Vai trò kiến tạo của chính phủ nhằm tạo động lực phát triển kinh tế xã hội Việt Nam giai đoạn 2016-2020

VAI TRÕ KIẾN TẠO CỦA CHÍNH PHỦ NHẰM TẠO ĐỘNG LỰC  
PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2016-2020  
GS.TS. Nguyễn Đình Hương  
Hội đồng KH&ĐT, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân  
Năm 2016, Việt Nam đã trải qua 30 năm đổi mới chuyển sang kinh tế thị  
trường đã đạt được một số thành tựu trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại  
hóa đất nước.  
Hiện tại, đất nước đang đứng trước sức ép lớn của tình hình thế giới với  
cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và xu hướng toàn cầu hóa đang dịch  
chuyển sang xu hướng dân túy lấy lợi ích dân tộc làm đầu. Do hoàn cảnh lịch sử  
của chiến tranh, Việt Nam chưa trải nghiệm ba cuộc cách mạng công nghiệp của  
thế giới.  
Qua 30 năm đổi mới, nhưng bước đi CNH, HĐH còn chậm trong khi một  
số nước như Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan,… đã thực hiện thành công CNH,  
HĐH trong 20 năm. Bí quyết thành công của các nước công nghiệp mới không  
phải là tài nguyên mà là con người và thể chế. Vai trò kiến tạo của Chính phủ là  
phải lấy con người và thể chế để khơi thông điểm nghẽn, tạo động lực phát triển  
kinh tế - xã hội đất nước tiến nhanh, tiến mạnh.  
1. Việc cần làm ngay của Chính phủ là hoàn thiện thể chế và tạo môi  
trường kinh doanh cho kinh tế tư nhân phát triển. Kinh tế thị trường có động lực  
phát triển là kinh tế tư nhân. Muốn kinh tế tư nhân phát triển quy mô lớn phải tạo  
cơ hội cho các đại gia tự do kinh doanh làm giàu trong nhiều lĩnh vực công  
nghiệp, nông lâm, thủy sản, dịch vụ. Cho phép tư nhân phát triển từ doanh  
nghiệp nhỏ, vừa đến lớn, kinh doanh trong và ngoài nước theo Quy định của  
pháp luật Việt Nam và quốc tế.  
2. Hoàn thiện thể chế và phát triển nguồn lực đầu tư vào nông nghiệp công  
nghệ cao hiệu quả. Ưu tiên cho kinh tế tư nhân phát triển trong lĩnh vực nông,  
lâm, ngư nghiệp. Chuyển tư duy kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại sang doanh  
nghiệp quy mô lớn có năng lực đưa nông nghiệp công nghệ cao vào sản xuất,  
kinh doanh lớn, chất lượng cao, có thương hiệu trên trường quốc tế. Thể chế về  
233  
đất đai cần sớm thay đổi để tập trung hạn điền. Sử dụng máy móc trong nông  
nghiệp từ khâu sản xuất đến chế biến, nông dân trở thành công nhân. Các doanh  
nghiệp nông nghiệp được sử dụng đất đai quy mô lớn từ vốn cổ phần trong các  
doanh nghiệp nông, lâm, ngư nghiệp. Sớm giải phóng đất đai lao động tự do kinh  
doanh, sản xuất theo thị trường với quy mô lớn, có sức cạnh tranh để ứng dụng  
nông nghiệp công nghệ hiệu quả cao đang là sự bức bách của nông nghiệp, nông  
thôn, nông dân trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp ở nước ta. Chuyển nông  
thôn sang đô thị hay mở rộng đô thị đến nông thôn là công việc phải làm nhanh  
khi các địa phương đã hoàn thành các chỉ tiêu xây dựng nông thôn mới. Muốn  
chuyển nông thôn sang đô thị hay mở rộng đô thị đến nông thôn cần phải có quy  
hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng: đường, điện, nhà ở,… theo kiến trúc đô thị và  
phải chuyển toàn bộ lao động nông nghiệp sang phi nông nghiệp là một chiến  
lược dài hạn nhưng không thể chậm trễ.  
3. Cùng với việc đưa nông nghiệp công nghệ hiệu quả cao vào nông, lâm,  
ngư nghiệp là việc đưa du lịch thành ngành công nghiệp không khói.  
Du lịch đặc biệt là du lịch biển là thế mạnh của Việt Nam mà ít nước trên  
thế giới có được lợi thế như nước ta.  
Tài nguyên du lịch biển là một ưu thế đặc biệt của Việt Nam. Dọc bờ biển  
nước ta có hàng trăm bãi tắm, trong đó có những bãi tắm có chiều dài lên đến  
15-18 km và nhiều bãi tắm có chiều dài 1-2 km là điều kiện thuận lợi khai thác  
phát triển du lịch biển.  
Các bãi biển của nước ta phân bố trải đều từ Bắc vào Nam. Từ Móng Cái  
đến Hà Tiên có hàng loạt các bãi tắm đẹp như Trà Cổ, Sầm Sơn, Cửa Lò, Thiên  
Cầm, Cửa Tùng, Lăng Cô, Mỹ Khê, Đại Lãnh, Nha Trang, Ninh Chữ, Mũi Né,  
Vũng Tàu, Hà Tiên,…  
Chúng ta không chỉ có bờ biển dài mà còn có hệ thống đảo và quần đảo  
phong phú, trải dài từ vùng biển Quảng Ninh đến Kiên Giang. Theo thống kê,  
ven bờ nước ta có 2.733 đảo lớn, nhỏ các loại với tổng diện tích vào khoảng  
1.700 km2 . Trong đó có 24 đảo có diện tích tương đối lớn (trên 10km2), 82 đảo  
có diện tích lớn hơn 1 km2 và khoảng 1.400 đảo chưa có tên. Đặc biệt, có ba đảo  
có diện tích trên 100km2 là Phú Quốc, Cái Bầu và Cát Bà.  
Bên cạnh đó, các tỉnh ven biển nước ta còn có nhiều nơi có các di tích,  
danh lam thắng cảnh, các làng nghề truyền thống, các lễ hội. Hiện nay Việt Nam  
234  
có đến 7 di sản thiên nhiên, văn hóa thế giới được UNESCO công nhận đều nằm  
ở các tỉnh ven biển (Quảng Ninh, Quảng Nam, Thừa Thiên Huế, Quảng Bình)  
nên sẽ là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch biển mạnh hơn. Hệ thống cảng  
biển của nước ta hiện nay đủ tiêu chuẩn để đóng các tàu khách quốc tế cỡ lớn.  
Sự kết hợp hài hoà giữa cảnh quan tự nhiên với cảnh quan văn hóa – xã hội  
của biển, vùng ben biển và các hải đảo cùng với điều kiện thuận lợi về vị trí, địa  
hình của vùng ven biển đã tạo cho du lịch biển có lợi thế phát triển phát triển hơn  
hẳn so với nhiều loại hình du lịch khác trên đất liền.  
4. Hoàn thiện thể chế và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong  
lĩnh vực giáo dục đào tạo.  
Muốn thực hiện thành công CNH, HĐH cần phải có nguồn nhân lực chất  
lượng cao mà giáo dục đào tạo phải đi đầu. Cần hoàn thiện hệ thống giáo dục  
quốc dân theo kịp với hệ thống quốc tế và thực tiễn Việt Nam.  
Cần quy hoạch lại hệ thống giáo dục đại học để đi đầu của quốc gia khởi  
nghiệp. Trước mắt cần đào tạo lại, đào tạo bổ sung kỹ năng ngoại ngữ, kỹ năng  
tin học và kỹ năng nghề nghiệp cho bộ đội xuất ngũ, số sinh viên thất nghiệp đưa  
vào các ngành nghề như du lịch, nông nghiệp công nghệ cao, dịch vụ, xuất khẩu  
lao động có tay nghề. Cần đầu tư xây dựng các cơ sở đại học chất lượng cao có  
thương hiệu quốc tế cả công lập, tư thục và các cơ sở Đại học có yếu tố nước  
ngoài, xây dựng phân hiệu của đại học có thương hiệu đặt tại Việt Nam.  
5. Hoàn thiện quy hoạch phát triển đất nước đến năm 2020 lấy ba dải lãnh  
thổ làm cơ sở liên kết ngành, liên kết vùng tạo ra sức mạnh tổng hợp để đưa du  
lịch, nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp phát triển nhanh đủ lực sớm hoàn thành  
CNH, HĐH chuyển sang kinh tế tri thức.  
- Dải ven biển hải đảo nước ta gồm 28 tỉnh thành với 3.260 km bờ biển,  
khoảng gần 4000 hòn đảo lớn nhỏ như Phú Quốc, Côn Đảo, Quần đảo Trường Sa,  
Hoàng Sa là tiềm năng vô cùng lớn để phát triển du lịch biển, kết hợp kinh tế với  
quốc phòng. Trước mắt, cần đầu tư tạo kinh tế cho ngư dân đánh bắt xa bờ, phát  
triển du lịch nuôi trồng thủy sản kết hợp với phát triển giao thông đường biển.  
- Dải đồng bằng với hai vựa lúa thuộc đồng bằng sông Hồng, đồng bằng  
sông Cửu Long thuộc Đông Nam Bộ. Trước mắt cần khuyến khích đầu tư đưa  
công nghệ sinh học và thủy lợi để khai thác đất đai, sớm có chính sách hạn điền  
235  
để quy tụ ruộng đất, cho nông dân lấy đất đóng cổ phần vào doanh nghiệp, hỗ trợ  
doanh nghiệp tập trung ruộng đất mở rộng quy mô ứng dụng công nghệ cao vào  
sản xuất hàng hóa xuất khẩu.  
- Dải miền núi, trung du, Tây Nguyên gồm 19 tỉnh từ Hà Giang đến Lâm  
Đồng cần ưu tiên quy tụ ruộng đất trồng cây công nghiệp, trồng rừng, đào tạo  
con em dân tộc có ngoại ngữ, có nghề xuất khẩu lao động.  
Chính phủ kiến tạo phải là Chính phủ chuyên nghiệp, đồng bộ có bộ máy  
tinh xảo. Cần tinh giảm biên chế hành chính, tạo cơ hội để một bộ phận công  
chức sang làm dịch vụ và khởi nghiệp doanh nghiệp tư nhân từ Trung ương đến  
địa phương. Cần huy động chuyên gia trong và ngoài nước tham gia hoạch định  
chính sách hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường cho sự phát triển của đất nước  
giai đoạn 2016-2020 tạo nền tảng phát triển dài hạn của đất nước trong những  
nhiệm kỳ tiếp theo.  
236  
pdf 4 trang Thùy Anh 13200 Free
Bạn đang xem tài liệu "Vai trò kiến tạo của chính phủ nhằm tạo động lực phát triển kinh tế xã hội Việt Nam giai đoạn 2016-2020", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvai_tro_kien_tao_cua_chinh_phu_nham_tao_dong_luc_phat_trien.pdf