Quy trình can thiệp sớm trẻ tự kỉ dựa vào cộng đồng
Thành Ngọc Minh, Nguyễn Mai Hương, Nguyễn Thị Hồng Thúy, Lê Minh Hương
Quy trình can thiệp sớm trẻ tự kỉ dựa vào cộng đồng
Thành Ngọc Minh1, Nguyễn Mai Hương2,
Nguyễn Thị Hồng Thúy3, Lê Minh Hương4
TÓM TẮT: Can thiệp rối loạn phổ tự kỉ dựa vào cộng đồng là một mô hình can
1 Email: tnminh.nh[email protected]
thiệp nhằm đem lại cơ hội về hòa nhập xã hội một cách bình đẳng cho tất cả
trẻ em và người tự kỉ tại chính nơi mà họ sinh sống. Can thiệp được thực hiện
dựa trên việc kết hợp những nguồn nhân lực và vật lực có sẵn tại chính gia
đình trẻ và ngay trong môi trường sinh hoạt, học tập của trẻ. Bệnh viện Nhi đã
xây dựng một quy trình can thiệp sớm trẻ tự kỉ dựa vào cộng đồng và đã từng
bước áp dụng có hiệu quả. Quy trình gồm các bước: (1) Đánh giá phân loại;
(2) Đào tạo cho cha mẹ/người chăm sóc; (3) Can thiệp tại các tuyến cơ sở theo
ba hình thức: Trung tâm can thiệp sớm, trường mầm non kết hợp can thiệp cá
nhân, gia đình; (4) Đánh giá định kì. Các hoạt động can thiệp lấy trẻ và gia
đình làm trung tâm, có sự tham gia của nhóm chuyên gia đa ngành: cán bộ y
tế, cán bộ tâm lí, giáo viên giáo dục đặc biệt, các nhà trị liệu chuyên sâu và sử
dụng các phương pháp can thiệp dựa trên bằng chứng... Cần thiết có sự phối
hợp tích cực giữa các bộ, ngành để tạo điều kiện cho quy trình được thực hiện
thống nhất, phổ biến rộng rãi ở cộng đồng.
2 Email: maihuong[email protected]
3 Email: nguyenhongth[email protected]
4 Email: lehuon[email protected]
Bệnh viện Nhi Trung ương
18/879 La Thành, Đống Đa, Hà Nội, Việt Nam
TỪ KHÓA: Rối loạn phổ tự kỉ; can thiệp sớm; cộng đồng.
Nhận bài 11/3/2019 Nhận kết quả phản biện và chỉnh sửa 15/5/2019 Duyệt đăng 25/5/2019.
vụ, hoạt động phù hợp với tình trạng, nhu cầu của TTK, gia
đình tại chính địa phương mà trẻ sinh sống.
Để xây dựng quy trình can thiệp một cách toàn diện cho
TTK, cần có sự tham gia, phối hợp hành động giữa Bộ Y
1. Đặt vấn đề
Rối loạn phổ tự kỉ (RLPTK) (Autism Spectrum Disorder)
là thuật ngữ chỉ một rối loạn phức tạp về phát triển sinh học
thần kinh, gồm các biểu hiện đặc trưng ở các mức độ khác
nhau và kéo dài trong 3 lĩnh vực: khó khăn tương tác xã hội; tế, Bộ Giáo dục, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội,
khiếm khuyết về giao tiếp có lời và không lời; hành vi, sở cùng các tổ chức xã hội như câu lạc bộ gia đình có con mắc
thích bị thu hẹp và lặp lại. Nghiên cứu tại các nước trên thế chứng tự kỉ, các gia đình và người thân của trẻ. Việc hoạt
giới cho biết, tỉ lệ mắc RLPTK là khoảng 1% dân số [1]. động theo một quy trình thống nhất từ trung ương đến địa
RLPTK ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình phát triển của cá phương và cộng đồng sẽ đem lại hiệu quả tốt nhất về can
nhân, làm giảm khả năng thích nghi hòa nhập xã hội của trẻ, thiệp cho các trẻ mắc RLPTK. Trong nội dung chuyên đề
đồng thời là gánh nặng cho gia đình và xã hội.
này, chúng tôi sẽ trình bày “Quy trình CTS TTK dựa vào
Năm 2008, đơn vị tự kỉ trực thuộc khoa Tâm thần, Bệnh cộng đồng” được xây dựng bởi Khoa Tâm thần, Bệnh viện
viện Nhi Trung ương được thành lập, là đơn vị tự kỉ đầu tiên Nhi Trung ương.
thuộc Bệnh viện Nhi trong cả nước với đội ngũ đầy đủ bác
sĩ nhi, bác sĩ tâm thần nhi, các nhà tâm lí, giáo dục đặc biệt
và điều dưỡng nhi. Từ đó tới nay, đã có nhiều đoàn chuyên
gia từ Australia, Mĩ sang đào tạo nhiều đợt về lí thuyết,
thực hành chẩn đoán và can thiệp sớm (CTS) cho trẻ tự
kỉ (TTK) với các lí thuyết tổng quan, hướng dẫn mô hình
làm việc và đào tạo cho phụ huynh (ACT NOW - Monash),
chương trình More than Words, giao tiếp sớm và PECS,
ABA... Mỗi năm có khoảng 400 TTK được CTS tại khoa,
trẻ có nhiều tiến bộ trên các lĩnh vực và cha mẹ được hướng
dẫn, đào tạo về các hoạt động can thiệp tại nhà [2]. Khoa
Tâm thần cũng đã thực hiện nhiều nghiên cứu khoa học,
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Khái niệm và cơ sở khoa học của can thiệp sớm
CTS là những hoạt động được thực hiện ngay sau khi
phát hiện trẻ em có các dấu hiệu tự kỉ, không nhất thiết chờ
đến khi chẩn đoán xác định. CTS cho TTK bao gồm: các
biện pháp can thiệp - là những phương pháp, chương trình,
hệ thống nhằm giúp trẻ phát triển; các dịch vụ - là những địa
điểm và tổ chức cung cấp các biện pháp trị liệu. Đặc điểm
của CTS [3]:
- Lấy gia đình làm trung tâm: Có sự tham gia của các
thành viên trong gia đình TTK phối hợp cùng với các
biên soạn nhiều tài liệu cho các nhà chuyên môn, tờ rơi, sổ chuyên gia; Có tính linh hoạt: có thể được thực hiện ở các
tay dành cho cha mẹ, thực hiện các khóa đào tạo liên tục trung tâm CTS hoặc trường mầm non, hoặc tại gia đình. Gia
cho cán bộ y tế tuyến dưới và các cá nhân, tổ chức. Tuy đình được hướng dẫn và trợ giúp trong quá trình can thiệp.
nhiên, hoạt động tại bệnh viện chưa đáp ứng đầy đủ nhu
- Có cấu trúc tốt: Người thực hiện là những người được
cầu về CTS tự kỉ, cần thiết phải xây dựng một quy trình đào tạo trong lĩnh vực can thiệp tự kỉ; Có chương trình cá
can thiệp dựa vào cộng đồng nhằm cung cấp những dịch nhân hóa dành cho mỗi TTK. Chương trình này được lên
Số 17 tháng 5/2019
89
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN
kế hoạch dựa vào một đánh giá toàn diện, cân nhắc đến được chứng minh hiệu quả qua thực nghiệm. Ngoài ra, cha
nhu cầu của trẻ và gia đình, nguồn lực địa phương...; Theo
dõi và đánh giá thường xuyên sự tiến triển của trẻ để thay
đổi chương trình phù hợp với giai đoạn phát triển; Được tổ
chức có hệ thống, dễ tiếp cận đối với gia đình TTK; Cung
cấp môi trường học tập thuận lợi: Trẻ được an toàn, được
tạo điều kiện để phát huy năng lực cá nhân; Có các hoạt
động phù hợp nhằm hỗ trợ trẻ đi học hòa nhập; Có hoạt
động giúp trẻ có cơ hội tiếp xúc với trẻ cùng lứa phát triển
bình thường.
- Dựa trên các bằng chứng khoa học: Được thiết kế cho
trẻ mắc RLPTK, dựa trên đặc điểm và những thiếu sót, nhu
cầu của TTK; Tập trung vào việc phát triển các kĩ năng chú
ý, giao tiếp, bắt chước, ngôn ngữ, kĩ năng xã hội, nhận thức;
Bao gồm các chiến lược giúp trẻ học các kĩ năng mới và sử
dụng chúng trong các bối cảnh khác nhau (khái quát hóa);
Xác định những mục tiêu đích, hay còn gọi là mục tiêu ưu
tiên, các hành vi có vấn đề và dạy trẻ các hành vi thay thế.
Theo tổ chức CDC, các triệu chứng tự kỉ có thể phát hiện
từ khi trẻ còn rất nhỏ, khoảng 18 tháng [4]. Chính vì vậy,
CTS trước 5 tuổi đặc biệt là trước 3 tuổi sẽ cải thiện hiệu
quả điều trị và làm tăng chất lượng sống của trẻ và gia đình
sau này. CTS áp dụng đồng thời với cả trẻ đã được chẩn
đoán tự kỉ và trẻ có dấu hiệu nghi ngờ tự kỉ.
mẹ cũng cần được giới thiệu về các luật và quy định về giáo
dục đặc biệt, các dịch vụ cần thiết và sẵn có, và làm thế nào
để ra quyết định về cách thức hỗ trợ TTK trong mỗi giai
đoạn phát triển khác nhau.
2.2.2. Mục đích can thiệp sớm trẻ tự kỉ tại cộng đồng
- Tạo điều kiện thuận lợi để trẻ phát triển tối ưu các năng
lực bản thân.
- Giảm thiểu những thiếu sót và ảnh hưởng do RLPTK
mang lại cho trẻ, gia đình và cộng đồng; Chuẩn bị cho trẻ
những kĩ năng học tập khi đến tuổi đi học; Giúp trẻ trở nên
độc lập nhất có thể, nâng cao chất lượng cuộc sống cho trẻ
và gia đình.
- Giúp gia đình trẻ chủ động, tích cực và thực hiện được
những hoạt động can thiệp.
- Giúp xây dựng một mạng lưới, một sự phối hợp hoạt
động liên ngành và giữa các cán bộ y tế từ trung ương đến
địa phương.
2.2.3. Phạm vi áp dụng can thiệp sớm
- Đối tượng tham gia CTS: Tất cả trẻ dưới 6 tuổi được
chẩn đoán mắc RLPTK các mức độ khác nhau, hoặc trẻ có
dấu hiệu nghi ngờ tự kỉ.
- Các thành viên tham gia CTS TTK: Để CTS đạt hiệu
quả phải có phối hợp của nhóm các chuyên gia đa ngành:
các chuyên gia (y tế, trị liệu chuyên sâu) và cha mẹ, giáo
viên, các nguồn lực khác cùng chung sức, hỗ trợ lẫn nhau
2.2. Quy trình can thiệp sớm trẻ tự kỉ dựa vào cộng đồng - Đề
xuất của Bệnh viện Nhi Trung ương
2.2.1. Nhu cầu can thiệp sớm dựa vào cộng đồng
Can thiệp RLPTK dựa trên gia đình và cộng đồng là một
chiến lược phát triển nhằm đem lại cơ hội về hòa nhập xã để đảm bảo tính thống nhất, tính đồng bộ và hiệu quả trong
hội một cách bình đẳng cho tất cả trẻ em và người tự kỉ tại
chính nơi mà họ sinh sống. Can thiệp dựa trên việc kết hợp
những nguồn nhân lực và vật lực có sẵn tại gia đình trẻ và
trong môi trường sinh hoạt, học tập của trẻ. Hai ưu điểm
của mô hình này là không tách TTK ra khỏi gia đình và
cộng đồng mà trẻ đã gắn bó từ nhỏ và cảm thấy an toàn;
tiết kiệm chi phí cho gia đình TTK dựa trên việc tận dụng
những nguồn lực sẵn có của gia đình và địa phương trong
quá trình can thiệp.Trên thực tế, can thiệp TTK dựa trên
gia đình và cộng đồng đã được áp dụng trên 40 năm qua
tại nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt tại những nước đang
phát triển tương đồng với Việt Nam như: Ấn Độ, Thái Lan,
Trung Quốc. Tại Việt Nam, tiếp cận dựa vào gia đình và
cộng đồng đã được ngành Y tế sớm triển khai với các rối
loạn khuyết tật khác nhau. Với RLPTK, hiện nay đang có
một số chương trình/dự án thử nghiệm tại các tỉnh như Thái
Bình, Hòa Bình, Thái Nguyên, Đồng Nai, Đắc Lắc...
suốt quá trình CTS. Sự phối hợp nhóm đa ngành không chỉ
mang lại lợi ích cho TTK mà còn mang lại lợi ích cho mỗi
thành viên cũng như toàn bộ nhóm về khả năng tự giáo dục,
tự quản lí cũng như tạo được niềm tin chung trong CTS cho
TTK (xem Sơ đồ 1).
Theo nghiên cứu của Gabovitch và Curtin (2009): Gia
đình là thành viên nòng cốt có thể giúp xác định các lựa
chọn dịch vụ và mục tiêu phát triển của đứa trẻ, do đó hỗ
trợ tích cực gia đình đem lại những kết quả khả quan cho
sự phát triển tổng thể của TTK [4]. Tuy nhiên, các nhà
nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng để quá trình can thiệp TTK
tại gia đình đạt được kết quả tốt, cha mẹ và các thành viên
trong gia đình của TTK cần được cung cấp các kiến thức,
kĩ năng chuyên sâu về các phương pháp can thiệp mà đã Sơ đồ 1: Các thành phần tham gia CTS TTK
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
90
Thành Ngọc Minh, Nguyễn Mai Hương, Nguyễn Thị Hồng Thúy, Lê Minh Hương
người chăm sóc có thể áp dụng tại gia đình sau khi trẻ được
đánh giá phân loại. Thời gian: 3 tuần.
2.2.4. Quy trình can thiệp sớm trẻ tự kỉ dựa vào cộng đồng
Về lí thuyết: Cha mẹ TTK sẽ được tham gia vào các buổi
tư vấn nhóm và tư vấn cá nhân. Các buổi tư vấn này nhằm
mục đích cung cấp thông tin về RLPTK: Các triệu chứng
cốt lõi, triệu chứng đi kèm, diễn biến...; cung cấp thông tin
về các biện pháp và hình thức can thiệp tự kỉ hiện nay tại
Việt Nam. Trong 3 tuần, cha mẹ sẽ có 04 buổi tư vấn nhóm
với những chủ đề khác nhau, mỗi buổi tư vấn kéo dài 120
phút.
Về thực hành các kĩ năng CTS tại gia đình: Sau khi được
đánh giá phân loại, TTK ở cả ba nhóm sẽ đều phải trải qua
3 tuần tại bệnh viện Nhi để nhận những can thiệp ban đầu.
Những hoạt động can thiệp ban đầu này nhằm tạo thuận lợi
cho những can thiệp tiếp theo ở tuyến cơ sở. Ví dụ như trẻ
tạo được thói quen tách cha mẹ, trẻ làm quen với lịch trình
can thiệp, hoạt động can thiệp... Đồng thời, trong quá trình
này, cha mẹ sẽ được trực tiếp tham gia quá trình can thiệp
bằng cách áp dụng những kĩ năng được học để thực hành
trên chính con mình dưới sự hướng dẫn của cán bộ. Qua
các hướng dẫn “cầm tay chỉ việc”, cha mẹ không những
hiểu mà còn được đào tạo để thực hiện thành thục những kỹ
năng can thiệp.
Các hoạt động khác:
- Cung cấp và hướng dẫn sử dụng tài liệu, video về can
thiệp.
- Theo dõi và hướng dẫn sử dụng thuốc nếu có.
- Hướng dẫn tìm nguồn trợ giúp tại địa phương (mạng
lưới các cha mẹ tự kỉ), các trung tâm, dịch vụ can thiệp TTK
tại địa phương.
- Trao đổi, chia sẻ của các cha mẹ với nhau về kiến thức,
kinh nghiệm nuôi dạy TTK. Việc các cha mẹ có được sự
đồng cảm, tôn trọng, gặp gỡ lẫn nhau sẽ giúp giảm đi sự
mặc cảm, nâng cao năng lực bản thân và tạo ra một mạng
lưới trao đổi, chia sẻ giữa những gia đình có TTK tại cộng
đồng.
Bước 3: Can thiệp tại các tuyến cơ sở: TTK được chuyển
về các cơ sở giáo dục phù hợp với tình trạng và nhu cầu,
khả năng chi trả của gia đình và nguồn lực hiện có tại địa
phương. Có 3 hình thức can thiệp tại các cơ sở giáo dục
như sau:
- Trung tâm CTS: Đây là hình thức giáo dục chuyên biệt
dành cho trẻ được đánh giá thuộc nhóm 1 theo bước 1. Ở
đây, trẻ học bán trú tại trung tâm, hàng ngày trẻ học 1 - 2 tiết
cá nhân một cô một trò, mỗi tiết khoảng 30 phút, thời gian
còn lại trẻ sẽ được can thiệp trị liệu theo nhóm. Mỗi nhóm
có có khoảng từ 10 đến 15 trẻ được đánh giá có cùng mức
độ phát triển. Các hoạt động trong mỗi buổi thường được
chia thành từ 5- 6 hoạt động nhỏ. Các phương pháp can
thiệp được sử dụng là những phương pháp đã được nghiên
cứu, có bằng chứng khoa học về hiệu quả, hay gặp là ABA
(phân tích hành vi ứng dụng); PECS (giao tiếp bằng trao
đổi tranh); âm ngữ trị liệu; hoạt động trị liệu; EDSM (mô
Sơ đồ 2: Quy trình CTS TTK tại cộng đồng
Các bước thực hiện quy trình:
Bước 1: Đánh giá: giúp xây dựng được chương trình
can thiệp phù hợp với từng trẻ.
Các hoạt động đánh giá:
Đối với trẻ:
- Mức độ tự kỉ: Dựa vào công cụ đánh giá là Thang đánh
giá mức độ tự kỉ trẻ em CARS (Childhood Autism Rating
Scale). Thang CARS sử dụng với mục đích phân loại ba
mức độ tự kỉ khác nhau là: Tự kỉ nhẹ; Tự kỉ trung bình; Tự
kỉ nặng.
- Mức độ phát triển: Sử dụng công cụ đánh giá các kĩ năng
phát triển Denver II (Denver Developmental Screening Test
version II). Test kiểm tra một cách khá toàn diện sự phát
triển của trẻ, tập trung vào 4 lĩnh vực: cá nhân - xã hội; vận
động tinh tế - thích ứng; ngôn ngữ; vận động thô. Kết quả
đưa ra là chỉ số DQ (Developmental Quotient): Phát triển
bình thường: DQ trên 70%; chậm phát triển nhẹ: DQ từ
50% đến 70%; Chậm phát triển vừa: DQ từ 30% đến 50%;
Chậm phát triển nặng: DQ dưới 30%.
- Đánh giá về các giai đoạn giao tiếp theo chương trình
More than words: Giai đoạn giao tiếp tự phát: giao tiếp ở
mức rất thấp, không chủ động, bất thường; Giai đoạn giao
tiếp yêu cầu: giao tiếp ở mức đơn giản, theo nhu cầu của
trẻ; Giai đoạn giao tiếp sớm: có sự chia sẻ qua lại; Giai đoạn
giao tiếp đối tác: có sự tương tác phù hợp.
Đối với gia đình: Dựa vào một bảng hỏi đồng nhất, đánh
giá: Kiến thức, kĩ năng cha mẹ/người chăm sóc; Các mối
quan hệ, hành vi - cảm xúc của các thành viên trong gia
đình; Môi trường gia đình: kinh tế, thời gian, khả năng dạy
trẻ...
Đối với xã hội: Các nguồn lực tại địa phương gồm các
trung tâm CTS, các giáo viên can thiệp cá nhân, các trường
mầm non tại địa phương.
Kết quả đánh giá: Sẽ phân nhóm trẻ để đưa vào các
chương trình, hoạt động can thiệp phù hợp (xem Sơ đồ 2).
Bước 2: Đào tạo cho cha mẹ hoặc người trực tiếp chăm hình CTS Denver)… Người thực hiện là những giáo viên
sóc: cung cấp kiến thức, kĩ năng CTS TTK để cha mẹ và đặc biệt, chuyên viên trị liệu, cán bộ tâm lí, kĩ thuật viên ...
Số 17 tháng 5/2019
91
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN
đã được đào tạo chuyên sâu ở mỗi lĩnh vực, có kinh nghiệm tháng: Đánh giá sự tiến triển của các hoạt động can thiệp tự
làm việc với TTK và sẵn sàng trao đổi, hỗ trợ, giúp đỡ gia
đình TTK.
kỉ, phối hợp với giáo viên, cha mẹ để điều chỉnh, bổ sung
chương trình can thiệp, tìm hiểu những khó khăn, thuận lợi
của chương trình CTS của cá nhân trẻ.
Với trẻ: Đánh giá lại mức độ của tự kỉ, giai đoạn giao tiếp,
các kĩ năng phát triển; Đánh giá các vấn đề mới phát sinh.
Với gia đình: Đánh giá lại kiến thức, kĩ năng của cha mẹ/
người chăm sóc; Đưa ra những hướng dẫn, tư vấn kịp thời
phù hợp với từng giai đoạn phát triển của trẻ.
Nhận xét: Không có một chương trình hay một biện pháp
can thiệp duy nhất phù hợp với mọi trẻ hoặc mọi giai đoạn
phát triển của trẻ. Vì vậy, những điều chỉnh hoạt động can
thiệp là cần thiết, giúp đem lại hiệu quả tối ưu cho can thiệp,
làm giảm sự lãng phí về thời gian hoặc công sức, kinh tế
khi theo đuổi một can thiệp không phù hợp. Tuy nhiên, quá
trình đánh giá này phải được thực hiện thường xuyên với
những chuyên gia có kinh nghiệm và với sự tham gia tích
cực của cha mẹ hoặc người chăm sóc chính.
- Học hòa nhập tại trường mầm non kết hợp giờ can thiệp
cá nhân: Với những TTK được đánh giá thuộc nhóm 2 ở
bước 1, trẻ có thể tham gia các hoạt động học tập hòa nhập
tại trường mầm non, song song kết hợp giờ can thiệp cá
nhân.
Trường mầm non: Một trong những nguyên tắc can thiệp
TTK là khuyến khích tối đa khả năng và thời gian TTK
được giao tiếp, sinh hoạt, học tập với các bạn cùng lứa bình
thường. Vì vậy, để đạt được điều đó, việc đưa TTK học hòa
nhập tại các trường mầm non, đồng thời hướng dẫn, tập
huấn cho giáo viên mầm non để có thể thực hành can thiệp
ngay tại trường là điều rất quan trọng. Giáo viên tại trường
mầm non cần có kiến thức cơ bản về RLPTK, từ đó hỗ trợ
trẻ tham gia một cách tối đa các hoạt động như trẻ bình
thường tại trường. Giáo viên cũng là người theo dõi sự tiến
bộ của trẻ, tư vấn kịp thời các hoạt động, dịch vụ cho gia
đình nhằm hỗ trợ trẻ tốt hơn.
Giờ can thiệp cá nhân: Thường kéo dài 60 phút, tần suất
tùy mức độ, điều kiện gia đình và nguồn lực hiện có tại địa
phương. Giờ cá nhân có thể được thực hiện ngay tại trường
mầm non, hoặc tại trung tâm, hoặc tại gia đình với giáo viên
riêng. Người thực hiện: Cán bộ tâm lí, giáo viên giáo dục
đặc biệt hoặc giáo viên đã được đào tạo về can thiệp tự kỉ.
Nội dung can thiệp giờ cá nhân tùy thuộc vào đặc điểm, khả
năng và nhu cầu của TTK và gia đình.
- Can thiệp tại gia đình: Gia đình có vai trò đặc biệt quan
trọng trong quá trình can thiệp TTK. Các hoạt động can
thiệp tại gia đình phụ thuộc vào nhu cầu của trẻ và năng
lực của cha mẹ hoặc người chăm sóc. Sau khi được đào tạo
ở bước 2, TTK và cha mẹ hoặc người chăm sóc trở về gia
đình, áp dụng các kiến thức, kĩ năng để có những hoạt động
can thiệp tích cực, phù hợp và lâu dài cho trẻ.
Nhận xét: Tại bước này, vai trò của giáo dục là chủ đạo.
Giữa trung tâm/trường học và gia đình cần phối hợp chặt
chẽ nhằm nâng cao hiệu quả của can thiệp. Cần có một
sự chỉ đạo và giám sát chặt chẽ của các ban ngành của Sở
Giáo dục, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội đối với hệ
thống các trung tâm, dịch vụ can thiệp tự kỉ tại địa phương.
Ngoài ra, giáo viên thực hiện can thiệp tự kỉ cần có chính
sách đãi ngộ riêng. Can thiệp tự kỉ là một quá trình lâu dài,
tốn kém. Vì vậy, TTK cần được xếp loại khuyết tật để được
hưởng các chính sách ưu đãi của xã hội. Vì vậy, ở bước này,
các cán bộ ngành Lao động, Thương binh và Xã hội, chính
quyền các cấp, các cơ quan đoàn thể khác cần vào cuộc để
hỗ trợ gia đình, trẻ.
3. Kết luận và khuyến nghị
3.1. Kết luận
CTS TTK dựa vào cộng đồng là chiến lược can thiệp hiệu
quả, phù hợp với nhu cầu của TTK và gia đình trẻ. Quy
trình CTS TTK tại cộng đồng lấy trẻ và gia đình làm trung
tâm, có sự tham gia đa ngành, làm việc nhóm bởi nhiều
chuyên gia khác nhau. Quy trình bao gồm những hoạt động
nối tiếp nhau, cụ thể như sau:
Bước 1: Đánh giá phân loại.
Bước 2: Đào tạo cho cha mẹ hoặc người trực tiếp chăm
sóc trẻ những kiến thức, kĩ năng CTS tự kỉ tại gia đình.
Bước 3: Can thiệp tại các tuyến cơ sở: Hình thức trung
tâm CTS; Hình thức học hòa nhập tại trường mầm non kết
hợp can thiệp cá nhân theo giờ; Can thiệp tại gia đình.
Bước 4: Đánh giá định kì sau mỗi khoảng thời gian 3
tháng.
3.2. Khuyến nghị
Cần có sự phối hợp đồng bộ và thống nhất giữa y tế và
các lực lượng xã hội khác, đặc biệt là giáo dục trong CTS
TTK. Sau khi ngành Y tế thực hiện chẩn đoán, phân loại và
hướng dẫn cha mẹ can thiệp, ngành Giáo dục cần tiếp nối
thực hiện các hoạt động can thiệp, đồng thời y tế tiếp tục
đánh giá và xử lí các vấn đề sức khỏe của TTK để tạo thuận
lợi, tăng hiệu quả của can thiệp (Ví dụ như sử dụng thuốc
cho các rối loạn hành vi). Ngoài ra, cần sự tham gia của Bộ
ngành Lao động, Thương binh và Xã hội và các ban nghành
khác để giúp đưa ra những chính sách hỗ trợ, tạo cơ hội cho
Bước 4: Đánh giá định kì sau mỗi khoảng thời gian 3 TTK hòa nhập cộng đồng.
Tài liệu tham khảo
[1] Elsabbagh M. et al, (2012), Global prevalence of autism
and other pervasive developmental disorders: A review of
existing evidence, Br J Nutr, 114 (5), pp.663-672.
mắc rối loạn phổ tự kỉ tại Khoa Tâm thần - Bệnh viện Nhi
Trung ương từ 2011-2015, Tạp chí Khoa học Giáo dục, số
đặc biệt, tr. 84-87.
[2] Thành Ngọc Minh - Nguyễn Mai Hương - Nguyễn Thị
Hồng Thúy, (2016), Hoạt động đánh giá, chẩn đoán trẻ
[3] Schertz, H., Baker, C., Hurwitz, S., & Benner, L, (2011),
Principles of early intervention reflected in toddler
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
92
Thành Ngọc Minh, Nguyễn Mai Hương, Nguyễn Thị Hồng Thúy, Lê Minh Hương
research in autism spectrum disorders, Topics in Early
review, Marriage and Family review, 45 (5), pp.469-498.
[5] Centers for Disease Control and Prevention, Data and
Statistics on autism spectrum disorder, https://www.cdc.
gov/ncbddd/autism/data.html.
Childhood Special Education 31(1): 4-21.
[4] Gabovitch, E. M., Curtin, C, (2009), Family - centered
care for children with autism spectrum disorders: A
THE COMMUNITY-BASED EARLY INTERVENTION PROCESS
FOR CHILDREN WITH AUTISM
Thanh Ngoc Minh 1, Nguyen Mai Huong2,
Nguyen Thi Hong Thuy3, Le Minh Huong4
ABSTRACT: Assisting children with autism and their families to achieve positive
1 Email: tnminh.nh[email protected]
2 Email: maihuong[email protected]
3 Email: nguyenhongth[email protected]
4 Email: lehuon[email protected]
outcomes is a continuous and ongoing process. The community-based early
intervention is an effective strategy which brings opportunities for children to
integrate in daily life, it also facilitates the generalization of skills beyond the
familiar home setting and across the child’s natural environment. A community-
based early intervention process developed by the Psychiatry Department,
National Hospital of Pediatrics has 4 steps: (1): Evaluation and classify the
severity of disorder; (2): Parent / primary caregivers training; (3) Intervention
in three types of services: Special centers; kindergartens plus individual
sessions; home; (4) periodic follow up. Evidence-based practice involves the
multidisciplinary treatment approach of different available resource: children
and their families, healthcare professionals, educators, and other service
providers. It is suggested that a conjunction between ministries of Health, of
Education and others should be made to unify the process and to spread it in
community.
Vietnam National Children’s Hospital
No. 18/879 La Thanh, Dong Da, Hanoi, Vietnam
KEYWORDS: Autism; early intervention; community.
Số 17 tháng 5/2019
93
Bạn đang xem tài liệu "Quy trình can thiệp sớm trẻ tự kỉ dựa vào cộng đồng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
quy_trinh_can_thiep_som_tre_tu_ki_dua_vao_cong_dong.pdf

