vật, hiện tượng này với sự vật, hiện tượng khác  
hoặc so sánh với bản thân chúng trong các thời điểm, hoàn  
cảnh, giai đoạn… khác nhau để làm nổi bật nên những nét để thu thập thông tin; Thống kê số liệu, tính tỉ lệ, tính xác  
đặc sắc của chúng. Chính sự so sánh, đối chiếu này làm cho suất; Quan sát, so sánh và đối chiếu thông tin thu thập được  
sự quan sát có chiều sâu hơn.  
có từ nhiều nguồn khác nhau, phân loại, so sánh, phân tích  
- Huy động các giác quan trong quan sát và thận trọng trình tự, nguyên nhân tác động, mô hình. Khi phân loại,  
khi kết luận: Quan sát phải có sự tập trung, chú ý cao độ. so sánh, phân tích trình tự, nguyên nhân tác động, mô hình  
Khi quan sát cần sử dụng các giác quan để nhận biết các cần chú ý: Nguồn thông tin bắt nguồn từ đâu? Thông tin có  
đặc điểm, tính chất rất đa dạng của các sự vật, hiện tượng. phản ánh về cùng một đối tượng hoặc về các đối tượng có  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
14  
Nguyễn Chí Tăng, Phạm Văn Hiếu  
đặc điểm tương đồng nhau không? Thông tin được thu thập  
Khi dạy bài tưởng tượng, giảng viên nêu vấn đề: Hãy nêu  
bằng kĩ thuật nào? Mức độ đáng tin cậy của các kĩ thuật thu quan điểm của bản thân về ý kiến của Gorki cho rằng, bản  
thập thông tin?  
chất của tưởng tượng cũng là tư duy mà thôi, nhưng là loại  
tư duy chủ yếu bằng hình ảnh. Để đưa ra được quan điểm  
của bản thân về ý kiến của Gorki như đã nêu thì SV phải  
có KN thu thập thông tin (thu thập thông tin thứ cấp) qua  
đọc, nghiên cứu giáo trình, tài liệu, sách báo có liên quan,  
truy cập nguồn thông tin đáng tin cậy trên mạng internet.  
Khi đã thu thập được thông tìn thì cần KN xử lí thông tin.  
Thông tin được xử lí tốt sẽ là cơ sở để giải quyết vấn đề có  
hiệu quả.  
• KN xử lí thông tin: KN xử lí thông tin là biết xử lí  
thông tin chính xác, khoa học đạt hiệu cao đối với hoạt  
động của cá nhân.  
- KN xử lí thông tin tức thời: Trong học tập, có trường hợp  
trước những thông tin vừa thu nhập được, SV phải đưa ra  
những câu trả lời, những quyết định và biện pháp giải quyết  
cụ thể, ngay tại thời điểm tiếp nhận thông tin mà không có  
thời gian để nghiên cứu, xử lí. Đối với trường hợp này, việc  
xử lí thông tin cần phải được thực hiện chủ động, tích cực  
để có thể đưa ra quyết định đúng đắn.  
- KN xử lí thông tin theo quy trình: Tập hợp và hệ thống  
hoá thông tin theo từng vấn đề, lĩnh vực; Phân tích và kiểm  
tra độ chính xác của các thông tin, tính hợp lí của các tài  
liệu, số liệu; Cung cấp, phổ biến thông tin; Bảo quản, lưu  
trữ thông tin.  
- Ứng dụng công nghệ thông tin trong xử lí thông tin.  
• KN ra quyết định, lập kế hoạch và giải quyết vấn đề:  
KN giải quyết vấn đề và ra quyết định là một trong những  
yếu tố quan trọng để đạt được thành công mà bất kì ai cũng  
cần phải biết. KN ra quyết định là một quá trình lựa chọn  
có ý thức giữa hai hoặc nhiều phương án để chọn ra một  
phương án. Dưới đây là 6 bước để giải quyết vấn đề:  
Bước 1: Phát hiện vấn đề, phân tích thông tin, sơ bộ đề  
ra nhiệm vụ.  
c. Một số dấu hiệu chứng tỏ SV có TDPP  
Để đánh giá TDPP của một người không phải là dễ, vì thế  
cần phải chỉ ra được những dấu hiệu rất cụ thể, đó là:  
- Quan sát nhiều khía cạnh toàn diện chứ không chỉ quan  
sát bề ngoài, phối hợp được các giác quan tiến tới phản ánh  
được bản chất vấn đề;  
- Không tiếp thu thụ động, luôn nghi ngờ và đi chứng  
minh độ tin cậy;  
- Không bằng lòng với những gì đã được nhận thức mà  
luôn tò mò tìm hiểu và đặt câu hỏi, đồng thời chủ động tìm  
câu trả lời cho thích đáng;  
- Biết xâu chuỗi vấn đề một cách logic;  
- Xem xét rất kĩ vấn đề trước khi đưa ra quyết định;  
- Nhận thức khách quan, khoa học không cảm tính;  
- KN đưa ra quyết định tốt: Phát hiện vấn đề, nguyên  
nhân, giải pháp và thực hiện hoàn chỉnh.  
Bước 2: Tìm ra nguyên nhân.  
Bước 3: Đề ra giải pháp.  
Bước 4: Chọn ra hướng giải quyết tối ưu (bước ra quyết  
định).  
Bước 5: Lập kế hoạch và tiến hành giải quyết vấn đề.  
Bước 6: Quan sát và đánh giá chất lượng.  
Ví dụ minh họa: Dạy chương IV - Hoạt động nhận  
thức  
Khi dạy bài cảm giác tri giác, để giúp SV hiểu rõ khái  
niệm cảm giác, đặc điểm của cảm giác, hầu hết giảng viên  
khi dạy đều tiến hành một thí nghiệm đơn giản chứ không  
2.2. Thiết kế bài dạy trong học phần Tâm lí học đại cương  
nhằm phát triển tư duy phê phán cho sinh viên  
Về cấu trúc bài dạy, giống như một giờ dạy thông thường  
gồm có: 1/ Mục tiêu bài dạy (về kiến thức, về KN, về thái  
độ); 2/ Phương pháp, phương tiện dạy học (phương pháp,  
phương tiện); 3/ Chuẩn bị (giáo viên, SV). 4/ Tiến trình lên  
lớp (Ổn định tổ chức; Khái quát kiến thức, KN đã học có  
liên quan đến bài học và đặt vấn đề vào bài mới; Giảng bài;  
Củng cố bài học; Giao nhiệm vụ về nhà).  
Để phát triển TDPP cho SV, cần vận dụng các PPDH  
chỉ dùng thuyết trình, chꢁng hạn thí nghiệm như sau: Giảng truyền thống kết hợp với PPDH hiện đại để xây dựng chi  
viên gọi một SV lên tham gia thí nghiệm, yêu cầu SV ở tiết hoạt động của thầy và trò cùng với việc. Cụ thể: Sử  
dưới chú tâm quan sát thí nghiệm. Giảng viên cho SV tham  
gia thí nghiệm quay mặt xuống lớp, dùng khăn vải bịt măt,  
yêu cầu xòe bàn tay phải ra và đưa ra trước mặt. Giảng viên  
đặt một vật (hòn bi) vào tay SV tham gia thí nghiệm và hỏi:  
Hiện tại, em nhận biết được gì? Hình dạng vật thể như thế  
nào? Kích thước ra sao? Nặng hay nhẹ? Cùng thời điểm  
đó em có nhận biết được tất cả những điều giảng viên hỏi  
trên không? Cũng những câu hỏi trên nhưng lần này (lần 2)  
giảng viên yêu cầu SV được nắm bàn tay lại và cử động nắn  
bóp vật thể. Cũng những câu hỏi trên nhưng lần này (lần 3)  
giảng viên mở khăn bịt mặt SV lên tham gia thí nghiệm ra.  
SV quan sát chi tiết, tỉ mỉ và so sánh kết quả tra lời của SV  
lên tham gia thí nghiệm. Có KN quan sát SV dễ dàng tiếp  
nhận khái niệm và đặc điểm của cảm giác.  
dụng PPDH đàm thọai, nêu vấn đề, thảo luận, hoạt động  
nhóm, giải quyết vấn đề thiết kế phần giảng bài mới. Mô  
hình thiết kế như sau (xem Bảng 1):  
Thiết kế bài học nhằm phát triển tư duy phản biện cho SV  
là việc làm rất cần thiết và có ý nghĩa lớn, giúp cho người  
học nhận thức vấn đề một cách khoa học, khách quan và thể  
hiện rõ chính kiến khoa học của mình. Song, không phải  
bài nào, phần kiến thức nào cũng được thiết kế theo hướng  
phát triển tư duy phản biện cho SV mà còn tùy theo từng  
nội dung, từng chương, bài, kiến thức cụ thể, điều kiện học  
tập và tình huống dạy học cụ thể cho phép. Dưới đây là thiết  
kế nội dung và phương pháp cơ bản cho một giờ dạy trong  
Chương 1 của học phần TLH đại cương làm ví dụ minh họa  
(xem Bảng 2).  
Số 22 tháng 10/2019  
15  
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
Bảng 1: Mô hình thiết kế phát triển TDPP cho SV  
Nội dung (Nội  
dung cơ bản của  
bài học)  
Câu hỏi kích thích tư duy phản biện của SV  
Hoạt động của SV  
Khái niệm  
Nêu vấn đề: Ngoài cách định nghĩa này bạn hãy đưa ra cách định nghĩa khác của mình. - Cá nhân suy nghĩ tự trả lời các  
Các cách diễn đạt khái niệm có điểm gì chung, bạn hãy phân tích và chứng minh.  
Bạn hãy nêu lên ví dụ minh họa cho khái niệm.  
câu hỏi của GV.  
- Thảo luận theo nhóm để trả lời  
các câu hỏi của GV.  
Hãy nêu các quan điểm về khái niệm và phân tích, đánh giá các quan điểm đó.  
Các nội dung khác GV đặt câu hỏi, chẳng hạn:  
Nội dung đó có các hiểu nào khác nữa, hãy phân tích và chứng minh.  
Chính xác - Có thể biết thêm điều gì chi tiết hơn không? Chính xác điều đó là gì?  
- Cá nhân suy nghĩ tự trả lời các  
câu hỏi của GV.  
- Thảo luận theo nhóm để trả lời  
Những thông tin có liên quan đến nội dung bạn đã thu thập được là gì? Chúng có ý các câu hỏi của GV.  
nghĩa như thế nào?  
Những tài liệu khác ngoài giáo trình, đưa ra nội dung như thế nào? Hãy đánh giá và  
đưa ra ý kiến của bản thân.  
Nếu nhìn nhận vấn đề ở góc nhìn khác thì sao?  
Bảng 2: Thiết kế nội dung cho giờ dạy trong Chương 1 của học phần TLH đại cương  
Nội dung bài học  
Câu hỏi kích thích tư duy phản biện  
của SV  
Hoạt động của SV  
1. ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ, VỊ TRÍ VÀ Ý NGHĨA CỦA TLH  
1.1. Đặc điểm của TLH so với các khoa học khác  
Bạn hãy nêu và phân tích những đặc điểm - Cá nhân suy nghĩ  
khác biệt của TLH so với các khoa học tự trả lời các câu hỏi  
- TLH nghiên cứu các hiện tượng tâm lí vừa gần gũi, cụ thể, gắn bó với con khác.  
của GV.  
Thảo luận theo  
Bạn hãy lấy một số ví dụ để minh họa cho nhóm để trả lời các  
người vừa rất phức tạp, trừu tượng.  
- TLH là nơi hội tụ nhiều khoa học nghiên cứu đời sống tâm lí con người.  
-
- TLH là một bộ môn khoa học cơ bản trong hệ thống các khoa học về con đặc điểm của TLH so với các khoa học câu hỏi của GV.  
người, đồng thời nó là môn nghiệp vụ trong hệ thống các khoa học tham gia khác.  
vào việc đào tạo con người, hình thành nhân cách con người nói chung và  
nhân cách nghề nghiệp nói riêng.  
1.2. Đối tượng của TLH  
Đối tượng của TLH là các hiện tượng tâm lí với tư cách là các hiện tượng tinh Đối tượng nghiên cứu của các trường phái  
thần do thế giới khách quan tác động vào bộ não của con người gây nên. TLH khác nhau có điểm gì chung và riêng?  
TLH nghiên cứu sự hình thành, vận hành và phát triển của hoạt động tâm lí, hãy phân tích, chứng minh.  
các quy luật của hoạt động tâm lí và cơ chế tạo nên chúng.  
1.3. Nhiệm vụ của TLH  
- Nghiên cứu bản chất hoạt động tâm lí cả về số lượng và chất lượng.  
- Phát hiện các quy luật hình thành và phát triển tâm lí.  
- Tìm ra cơ chế của hiện tượng tâm lí.  
Theo bạn TLH còn có nhiệm vụ nào khác,  
cho ví dụ minh họa.  
TLH duy tâm nêu ra nhiệm vụ của TLH là  
gì? Bạn hãy nêu lên nhận xét và đánh giá.  
- Đưa ra các giải pháp hữu hiệu cho sự hình thành và phát triển tâm lí, sử  
dụng tâm lí trong nhân tố con người có hiệu quả nhất.  
2. BẢN CHẤT CỦA HIỆN TƯỢNG TÂM LÍ NGƯỜI  
2.1. Khái niệm về tâm lí  
- Từ điển tiếng Việt (1998) định nghĩa một cách tổng quát: tâm lí là ý nghĩ, Chủ nghĩa duy tâm siêu hình quan niệm  
tình cảm... làm thành đời sống nội tâm, thế giới bên trong của con người. như thế nào về tâm lí người? Quan điểm  
- Tâm lí bao gồm tất cả các hện tượng tinh thần, tồn tại trong đầu óc con của họ có hạn chế gì?  
người, điều khiển, điều chỉnh các hoạt động của con người.  
2.2. Bản chất hiện tượng tâm lí người  
Bạn hãy nêu lên một số quan điểm của các  
trường phái TLH khác.  
a. Quan niệm duy tâm, cho rằng:  
Mặt tiến bộ và hạn chế của quan niệm duy  
- Tâm lí con người là do thượng đế, do trời sinh ra và nhập vào xác con vật máy móc là gì?  
người.  
- Quan niệm này không thể giải thích được bản chất hiện tượng tâm lí con  
người, dẫn đến chỗ hiểu tâm lí con người như một cái gì thần bí, không thể  
nghiên cứu được.  
b. Quan niệm duy vật máy móc, cho rằng:  
- Tâm lí con người là do vật chất trực tiếp sinh ra “não … tiết ra mật”.  
- Quan niệm này đã đánh đồng tâm lí với sinh lí, phủ nhận vai trò của chủ  
thể, tính tích cực năng động của tâm lí, phủ nhận bản chất xã hội và tính  
lịch sử của tâm lí người.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
16  
Nguyễn Chí Tăng, Phạm Văn Hiếu  
Nội dung bài học  
Câu hỏi kích thích tư duy phản biện  
của SV  
Hoạt động của SV  
c. Quan niệm khoa học (duy vật biện chứng và duy vật lịch sử) cho rằng:  
* Tâm lí là chức năng của não.  
Các quan điểm về bản chất hiện tượng tâm  
lí người có điểm nào giống và khác nhau?  
* Tâm lí người là sự phản ánh hiện thực khách quan tác động vào não người Hãy phân tích, chứng minh quan niệm của  
thông qua chủ thể.  
Hình ảnh tâm lí mang tính sinh động, sáng tạo và tính chủ thể.  
* Tâm lí người có bản chất xã hội - lịch sử.  
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử về  
bản chất tâm lí người là đúng.  
Tâm lí người khác xa về chất so với tâm lí  
động vật, hãy cho ví dụ minh họa.  
dạy học. Điều này rất khó thực hiện, nhưng không phải là  
không thực hiện được. Bài viết này, chúng tôi chia sꢀ việc  
thiết kế bài dạy học phần TLH đại cương nhằm phát triển  
TDPP cho SV. Chúng tôi hi vọng, đây là những chia sꢀ hữu  
ích cùng đồng nghiệp để qua đó mỗi GV sẽ có những cách  
thức tốt nhất và hiệu quả cao để đổi mới PPDH nói chung  
3. Kết luận  
TDPP là thao tác trí tuệ trình độ cao, không những chỉ  
phân tích, so sánh, xem xét, tổng hợp, đưa ra nhận định và  
đánh giá những thông tin hay lập luận đến từ nhiều nguồn  
khác nhau, mà còn là sự suy nghĩ chính về sự suy nghĩ của  
cá nhân mình. Phân tích những quan niệm và nghiên cứu  
bản chất của TDPP, chúng ta càng thấy được ý nghĩa và tầm  
quan trọng của việc phát triển TDPP cho SV trong quá trình và phát triển TDPP cho người học nói riêng.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Robert H. Ennis, R, (1993), Critical Thinking Assessment,  
Source: Theory into Practice, Vol. 32, No. 3, Teaching for  
Higher Order Thinking, Published by: Taylor & Francis,  
Ltd, pp.179-186.  
[2] Scriven, M. & Paul, R, (1987), Defining Critical Thinking,  
thinking/766 (10.11.2018).  
trình và bất phương trình, Viện Khoa học Giáo dục Việt  
Nam, Luận án Tiến sĩ.  
[5] Nguyễn Quang Uẩn (Chủ biên) - Nguyễn Văn Lũy - Đinh  
Văn Vang, (2007), Giáo trình Tâm lí học đại cương (In  
lần thứ 6), NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.  
[6] Dewey, J, (1910), How We Think, Boston: D. C Heath &  
Co., 224p.  
[3] Eichhorn, R, (2014), Developing thinking skills: Critical  
thinking at the army management staff college, Retrieved  
roy.htm.  
[7] Ennis, R, (2013), The Nature of Critical Thinking:  
Outlines of General Critical Thinking Dispositions and  
longdefinition.html.  
[4] Phan Thị Luyến, (2008), Rèn luyện tư duy phê phán của  
học sinh trung học phổ thông qua dạy học chủ đề phương  
[8] Walton, D, (1989), Dialogue theory for critical  
thinking, Argumentation (3), p.169-184.  
DEVELOPING CRITICAL THINKING SKILLS FOR STUDENTS  
THROUGH TEACHING GENERAL PSYCHOLOGY  
Nguyen Chi Tang1, Pham Van Hieu2  
ABSTRACT: Critical thinking is very important for all people in general  
1 Email: chitang_sp@yahoo.com.vn  
2 Email: hieupv12[email protected]  
Ba Ria - Vung Tau College of Education  
689 Cach Mang Thang Tam, Ba Ria city,  
Ba Ria -Vung Tau province, Vietnam  
and learners in particular. However, the research on the formation and  
development of critical thinking for students in the teaching process is still  
limited. In this article, we analyze and clarify some theoretical issues of critical  
thinking, including its concept; some skills to develop critical thinking; and  
some indications of students having critical thinking skills, then put forward  
a model of lesson design in the general psychology module to improve the  
critical thinking skills for students.  
KEYWORDS: Critical thinking development; critical thinking; general psychology.  
Số 22 tháng 10/2019  
17  
pdf 5 trang Thùy Anh 13180 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phát triển tư duy phê phán cho sinh viên thông qua dạy học phần Tâm lí học đại cương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphat_trien_tu_duy_phe_phan_cho_sinh_vien_thong_qua_day_hoc_p.pdf