Thực trạng stress, lo âu, trầm cảm của sinh viên đại học năm cuối ngành dược tại Đồng Nai

UED Journal of Social Sciences, Humanities & Education, ISSN: 1859 - 4603  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI, NHÂN VĂN VÀ GIÁO DỤC  
THỰC TRẠNG STRESS, LO ÂU, TRẦM CẢM  
CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC NĂM CUỐI NGÀNH DƯỢC TẠI ĐỒNG NAI  
Nhận bài:  
Nguyễn Thị Bích Tuyềna*, Nguyễn Thanh Trúcb, Lê Kim Phụngc  
29 – 04 – 2020  
Chấp nhận đăng:  
10 – 06 – 2020  
Tó m tắt: Sinh viên ngành Dược được cho là có nguy cơ cao gặp phải cá c vấn đề về sức khỏe tâ m thần  
bao gồm stress, lo â u, và trầm cảm, đặc biệt là trong giai đoạn chuẩn bị tốt nghiệp. Mục đích của nghiên  
cứu này là khảo sá t mô tả cắt ngang có phâ n tí ch tỷ lệ stress, lo â u và trầm cảm của sinh viên năm cuối  
ngành Dược (năm học 2019 - 2020) tại 2 trường Đại học ở Đồng Nai theo thang đánh giá DASS21. Kết  
quả nghiên cứu trên 134 khá ch thể cho thấy, tỷ lệ sinh viên có biểu hiện stress, lo â u và trầm cảm lần  
lượt là 16.4%, 29.8% và 38.8%; trong đó, tỷ lệ lo â u mức độ nặng chiếm 6%, trầm cảm nặng chiếm  
0.7%. Có sự khá c biệt ý nghĩa thống kê giữa cá c nhó m sinh viên có xếp loại học lực khá c nhau. Những  
kết quả này giúp nhà trường thiết kế cá c chiến lược can thiệp phù hợp cải thiện sức khỏe tâ m thần của  
sinh viên nhằm làm giảm cá c sai só t thực hành Dược lâm sàng trong tương lai.  
Từ khóa: sinh viên năm cuối; ngành Dược; sức khỏe tâm thần; Đồng Nai; đại học.  
Rowland C.R., Rehnberg C., 2005) và suy giảm chất  
lượng cuộc sống (Marshall L.L., Allison A., Nykamp  
D., Lanke S., 2008) của sinh viên.  
1. Đặt vấn đề  
Sinh viên năm cuối khối ngành Y, Dược được  
chuẩn bị đầy đủ về cơ sở lý luận và thực hành nghề để  
tăng cường chăm sóc sức khỏe người bệnh tốt hơn sau  
khi hoàn thành chương trình đào tạo chuyên nghiệp  
(Vaidya PM, Mulgaonkar KP, 2007). Thế nhưng, sinh  
viên giai đoạn này lại phải đối mặt với những yếu tố  
gây căng thẳng, lo âu đáng kể gây nên những tác động  
tiêu cực đến cuộc sống bản thân. Nghiên cứu của  
Gushae J (1997) thực hiện tại Anh cho thấy 1/3 sinh  
viên gặp các vấn đề rối loạn sức khỏe tâm thần không  
thể tốt nghiệp đại học. Nghiên cứu của Lê Minh Thuận  
(2011) khảo sát trên 252 sinh viên khoa Y tại Đại học  
Y Dược TPHCM cho thấy, tỷ lệ sinh viên có biểu hiện  
lo âu mức độ nặng và rất nặng lần lượt là 12% và 11%,  
tỷ lệ sinh viên stress nặng là 2% và trầm cảm nặng là  
2%. Sự gia tăng mức độ stress, lo âu và trầm cảm có  
thể gây cản trở chương trình thực hành nghề ở trường  
(Kessler R.C., Walters E.E. et al, 1998), ảnh hưởng  
đến kinh tế xã hội (Hysenbegasi A., Hass S.L.,  
Stress được định nghĩa là phản ứng của cơ thể trước  
những kích thích, áp lực mang tính đe dọa từ cuộc sống,  
bao gồm cả những trải nghiệm căng thẳng trong đời  
sống đại học của sinh viên. Cũng giống như stress,  
nhưng lo âu còn kèm theo một nỗi sợ hãi được khơi dậy  
từ bên trong (có thể là thực tế hoặc tưởng tượng), là một  
phản ứng vô thức đối với các khuynh hướng trầm cảm  
có thể chuyển thành sợ hãi hoặc cơn hoảng sợ nghiêm  
trọng (Hysenbegasi A. et al, 2005). Trầm cảm là một  
tình trạng được đặc trưng bởi biểu hiện buồn bã, cảm  
giác trống rỗng, vô vọng và mất hứng thú hầu hết thời  
gian trong ngày (American Psychiatric Association,  
2013). Stress, lo âu và trầm cảm là những chỉ số cơ bản  
để đánh giá sức khỏe tâm thần của một người, chúng  
thường xuất hiện đồng thời; các triệu chứng stress và  
trầm cảm thường vẫn tăng sau khi sự kiện gây căng  
thẳng đã kết thúc (Kiecolt-Glaser JK et al., 2003). Theo  
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính, đến năm 2020,  
các vấn đề về rối loạn sức khỏe tâm thần sẽ là nguyên  
nhân gây nên gánh nặng khuyết tật hàng đầu, gợi lên  
tầm quan trọng của việc cần xác định sớm tỷ lệ sinh  
viên dễ mắc rối loạn tâm thần để kịp thời can thiệp, giúp  
a, b, c Bệnh viện Tâm thần Trung ương 2  
*
Tác giả liên hệ  
Nguyễn Thị Bích Tuyền  
32 | Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục, Tập 10, Số 2 (2020), 32-37  
ISSN: 1859 - 4603, Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục, Tập 10, Số 2 (2020), 32-37  
giảm bớt áp lực học tập. Đồng thời, giúp phát triển các  
lo âu, trầm cảm rút gọn DASS21 và phiếu khảo sát về  
thông tin nhân khẩu do nhóm nghiên cứu tự thiết kế. Dữ  
liệu thu thập được nhập và xử lý bằng phần mềm SPSS  
phiên bản 25. Các phương pháp thống kê mô tả sử dụng  
gồm: điểm trung bình, độ lệch chuẩn, tần số và tỷ lệ  
phần trăm, kiểm định T-test, One-way ANOVA và  
tương quan Pearson.  
tiêu chuẩn chung mà ngành Y, Dược đòi hỏi, nhằm đối  
phó với các khía cạnh khác nhau trong cuộc sống, đặc  
biệt là ở giai đoạn chuẩn bị tốt nghiệp.  
Trên thực tế, sinh viên ngành Dược được cho là đối  
tượng có nguy cơ gặp nhiều căng thẳng hơn so với sinh  
viên các ngành Y nói chung (Henning K., Ey S., Shaw  
D., 1998; Phùng et al., 2018). Mặc dù trên thế giới và ở  
Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về sức khỏe tâm thần  
của sinh viên các khối ngành Y, nhưng chủ đề này vẫn  
chưa được khảo sát sâu trên khách thể sinh viên ngành  
Dược, đặc biệt là tại Đồng Nai. Xuất phát từ những lý  
do này, nghiên cứu được tiến hành với mục đích sau:  
Thang đo stress, lo âu và trầm cảm rút gọn DASS21  
đã được chuẩn hóa để thích ứng với bối cảnh Việt Nam  
bởi tác giả Trần Thạch Đức và cộng sự (2013). Khách  
thể tham gia khảo sát sẽ tự đánh giá về mức độ cảm xúc  
của mình trong 01 tuần qua dựa trên 21 tiểu mục theo  
thang điểm: (0) - Không đúng với tôi chút nào cả; (1) -  
Đúng với tôi phần nào, hoặc thỉnh thoảng mới đúng; (2)  
- Đúng với tôi phần nhiều, hoặc phần lớn thời gian là  
đúng; (3) - Hoàn toàn đúng với tôi, hoặc hầu hết thời  
gian là đúng. Cách quy đổi điểm thang đo DASS21  
được trình bày ở Bảng 1.  
(a1) Xác định tỷ lệ stress, lo âu và trầm cảm của  
sinh viên đại học năm cuối ngành Dược tại Đồng Nai;  
(a2) Khảo sát một số yếu tố liên quan đến tình trạng  
stress, lo âu, trầm cảm của sinh viên năm cuối ngành  
Dược tại Đồng Nai theo đặc điểm nhân khẩu và xếp loại  
học lực của học kì gần nhất.  
Bảng 1. Mức độ stress, lo âu, trầm cảm quy đổi  
theo điểm thang đo DASS21  
2. Phương pháp nghiên cứu  
2.1. Mẫu nghiên cứu  
Mức độ  
Bình thường  
Nhẹ  
Stress  
0 - 14  
15 - 18  
19 - 25  
26 - 33  
≥ 34  
Lo Âu  
0 - 7  
Trầm Cảm  
0 - 9  
8 - 9  
10 - 13  
14 - 20  
21 - 27  
≥ 28  
Cách chọn mẫu: Nghiên cứu được thực hiện trên  
134 sinh viên năm cuối (năm học 2019 – 2020) đang  
học ngành Dược hệ Đại học chính quy, tại trường Đại  
học Lạc Hồng và Đại học Công nghệ Miền Đông tại  
Đồng Nai, theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên  
thuận tiện từ tháng 10/2019 đến tháng 12/2019.  
Vừa  
10 - 14  
15 - 19  
≥ 20  
Nặng  
Rất nặng  
Hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha của thang đo  
DASS21 là 0.826; trong đó, hệ số Cronbach’s Alpha  
của các tiểu thang đo stress, lo âu, trầm cảm lần lượt là  
0.882, 0.779 và 0.848, chứng tỏ đây là công cụ có độ tin  
cậy cao (Hoàng & Chu, 2008), phù hợp với mô hình  
nghiên cứu sức khỏe tâm thần của sinh viên thuộc mẫu  
quan sát.  
Đặc điểm khách thể nghiên cứu: Trong số 134  
sinh viên tham gia nghiên cứu, có 65.7% sinh viên Đại  
học Lạc Hồng và 34.3% sinh viên Đại học Công nghệ  
Miền Đông. Tỷ lệ sinh viên nam chiếm 34.3% và nữ  
chiếm 65.7%. Khảo sát về nơi sống hiện nay, có 35.1%  
sinh viên đang sống chung với gia đình, 21.6% sinh  
viên sống ở kí túc xá của trường và 43.3% sinh viên ở  
trọ. Tỷ lệ sinh viên có tình hình tài chính bình thường là  
79.9%, hoàn cảnh khó khăn là 17.9% và sống thoải mái  
chiếm khoảng 2.2%. Xét theo xếp loại học lực của học  
kì gần nhất, tỷ lệ sinh viên đạt loại giỏi là 5.2%; khá là  
37.3%; trung bình là 53.7% và dưới trung bình là 3.7%.  
3. Kết quả nghiên cứu  
3.1. Thực trạng tỷ lệ stress, lo âu và trầm cảm  
ở sinh viên đại học năm cuối ngành Dược tại  
Đồng Nai  
3.1.1. Tính chuẩn phân phối điểm của thang đo  
DASS21  
Kết quả phân tích điểm thu thập từ thang đo DASS21  
trên mẫu khảo sát gồm 134 sinh viên qua mô hình đường  
cong chuẩn Histogram cho thấy trị số trung bình (ĐTB)  
và trung vị (ĐTV) của điểm stress (ĐTB = 9.31; ĐTV =  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
Đề tài được tiến hành theo phương pháp mô tả cắt  
ngang có phân tích là chủ yếu, kết hợp phương pháp  
khảo sát bảng hỏi, trắc nghiệm - gồm: Thang đo stress,  
33  
Nguyễn Thị Bích Tuyền, Nguyễn Thanh Trúc, Lê Kim Phụng  
9.00), trầm cảm (ĐTB = 6.83; ĐTV = 6.00), lo âu (ĐTB  
= 7.01; ĐTV = 6.50) gần bằng nhau, độ xiên Skewness  
dao động trong khoảng từ -1 đến 1 (độ xiên Skewness  
của phân phối điểm stress, lo âu và trầm cảm lần lượt là  
0.250, 0.623, và 0.634). Theo Chan Y.H. (2003), đây  
được coi là các phân phối chuẩn.  
Xét về tỷ lệ lo âu ở sinh viên: Tỷ lệ sinh viên có  
biểu hiện lo âu là 38.8%; trong đó, tỷ lệ sinh viên biểu  
hiện lo âu mức độ nhẹ và vừa lần lượt là 8.2% và  
24.6%; mức độ nặng là 6%.  
Xét về tỷ lệ trầm cảm ở sinh viên: Tỷ lệ sinh viên  
năm cuối ngành Dược ở Đồng Nai có biểu hiện trầm  
cảm là 29.8%; trong đó, mức độ trầm cảm nhẹ chiếm  
18.7%, vừa là 10.4% và nặng chiếm 0.7%.  
3.1.2. Tỷ lệ stress, lo âu và trầm của của sinh viên  
Trong số 134 khách thể nghiên cứu, phần lớn sinh  
viên tham gia nghiên cứu không có biểu hiện stress  
(83.6%), lo âu (61.2%) và trầm cảm (70.1 %). Kết quả ở  
Biểu đồ 1 cho thấy:  
Các tỷ lệ này đều thấp hơn kết quả từ nghiên cứu  
của tác giả Lê Minh Thuận (2011) với tỷ lệ sinh viên  
các khối ngành Y, Dược tại TPHCM có stress nặng là  
2%, lo âu nặng là 11% và trầm cảm nặng là 2% được  
sàng lọc theo thang đo Dass-42.  
Xét về tỷ lệ stress ở sinh viên: Trong số sinh viên có biểu  
hiện stress (16.4%), có 11.9% sinh viên biểu hiện ở mức độ  
nhẹ và 4.5% sinh viên biểu hiện stress ở mức độ vừa.  
Biểu đồ 1. Tỷ lệ stress, lo âu, trầm cảm ở sinh viên  
Xét về tỷ lệ kết hợp số trạng thái rối loạn sức khỏe  
tâm thần (bao gồm có biểu hiện stress, lo âu và trầm  
cảm), 57.5% sinh viên không có bất kì biểu hiện của  
trạng thái nào. Trong khi đó, tỷ lệ sinh viên có biểu hiện  
của cả 3 trạng thái rối loạn sức khỏe tâm thần là 14.2%  
(Xem Biểu đồ 2).  
Biểu đồ 2. Tỷ lệ kết hợp số trạng thái stress, lo âu, trầm cảm của sinh viên  
34  
ISSN: 1859 - 4603, Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục, Tập 10, Số 2 (2020), 32-37  
Những kết quả này cho thấy một số khó khăn đáng  
kể về sức khỏe tâm thần của sinh viên năm cuối khoa  
Dược bậc đại học, nhưng nhóm sinh viên này lại ít có  
khả năng nhận được sự hỗ trợ về tư vấn - tham vấn học  
đường trong trường. Kết quả phỏng vấn sâu 30 sinh viên  
năm cuối ngành Dược cho thấy, có 90% sinh viên “chưa  
từng tìm đến sự hỗ trợ chuyên môn về tâm lý” cung cấp  
ở trong và ngoài trường, và cũng không có ý định sẽ tìm  
kiếm các nguồn lực này. Các nguyên nhân được đưa ra  
để lý giải cho tình trạng này là “do thiếu thời gian đến  
các cơ sở khám và tham vấn tâm lý” (6.7%), “sợ bị lộ  
thông tin cá nhân” (40%), “sợ bị kì thị vì sử dụng các  
dịch vụ liên quan đến sức khỏe tâm thần” (73.3%), “sợ  
chi phí cao” (23.3%), “sợ bị lưu lại tiền sử khám bệnh  
tâm thần trong hồ sơ học tập” (3.3%), và “sợ những can  
thiệp không mong muốn” (6.7%). Tỷ lệ sinh viên năm  
cuối ngành Dược trên địa bàn tỉnh Đồng Nai tiếp cận  
các dịch vụ trợ giúp tâm lý chuyên nghiệp (10%) thấp  
hơn so với kết quả từ một khảo sát gần đây thực hiện  
trên khách thể sinh viên ở Hà Nội (Pham et al., 2020)  
cho thấy, có 12.5% (95% CI: 10.9 – 14.1). Điều này đặt  
ra nhu cầu bức thiết cần phải có chính sách chăm sóc  
sức khỏe tâm thần, thể chất toàn diện cho sinh viên nói  
chung, sinh viên thuộc các khối ngành Y, Dược nói  
riêng, đặc biệt là tại Đồng Nai.  
3.2. So sánh trung bình điểm stress, lo â u và  
trầm cảm ở sinh viên theo một số đặc điểm  
nhân khẩu và xếp loại học lực  
Các kết quả kiểm định so sánh trung bình cho thấy  
stress, lo âu, trầm cảm của sinh viên năm cuối ngành  
Dược tại Đồng Nai không có sự khác biệt ý nghĩa theo  
giới tính, trường học, nơi sống, tình hình kinh tế. Có sự  
khác biệt ý nghĩa thống kê về cả mức độ stress, lo âu,  
trầm cảm (các hệ số p < 0.05) theo xếp loại học lực của  
sinh viên (Xem Bảng 2).  
Bảng 2. Sự khác biệt về mức độ căng thẳng, lo âu và trẩm cảm của sinh viên theo học lực  
Các trạng thái  
Học lực  
ĐTB  
ĐLC  
ANOVA (df = 3)  
Stress  
Giỏi  
11.43  
7.54  
10.31  
9.80  
9.00  
5.34  
8.18  
4.00  
10.14  
4.88  
7.76  
8.20  
5.350  
4.320  
5.169  
6.686  
5.164  
3.745  
4.718  
3.742  
5.984  
4.064  
4.898  
6.058  
F = 3.553  
p = 0.046  
Khá  
Trung bình  
Dưới trung bình  
Giỏi  
Lo âu  
F = 5.328  
p = 0.013  
Khá  
Trung bình  
Dưới trung bình  
Giỏi  
Trầm cảm  
F = 4.730  
p = 0.020  
Khá  
Trung bình  
Dưới Trung bình  
Chú thích: ĐTB - Điểm trung bình; ĐLC - Độ lệch chuẩn; df - số bậc tự do;  
F - Hệ số ANOVA; p - mức ý nghĩa  
Để phân tích sâu hơn sự khác biệt về mức độ stress,  
lo âu, trầm cảm của sinh viên theo học lực, kiểm định  
Post-hoc đã được thực hiện. Sự khác biệt thể hiện rõ  
ràng nhất khi so sánh stress (p = 0.010), trầm cảm (p =  
0.002), lo âu (p = 0.003) giữa nhóm sinh viên có học lực  
“Khá” và “Trung bình”. Kết hợp với điểm trung bình  
stress, lo âu và trầm cảm ở Bảng 2, có thể nói, sinh viên  
học lực trung bình (ĐTBstress = 10.31, ĐTBlo âu = 8.18,  
ĐTBtrầm cảm = 7.76) có tình trạng sức khỏe tâm thần kém  
hơn so với sinh viên học lực khá (ĐTBstress = 7.54,  
ĐTBlo âu = 5.34, ĐTBtrầm cảm = 4.88). Những phát hiện  
này phù hợp với kết quả bài báo đã được công bố trước  
35  
Nguyễn Thị Bích Tuyền, Nguyễn Thanh Trúc, Lê Kim Phụng  
đó, rằng áp lực học tập là yếu tố tác động mạnh mẽ nhất  
đến mức độ stress, lo âu, trầm cảm của của sinh viên  
năm cuối ngành Dược trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, kế  
đến là áp lực từ gia đình. Ngoài ra, dự định về nghề  
nghiệp sau khi tốt nghiệp cũng được xác định là một  
trong những yếu tố nguy cơ có thể dẫn đến rối loạn sức  
khỏe tâm thần ở sinh viên (Nguyễn & Nguyễn, 2020).  
thích là bởi sự tác động từ các yếu tố áp lực trong học  
tập. Đáng chú ý, có mối tương quan thuận khá chặt  
giữa mức độ stress, lo âu và trầm cảm của sinh viên.  
Những kết quả này cung cấp một số bằng chứng về  
thực trạng sức khỏe tâm thần của sinh viên đại học  
năm cuối ngành Dược trên địa bàn tỉnh Đồng Nai; trên  
cơ sở đó, nhóm tác giả đưa ra một số khuyến nghị để  
cải thiện thực trạng này, bao gồm:  
3.3. Mối tương quan giữa stress, lo âu và trầm  
cảm của sinh viên năm cuối ngành Dược tại  
Đồng Nai  
(1) Đối với sinh viên: Cần nhận biết sớm các biểu  
hiện stress, lo âu, trầm cảm của bản thân để lập kế  
hoạch chủ động ứng phó kịp thời, đồng thời, rèn luyện  
kỹ năng học tập hợp lý, hiệu quả hơn.  
Bảng 3. Mối tương quan giữa mức độ tress, lo âu,  
và trầm cảm của sinh viên  
(2) Đối với các cơ sở giáo dục đại học: Cần tăng  
cường các chiến lược can thiệp và phòng ngừa rối loạn  
sức khỏe tâm thần trong bối cảnh giáo dục để cải thiện  
khả năng học tập, giảm các sai sót thực hành lâm sàng  
của sinh viên ngành Dược trong tương lai.  
Lo âu Trầm cảm  
r (Hệ số tương quan) 0.838**  
p (sig) 0.000  
0.774**  
0.000  
Stress  
** Cặp biến có tương quan tuyến tính ở mức tin cậy  
99% (tương ứng mức ý nghĩa 1% = 0.01)  
Tài liệu tham khảo  
Kết quả kiểm định tương quan Pearson ở Bảng 3  
cho thấy mối quan hệ tuyến tính rất chặt chẽ giữa các  
cặp biến stress - lo âu (r = 0.838, p < 0.01), lo âu - trầm  
cảm (r = 0.804; p < 0.01) và stress - trầm cảm (r = 0.774;  
p < 0.01); trong đó, mối tương quan giữa tình trạng  
stress và lo âu của khách thể nghiên cứu là mạnh  
nhất. Nghiên cứu của Lê Minh Thuận (2011) cũng  
cho thấy mối tương quan thuận chặt chẽ giữa 3 tình  
trạng này, nhưng tương quan giữa lo âu - trầm cảm là  
mạnh nhất (r = 0.73). Mối tương quan giữa các trạng  
thái sức khỏe tâm thần này là yếu tố dự báo một số  
vấn đề đáng lo ngại hơn về sức khỏe tổng thể của các  
sinh viên nếu không được can thiệp kịp thời (Kiecolt-  
Glaser JK et al., 2003).  
American Psychiatric Association. (2013). Diagnostic  
and statistical manual of mental disorders (5th  
ed.). Arlington, VA: American Psychiatric  
Publishing.  
Gushae J. (1997). Financial worries part of education  
for Memorial’s medical students. Can Med Assoc  
J, 157(5), 559-562.  
Henning, K.E.S., Shaw, D. (1998). Perfectionism, the  
imposter  
phenomenon  
and  
psychological  
adjustment in medical, dental, nursing and  
pharmacy students. Med Educ, 32(5), 456-64.  
DOI: 10.1046/j.1365-2923.1998.00234.x. PMID:  
10211285.  
Hoàng, T., Chu, N.M.N. (2008). Phân tích dữ liệu  
nghiên cứu với SPSS. NXB Hồng Đức.  
4. Kết luận  
Hysenbegasi, A., Hass, S.L., Rowland, C.R. (2005). The  
impact of depression on the academic productivity  
of university students. J Ment Health Policy Econ,  
8(3), 145-151. PMID: 16278502  
Kessler, R.C., Walters, E.E., et al. (1998). Comorbidity  
of substance use disorders with mood and anxiety  
disorders: results of the International Consortium  
in Psychiatric Epidemiology. Addictive Behaviors,  
Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 134 sinh  
viên đại học năm cuối ngành Dược tại 2 trường Đại  
học ở Đồng Nai cho thấy, tại thời điểm khảo sát, số  
sinh viên có biểu hiện lo âu chiếm tỷ lệ cao nhất  
(38.8%), kế đến là trầm cảm (29.8%), và cuối cùng là  
stress (16.4%). Có sự khác biệt ý nghĩa thống kê về  
mức độ stress, lo âu và trầm cảm của sinh viên xét theo  
xếp loại học lực; cụ thể, sinh viên có học lực trung  
bình trải qua mức độ stress, lo âu và trầm cảm cao hơn  
so với sinh viên có học lực khá; điều này đã được giải  
Kiecolt-Glaser, J. K., Preacher, K. J., MacCallum, R. C.,  
Atkinson, C., Malarkey, W. B., & Glaser, R.  
36  
ISSN: 1859 - 4603, Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục, Tập 10, Số 2 (2020), 32-37  
(2003). Chronic stress and age-related increases in  
the proinflammatory cytokine IL - 6. Proceedings  
of the National Academy of Sciences of the United  
States of America, 100(15), 9090-9095.  
Pham, T. N., Pham, T.T., Nguyen, H.D., Duong, H.A.,  
Bui, D.T, A., Kim, B.G., et al. (2020). Utilization  
of mental health services among university  
students in Vietnam. International Journal of  
Mental  
Health,  
1-  
Lê, T.M. (2011). Sức khỏe tâm lý của sinh viên: Nghiên  
cứu cắt ngang. Tạp chí Y học Thực hành (774), Số  
7, 72-75.  
Marshall, L.L., Allison, A., Nykamp, D., & Lanke, S.  
(2008). Perceived stress and quality of life among  
doctor of pharmacy students. American Journal of  
23. doi:10.1080/00207411.2020.1816114  
Phùng, H.N., Nguyễn, V.H., Lê, H.T.H. (2018). Stress  
của sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang  
năm 2018 và một số yếu tố liên quan. Tạp chí  
Khoa học Nghiên cứu Sức khỏe và Phát triển, tập  
02, số 04, 16-25.  
Pharmaceutical  
Education,  
72(6),  
137.  
Trần, T.D., Trần T., Fisher, J. 2013. Validation of the  
depression anxiety stress scales (DASS) 21 as a  
screening instrument for depression and anxiety in  
a rural community-based cohort of northern  
Vietnamese women. BMC Psychiatry, 13 (1), 24.  
DOI: 10.1186/1471-244X-13-24  
Vaidya, P.M, Mulgaonkar, K.P. (2007). Prevalence of  
depression, anxiety and stress in undergraduate  
medical students and its correlation with their  
academic performance. Indian J of Occup Ther,  
39, 7-10.  
Nguyễn, T.T, Nguyễn, T.B.T. (2020). Các yếu tố ảnh  
hưởng đến stress, lo âu, trầm cảm của sinh viên  
năm cuối ngành Dược tại Đồng Nai. Tạp chí Khoa  
học và Công nghệ - Đại học Đà Nẵng, Tập 18, Số  
10, 10-13.  
Nguyễn, T.T. (2017). Thực trạng Stress, lo âu, trầm cảm  
và các yếu tố liên quan trong sinh viên cử nhân  
trường Đại học Y tế Công cộng năm 2017 - Khảo  
sát bằng bộ công cụ DASS21. Luận văn Thạc sĩ Y  
tế Công cộng. Trường Đại học Y tế Công cộng.  
REALITY OF STRESS, ANXIETY AND DEPRESSION AMONG FINAL-YEAR  
PHARMACY STUDENTS IN DONGNAI  
Nguyen Thi Bich Tuyen, Nguyen Thanh Truc, Le Kim Phung  
National Psychiatric Hospital No. 2, Vietnam  
Abstract: Final-year Pharmacy students are assumed to be at high risk for mental health problems including stress, anxiety and  
depression, especially during the stage prior to graduation. This study is aimed at investigating the reality of stress, anxiety, and  
depression suffered by final-year Pharmacy students’ (in the academic year 2019-2020) at two universities in Dongnai via a cross-  
sectional description based on a Depression, Anxiety and Stress Scale (DASS21) survey questionnaire. The research results from  
134 respondents showed that the proportions of students experiencing stress, anxiety, and depression were 16.4%, 29.8% and  
38.8% respectively, of which severe anxiety accounted for 6%, and severe depression accounted for 0.7% analysis. There were also  
statistically significant differences among groups of students with different academic results. These findings contribute to the  
universities’construction of appropriate intervention strategies to improve students’ mental health with a view to eliminating their  
mistakes in clinical pharmaceutical practice in the future.  
Key words: Final-year student; Pharmacy; Mental health; Dongnai; University.  
37  
pdf 6 trang Thùy Anh 12940 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng stress, lo âu, trầm cảm của sinh viên đại học năm cuối ngành dược tại Đồng Nai", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_stress_lo_au_tram_cam_cua_sinh_vien_dai_hoc_nam_c.pdf