Thực trạng sử dụng trị liệu chơi phát triển kĩ năng chú ý cho trẻ khuyết tật trí tuệ 3 - 6 tuổi
No.23_Oct 2021 |p.145-154
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC TÂN TRÀO
ISSN: 2354 - 1431
REALITY OF USING PLAY THERAPY DEVELOPING ATTENTION SKILLS
FOR INTELLECTUAL DISABILITIES 3 - 6 YEARS OLD
Tran Thi Minh Thanh1, Nguyen Duy Tam2,*
1Hanoi National University of Education, Vietnam
2 Ho Chi Minh City Central Pedagogical College, Vietnam
*Email address: [email protected].vn
Abstract:
Article info
Researching the current situation of using play therapy to develop attention skills
for children with intellectual disabilities aged 3-6 years old, building criteria for
assessing attention skills and conducting research on the actual level of skill
development. attention ability of 30 children with intellectual disabilities 3 - 6
years old, the results showed that the majority of children with intellectual
disabilities 3 - 6 years old achieved the level of development of attention skills
at average and below average levels. The study also built a survey for 35 teachers
and administrators, and 35 parents of children with intellectual disabilities aged
3-6 to find out the reality of using play therapy to develop attention skills for
children. For children with intellectual disabilities aged 3 to 6 years old, research
results show that teachers, administrators, and parents are all rightly aware of the
importance of using play therapy, its effectiveness, convenience and
effectiveness. difficulties when applying play therapy, is considered as a
practical basis for choosing effective methods in the process of developing
attention skills for children with intellectual disabilities 3-6 years old.
Recieved:
Accepted:
Keywords:
play therapy, attention
skills, children with
intellectual disabilities
145
No.23_Oct 2021 |p.145-154
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC TÂN TRÀO
ISSN: 2354 - 1431
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG TRỊ LIỆU CHƠI PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG CHÚ Ý
CHO TRẺ KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ 3 - 6 TUỔI
Trần Thị Minh Thành1, Nguyễn Duy Tâm2,*
1Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội, Việt Nam
2Trường Cao đẳng Sư Phạm Trung Ương TP.HCM, Việt Nam
Thông tin bài viết
Tóm tắt
Nghiên cứu tìm hiểu thực trạng sử dụng trị liệu chơi phát triển kĩ năng chú ý cho
trẻ khuyết tật trí tuệ 3 – 6 tuổi, xây dựng tiêu chí đánh giá kĩ năng chú ý và tiến
hành nghiên cứu thực trạng mức độ phát triển kĩ năng chú ý của 30 trẻ khuyết
tật trí tuệ 3 - 6 tuổi, kết quả cho thấy đa số trẻ khuyết tật trí tuệ 3 - 6 tuổi đạt mức
độ phát triển kĩ năng chú ý ở mức trung bình và dưới trung bình. Nghiên cứu
cũng xây dựng phiếu khảo sát ý kiến dành cho 35 giáo viên và cán bộ quản lí,
35 phụ huynh trẻ khuyết tật trí tuệ 3 – 6 tuổi nhằm tìm hiểu thực trạng sử dụng
trị liệu chơi phát triển kĩ năng chú ý cho trẻ khuyết tật trí tuệ 3 – 6 tuổi, kết quả
nghiên cứu cho thấy giáo viên, cán bộ quản lí, phụ huynh đều nhận thức đúng
đắn về tầm quan trọng của việc sử dụng trị liệu chơi, tính hiệu quả, thuận lợi và
khó khăn khi áp dụng trị liệu chơi, được xem là cơ sở thực tiễn để lựa chọn
phương pháp hiệu quả trong quá trình phát triển kĩ năng chú ý cho trẻ khuyết tật
trí tuệ 3 – 6 tuổi.
Ngày nhận bài: 23/7/2021
Ngày duyệt đăng: 5/9/2021
Từ khóa:
Từ khóa: Trị liệu chơi, kĩ năng
chú ý, trẻ khuyết tật trí tuệ
năng thích ứng và trí tuệ trong các lĩnh vực: khái
niệm, xã hội và thực hành. [14] [15]
1. Mở đầu
Theo Điều 3, Luật người KT (KT) 2010 quy định
KTTT (khuyết tật trí tuệ) là một trong sáu dạng KT
được pháp luật công nhận. Theo cẩm nang chẩn đoán
và thống kê các rối loạn tâm thần (DSM – IV) của
Hiệp hội tâm thần Mĩ (APA) tỉ lệ người KTTT nhẹ
chiếm 85% trong tổng số người KTTT. Dựa vào
phân loại thống kê quốc tế về các bệnh và các vấn đề
liên quan đến sức khỏe phiên bản lần thứ 11 (ICD -
11) được Tổ chức y tế thế giới (WHO) ban hành
2018 cùng với Hiệp hội KTTT và KT phát triển
(KTPT) Mĩ (AAIDD) năm 2007 và DSM – 5 ban
hành 2013, KTTT là một rối loạn khởi phát trong
suốt giai đoạn phát triển, bao gồm sự thiếu hụt khả
Trẻ 3 đến 6 tuổi, KNCY (kĩ năng chú ý) phát triển
phù hợp theo từng độ tuổi giúp trẻ biết cách tri giác,
định hướng cho hoạt động của mình nhằm hoàn
thành tốt nhiệm vụ được giao trong khoảng thời gian
nhất định. Đối với trẻ KTTT khả năng nhận thức, lựa
chọn những kích thích quan trọng và loại bỏ những
kích thích không liên quan kém hơn so với trẻ em
bình thường do đó các kĩ năng tập trung chú ý, duy
trì chú ý, phân phối chú ý và di chuyển chú ý của trẻ
cũng gặp nhiều khó khăn. [11] Trẻ KTTT thường
khó tập trung vào nhiệm vụ, lời nói của người khác
do chú ý được xem như một trạng thái tâm lí đi
146
T.T.M.Thanh et al/ No.23_Oct 2021|p.145-154
“kèm” với hoạt động nhận thức: chăm chú nhìn, lắng
2.1. Khách thể nghiên cứu
tai nghe, tập trung suy nghĩ... [13] Do kĩ năng tập
trung chú ý, duy trì chú ý kém nên việc tiếp nhận và
xử lí thông tin của trẻ KTTT bị gián đoạn, trẻ thường
dễ chán nản, khó hoàn thành nhiệm vụ được giao và
mất động cơ hoạt động. Kết quả nghiên cứu sử dụng
trị liệu chơi là cơ sở thực tiễn của việc đề xuất sử
dụng phương pháp trị liệu chơi để phát triển KNCY
cho trẻ KTTT 3 – 6 tuổi mức độ nhẹ đạt hiệu quả cao
trong quá trình can thiệp. [6] [9]
Nghiên cứu này được tiến hành trên 30 trẻ KTTT
3 – 6 tuổi – mức độ nhẹ và 35 GV (giáo viên) và
CBQL (cán bộ quản lí), 35 PH (phụ huynh) trẻ KTTT
tại Trung tâm Nghiên cứu và Giáo dục trẻ có nhu cầu
đặc biệt trực thuộc trường Cao đẳng Sư phạm Trung
ương thành phố Hồ Chí Minh; Trường Hi Vọng
Quận Gò Vấp; Trường mầm non hoà nhập Ước Mơ.
2.2. Công cụ nghiên cứu
* Tiêu chí đánh giá KNCY của trẻ KTTT nhẹ
3 – 6 tuổi.
2. Khách thể, phương pháp nghiên cứu
Bảng 1. (1) Tiêu chí đánh giá mức độ kiểm soát di chuyển chú ý dựa theo thang đo 6 mức độ
của Cookie và Williams (1987) [1] [4] [10]
Tiêu chí đánh giá mức
độ kiểm soát di chuyển
chú ý
Điểm đạt (kết
quả định
lượng)
Mô tả (định tính)
Trẻ dễ bị xao lãng bởi các kích thích bên ngoài và liên tục
chuyển chú ý từ vật thể, người này sang sự kiện khác. Bất kể
sự kiện nào xuất hiện cũng làm cho trẻ xao nhãng ngay lập tức.
Mức độ 1 – di chuyển
chú ý kém
1
2
Trẻ có thể tập trung vào nhiệm vụ cụ thể mà trẻ lựa chọn nhưng
sẽ không chịu được sự can thiệp về lời nói hay ánh mắt can
thiệp của người lớn. Những trẻ này có thể bộc lộ sự bướng bỉnh
hay ngang ngạnh nhưng trên thực tế trẻ chỉ có thể chú ý ở một
kênh đơn lẻ và trẻ phải bỏ qua tất cả các kích thích bên ngoài
để tập trung vào nhiệm vụ đang thực hiện.
Mức độ 2 – di chuyển
chú ý yếu
Trẻ vẫn chú ý ở một kênh duy nhất, trẻ không thể chú ý vào
kích thích nghe nhìn từ các nguồn khác nhau. Trẻ không thể
nghe những lời chỉ dẫn của người lớn trong khi chơi, nhưng nếu
được người lớn giúp đỡ, trẻ có thể di chuyển chú ý trọn vẹn lời
nói của người lớn vào trò chơi mà trẻ đang chơi.
Mức độ 3 – di chuyển
chú ý trung bình
3
4
Trẻ có thể di chuyển chú ý trọn vẹn thông qua tác động thính
giác và thị giác giữa người chỉ dẫn và nhiệm vụ chú ý nhưng
không cần sự hỗ trợ của người lớn.
Mức độ 4 – di chuyển
chú ý khá
Trẻ có thể di chuyển chú ý giữa kênh chú ý, vừa nghe vừa thao
tác, vừa nhìn vừa thao tác. Trẻ hiểu những chỉ dẫn bằng lời liên
quan đến nhiệm vụ mà không phải gián đoạn hoạt động để nhìn
vào người nói. Thời gian chú ý của trẻ có thể ngắn nhưng trẻ
có thể tập trung vào các chỉ dẫn bằng lời.
Mức độ 5 – di chuyển
chú ý tốt
5
6
Các kênh nghe, nhìn và thao tác bằng tay được phối hợp một
cách trọn vẹn và kĩ năng chú ý của trẻ được thiết lập và duy trì
hiệu quả.
Mức độ 6 – di chuyển
chú ý rất tốt
147
T.T.M.Thanh et al/ No.23_Oct 2021|p.145-154
Bảng 2: (2) Tiêu chí đánh giá mức độ giảm tập trung chú ý dựa theo khối lượng chú ý và cường độ chú ý
(thời lượng chú ý) dựa theo nghiên cứu Barkley (1997) và thang đo hoạt tăng hoạt động chú ý Vanderbilt
[2] [3] [12]
Tiêu chí đánh giá mức
độ giảm tập trung chú
ý của trẻ
Khối lượng chú ý
Cường độ chú ý
Điểm đạt
(kết quả
(Thời lượng chú ý/ 1 lần chú
định lượng)
ý
Mức độ 1 – tập trung chú Tập trung vào một đến 2 thuộc 10 – 45 giây/ 1 lần chú ý
ý kém tính đối tượng.
1
2
3
Mức độ 2 - tập trung chú Tập trung vào 2 – 3 thuộc tính đối 45 – 90 giây/ 1 lần chú ý
ý yếu tượng.
Mức độ 3 - tập trung chú Tập trung vào 3 – 4 thuộc tính đối 1,5 – 2 phút/ 1 lần chú ý
ý trung bình tượng.
Mức độ 4 – tập trung chú Tập trung vào 4 – 5 thuộc tính
ý khá
bên ngoài đối tượng, bắt đầu chú
ý đến các thuộc tính bên trong
của đối tượng.
2 – 3 phút/ 1 lần chú ý
4
Mức độ 5 – tập trung chú Tập trung chú ý tương đối trọn 3 – 4 phút/ 1 lần chú ý
ý tốt vẹn đối tượng
5
6
Mức độ 6 – tập trung chú Tập trung chú ý trọn vẹn bản chất 4 – 5 phút/ 1 lần chú ý
ý rất tốt của đối tượng.
Bảng 3 (3) Tiêu chí đánh giá mức độ duy trì chú ý, dựa trên nghiên cứu của Call (1985)
và chuẩn thời gian chú ý của trẻ MN theo nghiên cứu của Luria [5] [7] [8]
Tiêu chí đánh giá mức độ duy trì chú ý
Thời gian chú ý (phút)
1 - 3 phút
Điểm đạt (kết quả định lượng)
Mức độ 1 – Duy trì chú ý kém
Mức độ 2 – Duy trì trì chú ý yếu
Mức độ 3 – Duy trì chú ý trung bình
Mức độ 4 – Duy trì chú ý khá
Mức độ 5 – Duy trì chú ý tốt
1
2
3
4
5
6
3 – 5 phút
5 - 9 phút
9 – 15 phút
15 – 25 phút
25 – 35 phút
Mức độ 6 – Duy trí chú ý rất tốt
Từ tiêu chí (1) (2) (3) chúng tôi đánh giá mức độ phát triển KNCY của trẻ KTTT nhẹ 3 – 6 tuổi
Bảng 4. Bảng tổng hợp phân loại mức độ phát triển KNCY
Mức độ phát triển KNCY
Mức độ 1 - KNCY kém
Mức độ 2 - KNCY yếu
Mức độ 3 - KNCY trung bình
Mức độ 4 - KNCY khá
Mức độ 5 - KNCY tốt
Điểm đạt
Dưới 6 điểm
6 – 8 điểm
9 – 11 điểm
12 – 14 điểm
15 – 17 điểm
18 điểm
Mức độ 6 - KNCY rất tốt
148
T.T.M.Thanh et al/ No.23_Oct 2021|p.145-154
* Phiếu khảo sát ý kiến dành cho CBQL, GV, PH về mức độ nhận thức các tầm quan trọng của việc phát triển
KNCY và các yếu tố thuận lợi, khó khăn khi sử dụng trị liệu chơi phát triển KNCY cho trẻ KTTT nhẹ 3 – 6 tuổi.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Thực trạng mức độ phát triển KNCY của trẻ KTTT 3 – 6 tuổi
Bảng 5. Tổng hợp kết quả mức độ phát triển KNCY của trẻ KTTT nhẹ 3 – 4 tuổi.
(nhóm đối chứng trẻ thực nghiệm 1: kí hiệu A)
Kí hiệu trẻ
Điểm đạt
mức độ
kiểm soát
di chuyển trung chú
chú ý
Điểm đạt
mức độ
giảm tập
Tổng
điểm đạt
(kết quả
định
tham gia Khảo
sát Nhóm 1 –
A
Điểm
đạt mức
độ duy
trì chú ý
(Trẻ KTTT
nhẹ 3 -4 tuổi)
Xếp loại mức độ phát triển KNCY
ý của trẻ
lượng)
Trẻ A 1
Trẻ A 2
Trẻ A 3
Trẻ A 4
Trẻ A 5
Trẻ A 6
Trẻ A 7
Trẻ A 8
Trẻ A 9
Trẻ A 10
3
2
2
2
3
2
2
2
2
2
1
1
2
2
2
2
2
2
3
2
2
2
2
2
3
2
3
3
2
1
6
5
6
6
8
6
7
7
7
5
Mức độ 2 – KNCY yếu
Mức độ 1 – KNCY kém
Mức độ 2 – KNCY yếu
Mức độ 2 – KNCY yếu
Mức độ 2 – KNCY yếu
Mức độ 2 – KNCY yếu
Mức độ 2 – KNCY yếu
Mức độ 2 – KNCY yếu
Mức độ 2 – KNCY yếu
Mức độ 1 – KNCY kém
Qua kết quả mức độ phát triển kĩ năng chú ý của
trẻ KTTT nhẹ 3 – 4 tuổi, 8/10 trẻ đạt mức độ 2 –
KNCY yếu, chiếm tỉ lệ 80%, khả năng duy trì chú ý
ở trẻ KTTT nhẹ 3 – 4 tuổi chỉ đạt 3 – 5 phút, khối
lượng chú ý của trẻ chỉ tập trung vào 2 – 3 thuộc tính
nổi bật của đối tượng như màu sắc, âm thanh, cường
độ tập trung chú ý 45 – 90 giây/ 1 lần chú ý.
Bảng 6. Kết quả tổng hợp mức độ phát triển KNCY của trẻ KTTT nhẹ 4 – 5 tuổi
(Nhóm đối chứng trẻ thực nghiệm 2: Kí hiệu B)
Kí hiệu trẻ
tham gia Khảo
sát Nhóm 2 –
B
Điểm đạt
mức độ
kiểm soát
di chuyển trung chú
chú ý
Điểm đạt
mức độ
giảm tập
Tổng
điểm đạt
(kết quả
định
Điểm
đạt mức
độ duy
trì chú ý
(Trẻ KTTT
nhẹ 4 - 5 tuổi)
Xếp loại mức độ phát triển KNCY
ý của trẻ
lượng)
Trẻ B 1
Trẻ B 2
Trẻ B 3
Trẻ B 4
Trẻ B 5
Trẻ B 6
Trẻ B 7
Trẻ B 8
Trẻ B 9
Trẻ B 10
3
3
4
3
3
3
2
3
3
3
3
3
3
3
2
3
3
3
3
2
4
3
3
3
3
4
3
3
3
3
10
9
Mức độ 3 – KNCY trung bình
Mức độ 3 – KNCY trung bình
Mức độ 3 – KNCY trung bình
Mức độ 3 – KNCY trung bình
Mức độ 2 – KNCY yếu
10
9
8
10
8
Mức độ 3 – KNCY trung bình
Mức độ 2 – KNCY yếu
9
Mức độ 3 – KNCY trung bình
Mức độ 3 – KNCY trung bình
Mức độ 2 – KNCY yếu
9
8
149
T.T.M.Thanh et al/ No.23_Oct 2021|p.145-154
Dựa theo kết quả đánh giá mức độ phát triển
phút nhưng khối lượng tập trung chú ý được chỉ có 3
– 4 thuộc tính nổi bật bên ngoài của đối tượng. Về
khả năng kiểm soát di chuyển chú ý 80% trẻ KTTT
nhẹ 4 -5 tuổi vẫn chú ý ở một kênh duy nhất, trẻ
không thể chú ý vào kích thích nghe nhìn từ các
nguồn khác nhau.
KNCY của trẻ KTTT, chúng ta nhận thấy có sự phát
triển đáng kể về mức độ duy trì chú ý, 80% trẻ có
thời gian chú ý từ 5 đến 9 phút/ 1 hoạt động, và 20%
trẻ có thể duy trì thời gian chú 9 đến 15 phút/ 1 hoạt
động, khả năng tập trung chú ý của trẻ tăng nhưng
không nhiều, cường độ tập trung chú ý đạt 1,5 đến 2
Bảng 7. Kết quả tổng hợp mức độ phát triển KNCY của trẻ KTTT nhẹ 5 – 6 tuổi
(Nhóm đối chứng trẻ thực nghiệm 3: Kí hiệu C)
Kí hiệu trẻ
tham gia Khảo
sát Nhóm 3 –
C
Điểm đạt
mức độ
kiểm soát
di chuyển trung chú
chú ý
Điểm đạt
mức độ
giảm tập
Tổng
điểm đạt
(kết quả
định
Điểm
đạt mức
độ duy
trì chú ý
(Trẻ KTTT
nhẹ 5 - 6 tuổi)
Xếp loại mức độ phát triển KNCY
ý của trẻ
lượng)
Trẻ C 1
Trẻ C 2
Trẻ C 3
Trẻ C 4
Trẻ C 5
Trẻ C 6
Trẻ C 7
Trẻ C 8
Trẻ C 9
Trẻ C 10
4
4
3
4
3
4
4
3
4
4
3
3
4
4
4
3
4
4
4
4
4
4
3
4
3
3
3
4
4
3
11
11
11
12
10
10
11
11
12
11
Mức độ 3 – KNCY trung bình
Mức độ 3 – KNCY trung bình
Mức độ 3 – KNCY trung bình
Mức độ 4 – KNCY khá
Mức độ 3 – KNCY trung bình
Mức độ 3 – KNCY trung bình
Mức độ 3 – KNCY trung bình
Mức độ 3 – KNCY trung bình
Mức độ 4 – KNCY khá
Mức độ 3 – KNCY trung bình
Từ kết quả tổng hợp mức độ phát triển KNCY của
trẻ KTTT 5 – 6 tuổi chúng ta nhận thấy, 50% trẻ mức
độ duy trì chú ý từ 9 – 15 phút, và 50% còn lại trẻ
chỉ đạt mức độ duy trí chú ý từ 5 – 9 phút/ 1 hoạt
động, phần nào lí giải được tại sao trong giờ học
nhóm lớp, hoặc giờ hoà nhập đại trà trong trường
mầm non trẻ không thể đáp ứng mức độ duy trì chú
ý với thời gian từ 25 – 30 phút, có nghĩa là thời gian
chú ý của trẻ KTTT nhẹ 5 – 6 tuổi chỉ bằng ½ đến
1/3 thời gian chú ý của trẻ bình thường cùng tuổi.
80%
60%
40%
20%
0%
3-4 tuổi
4-5 tuổi
5-6 tuổi
MĐ1MĐ2MĐ3MĐ4MĐ5MĐ6
Biểu đồ 1. So sánh mức độ KNCY ở trẻ KTTT nhẹ theo độ tuổi
150
T.T.M.Thanh et al/ No.23_Oct 2021|p.145-154
Biểu đồ trên cho thấy càng lớn trẻ có KNCY càng tốt
Như vậy, kết quả khảo sát cho thấy tỉ lệ trẻ KTTT
nhẹ 3-6 tuổi có KNCY ở mức độ yếu và kém khá
cao, hơn 40%. Rất ít trẻ đạt ở mức khá (6.7%). Mức
độ KNCY khác nhau ở các độ tuổi khác nhau.
hơn so với lứa tuổi nhỏ. Lứa tuổi 3-4 tuổi, KNCY
chủ yếu ở mức độ 1 và 2. Lứa tuổi 4-6 tuổi chủ yếu
ở mức độ 3. Và mức độ 4 thì chỉ có một số trẻ 5-6
tuổi đạt được.
2.2. Thực trạng nhận thức, thái độ của GV và PH trong việc sử dụng trị liệu chơi phát triển KNCY cho trẻ
KTTT 3 – 6 tuổi
Biểu đồ 2. Nhận thức của GV và PH về mức độ quan trọng của việc
sử dụng trị liệu trong phát triển KNCY cho trẻ KTTT 3 – 6 tuổi
Kết quả khảo sát ở biểu đồ 13 nhận thức của GV và
PH về mức độ quan trọng của việc sử dụng trị liệu
chơi phát triển KNCY cho trẻ KTTT 3 – 6 tuổi cho
ta thấy 88,5 % khẳng định ở mức độ rất quan trọng,
10,3 % là quan trọng. Như vậy, GV và PH đều biết
để phát triển KNCY, phương pháp trị liệu chơi là
phương pháp đem lại tính hiệu quả cao, chính vì vậy
nghiên cứu sử dụng trị liệu phát triển KNCY cho trẻ
KTTT phần nào giúp thực tiễn có thêm cơ sở khoa
học để áp dụng phương pháp rộng rãi hơn.
Biểu đồ 3. Nhận thức của GV và PH về mức độ sử dụng trị liệu chơi
trong phát triển KNCY của trẻ KTTT
151
T.T.M.Thanh et al/ No.23_Oct 2021|p.145-154
Mức độ sử dụng trị liệu chơi mà GV và PH thường
5% cho là cần 5 -7 giờ/ 1 tuần và chỉ 2% là trên 7
giờ. Như vậy, đối với trẻ KTTT để phát triển KNCY
tuỳ vào độ tuổi, mức độ KNCY hiện tại mà nhà trị
liệu chơi có thể tiến hành ít nhất 2 giờ và nhiều nhất
là 5 giờ/ 1 tuần để đạt hiệu quả cao.
sử dụng và đề xuất chiếm 60% là từ 1 – 2 giờ/ 1 tuần,
phù hợp với nguyên tắc thời gian chung của phương
pháp trị liệu chơi cho trẻ có các rối loạn tâm lí, 33%
GV và PH đưa ra mức độ sử dụng 3 – 4 giờ/1 tuần,
Biểu đồ 4. Đánh giá của GV và PH về tính hiệu quả của việc sử dụng trị liệu chơi
trong phát triển KNCY cho trẻ KTTT 3 – 6
Qua biểu đồ 16, 88% GV và PH cho rằng trị liệu
phương pháp trị liệu chơi, việc sử dụng trị liệu chơi
phát triển KNCY cho trẻ KTTT nhẹ 3 – 6 tuổi mang
tính khả thi, kết quả nghiên cứu này là hết sức cần
thiết để khẳng định tính hiệu quả cả về mặt khoa học
và thực tiễn.
chơi là phương pháp rất hiệu quả, chỉ 6% đánh giá
phương pháp ở mức hiệu quả và 4 % ở mức ít hiệu
quả, 2 % cho rằng không hiệu quả. Như vậy, đa số
GV và PH đều đánh giá về mức độ hiệu quả của
Bảng 9. Khó khăn của GV và PH gặp phải khi sử dụng phương pháp trị liệu chơi phát triển KNCY
cho trẻ KTTT 3 – 6 tuổi.
Khó khăn của GV và
GV dạy trẻ KTTT 3
– 6 tuổi
PH trẻ KTTT
3 – 6 tuổi
Chung kết quả 2 khách
PH khi sử dụng trị liệu
chơi phát triển KNCY
cho trẻ KTTT 3 – 6
tuổi
thể
N = 70
(N = 35)
(N = 35)
Số lượng
Tỉ lệ %
Số lượng
Tỉ lệ %
Số lượng
Tỉ lệ %
100%
Không có các bước
hướng dẫn cụ thể, và
chưa có nhiều chương
trình đào tạo, tập huấn
về trị liệu chơi
35/35
100
35/35
100
70/70
Thiếu đồ dùng, đồ chơi,
thiết bị cần có cho
phòng trị liệu chơi
Chưa có sự phối hợp
giữa nhóm đa chức năng
khi thực hiện trị liệu
chơi
32/35
25/35
91,42%
71,42%
25/35
35/35
71,42%
100%
57/70
60/70
81,42%
152
T.T.M.Thanh et al/ No.23_Oct 2021|p.145-154
Chưa đánh giá được
mức độ phát triển
KNCY hiện tại của trẻ
35/35
100%
35/35
100%
70/70
100 %
Theo bảng kết quả khảo sát ý kiến của GV và PH
đưa ra 4 khó khăn lớn cần giải quyết trong quá trình
áp dụng phương pháp trị liệu chơi: 100% GV và PH
đều cho rằng khó khăn lớn nhất là việc không có các
bước hướng dẫn cụ thể, và chưa có nhiều chương
trình đào tạo, tập huấn về trị liệu chơi. 81,42% GV
và PH đều cho rằng khó khăn cần phải khắc phục
ngay là thiếu đồ dùng, đồ chơi, thiết bị cần có cho
phòng trị liệu chơi.
- Chưa có sự phối hợp giữa nhóm đa chức năng
khi thực hiện trị liệu chơi là khó khăn được 85,71%
GV và PH đề xuất, ngoài ra cần có lực lượng của các
nhà trị liệu chơi được đào tạo bài bản. 100 % Chưa
đánh giá được mức độ phát triển KNCY hiện tại của
trẻ được xem là khó khăn lớn cùng tồn tại với thực
tiễn về công tác chẩn đoán đánh giá trẻ.
Bảng 10. Thuận lợi của GV và PH gặp phải khi sử dụng phương pháp trị liệu chơi phát triển KNCY cho
trẻ KTTT 3 – 6 tuổi.
Thuận lơi của GV và PH
khi sử dụng trị liệu chơi
phát triển KNCY cho trẻ
KTTT 3 – 6 tuổi
PH trẻ KTTT
3 – 6 tuổi
GV dạy trẻ KTTT 3 –
6 tuổi
Chung kết quả 2 khách thể
N = 70
(N = 35)
(N = 35)
Số lượng
Tỉ lệ %
Số lượng
Tỉ lệ %
Số lượng
Tỉ lệ %
GV và PH nhận thức rất
tốt về tầm quan trọng
của việc sử dụng trị liệu
chơi phát triển KNCY
cho trẻ KTTT 3 – 6 tuổi
35/35
100
35/35
100
70/70
100%
Trẻ có sự tiến bộ về
KNCY rõ rệt sau 1 tháng
tham gia trị liệu chơi
25/35
15/35
25/35
71,42%
42,85%
71,42%
25/35
35/35
35/35
71,42%
100%
50/70
50/70
60/70
71,42%
71,42%
85,71 %
Có sự phối hợp giữa Ba
Mẹ và GV
Được sự ủng hộ, hỗ trợ
chuyên môn của PH và
BGH trường/ trung tâm
100%
Qua kết quả từ bảng 10 tổng hợp và phân tích kết
quả về thuận lợi khi sử dụng trị liệu chơi phát triển
KNCY cho trẻ KTTT nhẹ 3 – 6 tuổi được GV và PH
đưa ra: 100% GV và PH đều cho mình có nhận thức
đúng đắn về tầm quan trọng của phương pháp trị liệu
chơi trong can thiệp trẻ KTTT, đặc biệt là trong phát
triển KNCY, chính vì vậy PH và GV luôn tìm hiểu
các nguồn tài liệu viết về trị liệu chơi, nhưng số
lượng tài liệu tiếng Việt còn hạn chế. Chiếm 71,42%
GV và PH đều đồng ý kiến là khi sử dụng trị liệu
chơi trẻ sẽ có sự tiến bộ rõ rệt sau 1 tháng. Đối với
PH thuận lợi là việc 100% PH phối hợp với GV
nhưng thực tế GV vẫn chưa nhận thấy được sự phối
hợp của PH và chỉ đạt 42,85%. Được sự ủng hộ và
hỗ trợ chuyên môn của BGH và PH chiếm 85,71 %
ý kiến đồng tình.
4. Kết luận
Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số trẻ KTTT nhẹ
3-6 tuổi đạt mức độ chú ý ở mức trung bình và dưới
trung bình (hơn 90%). Trong đó có hơn 40% ở mức
độ yếu và kém, 50% ở mức trung bình. Độ tuổi khác
nhau mức độ chú ý khác nhau. Mỗi trẻ có khả năng
153
T.T.M.Thanh et al/ No.23_Oct 2021|p.145-154
neuropsychiatric problems. International Journal of
duy trì chú ý, tập trung chú ý và di chuyển chú ý khác
nhau. Trong quá trình chăm sóc – giáo dục trẻ KTTT,
GV và PH đều nhận thức đúng đắn về biểu hiện
KNCY, ý nghĩa của việc phát triển KNCY ở trẻ, đặc
biệt là tầm quan trọng của việc sử dụng trị liệu chơi
phát triển KNCY của trẻ KTTT nhẹ 3 – 6 tuổi, tính
hiệu quả và những thuận lợi và khó khăn mà GV và
PH gặp phải khi áp dụng phương pháp phát triển
KNCY của trẻ KTTT nhẹ 3 – 6 tuổi.
Play Therapy, 21(1), 30-44. CA, USA: Association
for Play Therapy.
[4] Bratton, S., Ray, D., Rhine, T., & Jones, L.
(2005). The efficacy of play therapy with children: A
meta-analytic review of the outcome research.
Professional Psychology: Research and Practice,
36(4), 376-390.
[5] Brown, R. & Brown, I. (2005). The
application of quality of life. Journal of Intellectual
Disability Research, 49(10), 718 – 727.
Mặc dù nhận biết được tầm quan trọng của
phương pháp trị liệu chơi trong phát triển chú ý của
trẻ KTTT 3 – 6 tuổi nhưng chưa thật sự hiểu rõ được
cơ sở lí luận, các bước vận dụng chủ yếu dựa trên
kinh nghiệm và dựa trên số ít các tài liệu cũng như
các khoá tập huấn trong thời gian ngắn. Số lượng các
trẻ đông, số lượng giờ can thiệp nhóm và cá nhân
không đảm bảo được chương trình giáo dục điều
chỉnh. Chưa có sự phối hợp giữa các chuyên gia đa
ngành, đặc biệt không có chuyên gia trị liệu chơi trên
thực tế chỉ có GV GDĐB và GV MN là chính, hiện
nay có thêm chuyên gia tâm lí học đường và nhân
viên công tác xã hội nhưng chưa phát huy đúng và
đầy đủ vai trò của mình tham gia trong quá trình can
thiệp trẻ KTTT.Điều kiện cơ sở vật chất còn thiếu,
chưa có phòng trị liệu chơi, tại trung tâm nghiên cứu
và giáo dục trẻ có nhu cầu đặc biệt có phòng tâm vận
động nhưng trang bị vẫn chưa hoàn thiện. Công tác
chẩn đoán y tế, chẩn đoán tâm lý và đánh giá giáo
dục còn nhiều bất cập nên thông tin và hồ sơ cá nhân
của trẻ không đầy đủ, thiếu thông tin, GV và PH chưa
đánh giá đúng mức độ phát triển của trẻ đặc biệt
KNCY của trẻ.
[6] Vo Thi Minh Chi (2004), Neuropsychology,
Hanoi National University Publishing House.
[7] Demanchick, S. P., Cochran, N. H., &
Cochran, J.L. (2003). Person-centred play therapy
for adults with developmental disabilities.
International Journal of Play Therapy, 12(1).
[8] Diagnostic and Statistical Manual of Mental
Disorders, Fifth Edition (DSM-5) (2013)
[9] Doan, P.V (1993), Children with delayed
intelligence, Vietnam Education Publishing House.
[10] International Classification of Diseases for
Motality and Morbility Statistics Eleventh Revision
(ICD -11) (2018), World Health Organization.
[11] Hai, N.X. (2009), Education for children
with disabilities, Vietnam Education Publishing
House.
[12] Hanh, N.T. (2019), Assessment of children
with intellectual disabilities, Vietnam Education
Publishing House.
[13] Hang, L.T.T. (2015), Early intervention for
children with disabilities, Vietnam Education
Publishing House.
REFERENCES
[1] Axline, (1994) Dibs in search of self, To Thi
Anh, translated by Vu Trong Ung, Tu Publishing
House.
[14] Hue, T.T.X. (2015), Game Theory: “Game
Technology in Early Childhood Education and
Special Education”, Ho Chi Minh City University of
Education Publishing House
[2] Axline, V.M (1947). Play therapy. London:
Churchill Livingstone.
[15] Hue, T.T.X. (2006), Collection of games to
treat psychological disorders for preschool children
with disabilities, Ho Chi Minh City University of
Pedagogical University Publishing House.
[3] Barfield, S., Dobson, C., Gaskill, R. L., &
Perry, B. D. (2012). Neurosequential model of
therapeutics in
a
therapeutic preschool:
Implications for work with children with complex
154
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng sử dụng trị liệu chơi phát triển kĩ năng chú ý cho trẻ khuyết tật trí tuệ 3 - 6 tuổi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
thuc_trang_su_dung_tri_lieu_choi_phat_trien_ki_nang_chu_y_ch.pdf

