Phát huy vai trò của Chính phủ kiến tạo giải quyết bài toán “bước hẫng” TPP cho doanh nghiệp Việt Nam
PHÁT HUY VAI TRÕ CỦA CHÍNH PHỦ KIẾN TẠO
GIẢI QUYẾT BÀI TOÁN “BƯỚC HẪNG” TPP
CHO DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
ThS. Lê Quốc Anh
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Tóm tắt
Quyết từ chính phủ xoay sở - đối phó, tiến lên thành Chính phủ kiến tạo, là mục
tiêu phấn đấu hàng đầu, của Chính phủ nhiệm kỳ 2016-2020, ở nước ta. Nhiệm vụ đó
thật không dễ thực hiện trong điều kiện hiện nay, nhưng hướng phấn đấu đó lại là trợ
lực quan trọng cho cộng đồng doanh nghiệp (DN) Việt Nam; khi họ vừa phải nhận cú
sốc: Mỹ rút khỏi TPP, chính thức “khai tử” hiệp định này, tạo ra “bước hẫng” lớn trên
con đường phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT). Để làm sáng tỏ vấn đề:
Chính phủ cần phải làm gì để vừa đạt mục tiêu của mình, vừa hỗ trợ tốt nhất cho DN
trước“bước hẫng” TPP, bài viết này tập trung nghiên cứu: (1) Chính phủ kiến tạo với
các DN gặp sự cố vĩ mô; (2) “Bước hẫng” TPP của DN Việt Nam; và (3) Để chính phủ
kiến tạo gỡ khó cho DN trước “bước hẫng” TPP, hòng đưa quản trị quốc gia của nước
ta tiến lên một tầm cao mới, đồng thời tạo điều kiện cho DN nước nhà mau qua cơn sốc,
biến “bước hẫng” TPP thành cơ hội phát triển.
Từ khóa: Bước hẫng, HNKTQT, TPP
Abstract
PROMOTING THE ROLE OF A TECTONIC GOVERNMENT TO SOLVE THE
C SE OF THE TPP “MISSTEP” FOR VIETN M‟S ENTERPRISES
Absolute determination to move on from being a coping - dealing government to a
„tectonic‟ administration has been listed among our government‟s top goals during the
2016 - 2020 term. While such task is hardly manageable given our current conditions,
this developmental direction will be a crucial supporting element for Vietnam‟s business
community, when they have just recently suffered the blow of America‟s withdrawal
from the TPP, which officially “put an end” to this Agreement, thus resulting in a
sizable “misstep” for them on the road of development and international business
integration. In order to illustrate the issue: Which steps the government should take to
not only reach their target, but also most actively assist enterprises with their TPP
“misstep”, this article focuses on: (1) A „tectonic government‟ and the enterprises‟
macro level incidents; (2) The TPP “misstep” of Vietnam‟s enterprises; and (3) How
should the „tectonic government‟ provide enterprises with careful guidance in the face
of their TPP “misstep”, so as to elevate our nation‟s administration, as well as greatly
facilitate the enterprises‟ ability to overcome their initial shock, and quyckly turning the
TPP “misstep” into a development opportunity.
311
1. Đặt vấn đề
Điều 30.5 “Chương 30 Điều khoản thi hành” của TPP quy định: Hiệp định
có hiệu lực khi được ít nhất 6/12 nước phê chuẩn sau 2 năm, tức trước ngày
04/02/2018, và các nước này phải đóng góp trên 85% GDP của khối, nghĩa là
không thể thiếu Mỹ hoặc Nhật Bản. Do đó, sắc lệnh hành pháp ngày 23/1/2017
của Tổng thống Donald Trump, chính thức rút khỏi TPP, theo luật Mỹ sẽ có hiệu
lực mà không cần Quốc hội phê chuẩn, là bản án “khai tử” đối với TPP. Đây là
cú sốc mạnh, tạo ra sự thất vọng lớn đối với phần lớn lãnh đạo, bộ phận tinh hoa,
chuyên gia kinh tế, người theo dõi và dân chúng của các quốc gia vừa ký TPP.
Đối với cộng đồng DN Việt Nam, sự “chết lâm sàng” của TPP không chỉ là cú
sốc mạnh, mà còn tạo ra một “bước hẫng” lớn trên con đường phát triển. Bởi lẽ,
bên cạnh các tác động tiêu cực chung, mà họ phải gánh chịu do là thành tố của
nền kinh tế, họ còn phải tự mình đối phó với các tác động riêng cụ thể, đang làm
mờ đi các hy vọng, đe dọa phá đi các nỗ lực đầu tư, chuẩn bị đón đợi từ mấy năm
qua. Dù rằng: trong hoàn cảnh khó khăn này, một thế hệ mới về Chính phủ kiến
tạo (CPkt) đang hình thành và phát huy tác dụng, song để hỗ trợ DN như đang
làm là chưa đủ. Để vừa tự nâng tầm quản trị quốc gia của mình, vừa hỗ trợ DN
trước sự cố, tiếp tục phát triển, HNKTQT thành công; Chính phủ cần làm tiếp
thêm những gì, để giảm thiểu thiệt hại, tăng thêm lợi ích, biến “bước hẫng” TPP
thành cơ hội phát triển - là các vấn đề cần được nghiên cứu kỹ, khẩn trương trong
giai đoạn hiện nay.
2. Cơ sở lý thuyết và phƣơng pháp nghiên cứu
Là một chuyên đề phân tích kinh tế, nên cơ sở lý thuyết chính được dùng là
văn kiện TPP; là Luật Tổ chức Chính phủ 2015, số: 76/2015/QH13; sau đó là các
thông tin, nhìn nhận, đánh giá về TPP, về Chính phủ và các diễn thế có thể, của
các cơ quan chuyên ngành, các người tham gia, chuyên gia, nhà nghiên cứu trong
các lĩnh vực có liên quan. Bên cạnh đó, để phân tích, cần dựa trên các lý thuyết
cơ bản về kinh tế học - cả vĩ mô và vi mô, kinh tế ngành, kinh tế phát triển, quản
trị học, quản trị DN, tài chính DN, xã hội học,… Từ cơ sở là các tài liệu thu thập
được, tiến hành nghiên cứu thông qua các phương pháp, như: phương pháp phân
tích và tổng hợp lý thuyết, phương pháp chuyên gia, phương pháp phân tích tổng
kết kinh nghiệm, phương pháp nghiên cứu lịch sử,… Trên quan điểm duy vật
312
biện chứng, khi nghiên cứu: dùng phép diễn dịch để suy đoán các hệ quả, dùng
phép so sánh để đưa ra các nhận định, từ đó sử dụng phép quy nạp để đưa ra các
kết luận, tổng hợp lại để đề đạt các khuyến nghị, giải pháp.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Chính phủ kiến tạo với các DN gặp sự cố vĩ mô
3.1.1. Chính phủ kiến tạo - tinh hoa của mô hình chính phủ thứ ba
Thuật ngữ “CPkt” được nhà nghiên cứu Chalmers Johnson đưa ra từ những
năm 1980, khi nghiên cứu về chính phủ Nhật Bản dưới sự lãnh đạo của Thủ
tướng Ikeda Hayato, giai đoạn 1960-1964, nhân tố chính tạo ra “Thần kỳ kinh tế
Nhật Bản 1951-1973”. Ông nhận thấy đây là mô hình chính phủ thứ ba, nằm
giữa hai mô hình chính phủ điển hình của thời kỳ này là: Chính phủ điều chỉnh ở
các nước theo mô hình thị trường tự do; và Chính phủ kế hoạch hóa tập trung
quan liêu ở các nước phủ nhận vai trò của thị trường. Điểm nhấn trong mô hình
CPkt, là chính phủ coi trọng vai trò của thị trường, nhưng không tuyệt đối hóa
nó, mà chủ động, tích cực can thiệp hợp lý, để định hướng thị trường1. Sau đó,
dáng dấp của mô hình chính phủ này còn được thể hiện ở vài nước châu Á trong
giai đoạn “hóa Rồng”, ở Trung Quốc gần mười năm đầu sau cải cách 1978, ở các
nước Đông u trong những năm đầu chuyển đổi kinh tế,… Mặt khác, sau các
cuộc khủng hoảng kinh tế ở những năm 1970, sự sụp đổ của các nước XHCN
Đông u, hai mô hình chính phủ cơ bản đều lộ nhiều khiếm khuyết, cần đổi mới,
điều chỉnh. Và đến khi Triều Tiên cũng tìm cách phát triển kinh tế thị trường2, thì
có thể nói: toàn thế giới đã chuyển sang dần mô hình chính phủ thứ ba. Song, đa
số tuyệt đối các nền kinh tế, kể cả các cường quốc, cả vài nước từng có “CPkt”,
vẫn đầy bất ổn; khiến người ta nhận ra: các chính phủ trong mô hình thứ ba,
không phải đều là tốt đẹp, mà hầu hết chỉ là “Chính phủ xoay sở - đối phó”.
“CPkt” chỉ là một biến thể hiếm có, là tinh hoa trong nhóm mô hình này, nó chỉ
xuất hiện và phát huy tác dụng trong những giai đoạn nào đó, ở các nước mà lúc
đó hội tụ đầy đủ các điều kiện cần thiết. Còn ở các nước có hệ thống chính trị
“kép”, nếu muốn có “CPkt”, thì trước tiên phải chuyển được từ “Nhà nước xoay
sở - đối phó”, sang thành “Nhà nước kiến tạo - phát triển”.
313
3.1.2. Đặc trưng của CPkt
Có nhiều quan điểm về “CPkt”, nhưng nếu nhìn lại ba CPkt điển hình:
Chính phủ Ikeda Hayato của Nhật Bản (1960-1964), Chính phủ Park Chung-Hee
của Hàn Quốc (1961-1979) và Chính phủ Trung Quốc thời Đặng Tiểu Bình tiến
hành Cải cách kinh tế (1978-1987) thì chúng có các đặc điểm lớn, là: (1) Có lãnh
đạo tầm cỡ nắm quyền điều hành, chủ động cải cách mạnh mẽ “Chính phủ xoay
sở - đối phó” đang có, sang hướng kiến tạo - phát triển; (2) Có một chủ thuyết
phát triển mới, khoa học, làm kim chỉ nam cho đầu tư chiến lược, lâu dài; (3) Có
một cách thức mới để thực hiện, khả thi; (4) Quá trình thực thi nghiêm chỉnh,
không dàn trải, toàn dụng được các nguồn lực; (5) Được sự hưởng ứng nhiệt
thành của dân chúng. Đạt được năm chuẩn mực cao này là điều rất khó đối với
mọi chính phủ, nhất là các chính phủ vừa mới tiếp quản quyền lãnh đạo đất nước
từ một CPkt thành công, hoặc chủ thuyết phát triển tốt, mới chỉ được thực thi sau
một thời gian ngắn, trong khoảng vòng đời tích cực thường khoảng 20 năm. Do
đó, nếu một chính phủ nào đó, chỉ cần luôn đề ra được những chính sách bao
quát, có tầm nhìn phát triển và tiến hành các biện pháp bảo đảm hệ thống cơ
quan cấp dưới hiện thực hóa được các chính sách đó (Tô Văn Hòa, 2017), mà
duy trì được mức độ tăng trưởng, thì vẫn được xem là CPkt. Thuộc nhóm này có
thể kể ra: Chính phủ Satô Eisaku của Nhật Bản (1964-1972); các Chính phủ Hàn
Quốc sau thời Tổng thống Park Chung-Hee; hoặc ba Chính phủ của Trung Quốc
trong giai đoạn 1988-2013,… Thậm chí, ở các nước phát triển chưa cao, một
Chính phủ thiết kế được chính sách thông minh, xóa bỏ rào cản kìm hãm phát
triển, để mọi người, tổ chức, DN có thêm không gian hoạt động, sáng tạo, cống
hiến, mang lại giá trị mới cho đất nước,… thì cũng được xem là CPkt.
Theo Võ Trí Thành (2017), nội hàm của CPkt có bốn chiều cạnh, là:
(1) Bản thân phải đủ năng lực, đủ minh bạch, đủ khả năng giải trình; (2) Có đủ
khả năng tạo ra tầm nhìn tốt và chính sách tốt, từ tư duy, tầm nhìn, thiết kế thực
thi, và như vậy phải rất chuyên nghiệp; (3) Tương tác thân thiện với xã hội,
người dân, với thị tường và doanh nghiêp, với sự minh bạch và trách nhiệm giải
trình; (4) Biết tạo ra và chia sẻ sự phát triển3. Còn ở góc độ Nhà nước, thì theo
Vũ Minh Khương (2013), Nhà nước kiến tạo phát triển có năm đặc điểm khác
biệt với Nhà nước xoay sở - đối phó, là: (1) tuyển dụng cán bộ vào cơ quan Nhà
nước thật sự minh bạch và cạnh tranh; (2) tiêu chuẩn lựa chọn và đề bạt là coi
314
trọng hiền tài; (3) hoạch định và phối thuộc chiến lược phát triển được thực hiện
bởi các cơ quan chuyên trách, với những cán bộ ưu tú và trách nhiệm đặc biệt;
(4) hợp tác giữa Nhà nước và tư nhân chặt chẽ, gắn bó; và (5) luật chơi trên thị
trường rõ ràng và nghiêm minh4,… Các góc nhìn khác nhau đó, về cơ bản, vẫn
xoay quanh nội dung quản trị, nghĩa là hoạt động của một hay một số người
nhằm phối hợp các hoạt động của người khác để đạt được mục tiêu; thông qua
hoạch định, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát các nguồn lực của tổ chức. Nhưng đây
là quản trị quốc gia, nên là việc hình thành và phát triển chế độ chính sách, tạo
không gian hoạt động công, trong đó các tổ chức trong và ngoài khu vực Nhà
nước cùng tham gia quyết định những vấn đề có ảnh hưởng tới an sinh, phúc lợi
của công dân. Tùy theo Hiến pháp, ở nhiều nước “Nhà nước kiến tạo phát triển”
đồng nhất với “CPkt”; còn ở nước có hình thức chính trị kép, thì “CPkt” chỉ là bộ
phận quan trọng của Nhà nước đó.
3.1.3. Vai trò của chính phủ kiến tạo trước các DN gặp sự cố vĩ mô
Là bộ phận chủ yếu tạo ra GDP, góp phần giải phóng và phát triển sức sản
xuất, huy động và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần quyết
định vào phục hồi và tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu
ngân sách và tham gia tạo việc làm, xoá đói, giảm nghèo,... làm cho DN trở
thành trung tâm của nền kinh tế. Và đến khi việc: HNKTQT sâu rộng là điều
không thể tránh khỏi, thì việc củng cố, nâng cấp, phát triển hệ thống DN quốc gia
trở thành nhiệm vụ hàng đầu của mọi chính phủ. Vì lẽ đó, khi có sự cố vĩ mô, đa
phần DN bị tác động, thì việc gỡ khó cho chúng là trách nhiệm phải làm, bởi
thực chất đó là cứu chính phủ, cứu nền kinh tế. Hơn nữa, khi đã là “CPkt” thì
trách nhiệm đó càng thêm to lớn, bởi vì: (i) Điều cần nhất của DN sau cú sốc là
xử lý hậu quả, cùng phương hướng phát triển mới cần có, nhất là đối với các DN
bị tác động mạnh, đến mức cần phải tái cơ cấu, thì họ cần CPkt hỗ trợ, mở tầm
nhìn cho họ. Có như vậy, khi hoạt động trở lại, hướng phát triển của DN mới phù
hợp với xu thế phát triển của thời đại, với các kế hoạch dài hạn của quốc gia, các
đầu tư mới có hiệu quả cao. (ii) Các cú sốc vĩ mô là dịp để các bất ổn nội tại của
từng DN phát lộ, nên đây là dịp tốt nhất để CPkt giúp họ tạo ra và san sẻ sự phát
triển cho từng DN, giúp nó “chữa trị” các “bệnh” của riêng mình, như là một lần
“chữa trị bệnh toàn diện” cho cộng đồng DN, hướng tới một trung tâm của nền
kinh tế khỏe mạnh hơn. (iii) Nếu cú sốc vĩ mô đến từ bên ngoài, thì DN bị tác
315
động mạnh nhất là DN hướng ngoại, trong đó có phần lớn DN đang trực tiếp
hoạt động xuất khẩu, đó đều là DN trụ cột, là “người chơi chính” của đất nước
trong HNKTQT, nếu không có sự hỗ trợ kịp thời của chính phủ, có thể dẫn đến
các hậu họa khôn lường, không dễ khắc phục,… (iv) Chỉ có CPkt mới giúp điều
chuyển các công suất thiết kế dư thừa của DN sang các DN khác, sang các mục
đích khác, một cách thỏa đáng và công bằng, trong thời gian nhanh nhất, nhằm
mang lại hiệu quả chung cho cả nền kinh tế. Làm cho khi nước nhà có sự cố vĩ
mô, rất cần chính phủ - kể cả khi chưa là CPkt, phát huy tối đa vai trò kiến tạo
của mình, để góp sức đưa DN nhanh qua cơn khốn khó.
3.1.4. Một vài kinh nghiệm của các chính phủ kiến tạo trên thế giới: Điểm
nhấn, cách làm, thành công và hậu quả
Điểm nhấn ở chính phủ kiến tạo của Nhật Bản, là để thực hiện “Kế hoạch
gấp đôi thu nhập”, một trong các việc làm đầu tiên của chính phủ là giải tán các
Zaibatsu (những tổ hợp công nghiệp - tài chính lớn) đang hoang tàn. Đây là giải
pháp đa tác dụng: giải quyết điểm nghẽn, lấy chỗ để DN tư nhân (DNTN) đầu tư,
thu tiền Nhà nước về để đầu tư chỗ cần, tăng hiệu quả chung, tạo việc làm, và
biến những xưởng máy nghèo nàn thành các DN năng động toàn cầu, phục vụ
chiến lược xuất khẩu5. Nhưng từ năm 1986, khi Chính phủ không còn kiểm soát
được nền kinh tế, mà nhất là từ năm 1992, đã không can thiệp mạnh để xử lý nợ
xấu, thì hoạt động của các DN bị đình trệ; đã biến nền kinh tế Nhật Bản từ “gã
khổng lồ” trong những năm 1970 - 1980, thành “chú lùn khiêm tốn” trong những
năm 19906. Còn điểm nhấn ở CPkt của Hàn Quốc, lại là thành lập các Chaebol
(các công ty lớn kiểm soát nhiều ngành công nghiệp), theo kiểu các “Korea Inc.”
(công ty Triều Tiên), như Huyndai, Samsung, với nguyên tắc thiên về xuất khẩu,
bởi không thể HNKTQT với các DN có quy mô chưa lớn và thương hiệu yếu.
Lại là kiểm soát nạn bê trễ của công chức bằng “bàn tay sắt”, khi Tổng thống hay
dùng máy bay trực thăng, bất ngờ đến thị sát, kiểm tra trực tiếp trên các công
trường. Mỗi dịp đầu năm, Tổng thống lại tổ chức gặp mặt các bộ trưởng để rà
soát lại các lời hứa năm ngoái - “từng câu một”, nếu ai thực hiện chưa được 80%
đều bị cách chức7, đã làm tăng rất cao hiệu lực của chính phủ. Và tới nay, “Kỳ
tích Sông Hàn” vẫn phát huy đều đặn, bởi trước đây Tổng thống Park Chung-
Hee đã khóc vì thấy dân khổ quá, vì Chính phủ Hàn Quốc dám bỏ thể diện quốc
gia để học Nhật Bản, Singapore8. Họ luôn tạo sức ép để các DN đổi mới, ngay cả
316
khi đang thành công, theo lối “Đại dương Xanh”, sản xuất sản phẩm tạo ra nhu
cầu cho thế giới,...
Nhưng kinh nghiệm đáng lưu ý nhất là của Trung Quốc, cả về quan điểm,
tính đột phá, cách làm, kết quả và các hệ lụy có thể, khi kiến tạo phát triển, hỗ trợ
DN. Mọi việc bắt đầu khi Đặng Tiểu Bình, người có ba lần quan lộ “xuống-lên”
hiếm có, chưa bao giờ đứng đầu quốc gia hay chính phủ, khởi xướng công cuộc
cải cách, xây dựng “CNXH mang màu sắc Trung Quốc” năm 1978. Các luận
thuyết “Mèo đen hay mèo trắng không quan trọng miễn là nó bắt được chuột”,
“Hãy để một số người làm giàu trước!”; cùng việc chú trọng tư nhân hóa hầu hết
các lĩnh vực của nền kinh tế, khuyến khích khởi nghiệp, xây dựng các khu chế
xuất theo chính sách “mở cửa” của ông, đã gây ra những bất đồng gay gắt trong
giới chóp bu. Song, nó đã đưa nền kinh tế mà trong 20 năm (1958-1978) trước,
chỉ đưa thu nhập bình quân của người dân tăng thêm 04 tệ, dự trữ ngoại tệ bình
quân năm 1978 chưa đến 0,2 USD/người9, mau chóng trở thành cường quốc thứ
hai thế giới. Tuy nhiên, những rào cản về thể chế kinh tế, bất cập về thể chế
chính trị, đã làm cho công cuộc cải cách còn gây ra nhiều hệ lụy; rõ nhất là nạn
hối lộ, tham nhũng, khi chỉ trong năm 2015 đã có 300.000 quan tham bị xử lý10.
Việc phân cấp thiếu giám sát, các địa phương đua nhau đầu tư dàn trải, khiến nợ
của chính quyền địa phương tăng nhanh, năm 2015 lên tới 18.000 tỷ nhân dân tệ
(hơn 63,6 triệu tỉVND), bằng 1/3 GDP11. Các “bong bóng” bất động sản, chứng
khoán làm thị trường chứng khoán Trung Quốc lao dốc và đồng nhân dân tệ bị
hạ giá đột ngột giữa từ năm 2015. Mức tăng trưởng đang giảm dần, bởi người
dân phải nộp tới 47 loại thuế, tạo nên đặc thù “nước giàu, dân nghèo”, nhiều
chuyên gia cho rằng: chính thể chế này là nguyên nhân làm cho tăng trưởng của
Trung Quốc trở nên kiệt sức12; và đặt nền kinh tế lên “quả bom nổ chậm”13,…
3.1.5. Vài nét về chính phủ kiến tạo ở Việt Nam
Các vấn đề “Nhà nước kiến tạo phát triển”, “CPkt”,… đã được nhiều
chuyên gia sới xáo từ lâu, nhưng ở lãnh đạo, mãi tới “Thông điệp đầu năm 2014”
của cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, nó mới được trình bày khá cụ thể, đồng
thời thể hiện quyết tâm xây dựng của Chính phủ. Còn trên thực tế, từ Đại hội
Đảng VI, Nguyễn Văn Linh, người đã “đi qua những chặng đường gồ ghề, khúc
khuỷu” (Phạm Quang Nghị, 2010), lên làm Tổng Bí thư, thực hiện công cuộc
317
Đổi mới, thay đổi cách thức để đạt được mục tiêu CNXH, tiến hành hội nhập kinh
tế quốc tế (HNKTQT). 31 bài báo “Những việc cần làm ngay” của N.V.L, được
nhân dân chờ đón hàng ngày, cho thấy đó thực là “Nhà nước kiến tạo phát triển”
thế hệ đầu tiên của nước ta. Tuy nhiên, từ năm 2007, khi các bất ổn tích lũy nhiều
năm khiến nền kinh tế “phát bệnh” (Trần Thọ Đạt, 2015), thì Chính phủ nước ta
chuyển dần thành “chính phủ xoay sở - đối phó”, với diễn biến điển hình là loay
hoay “hai tăng một giảm” của những năm 2007-2013. Nguyên nhân của thực tế
này là: (i) Mô hình tăng trưởng dựa trên bốn trụ cột: lao động giá rẻ, khai thác tài
nguyên, tăng cung vốn, dựa vào xuất khẩu đã tận khai; (ii) Các động lực tăng
trưởng của công cuộc Đổi mới 1986 đã không còn đủ sức đưa nền kinh tế tiếp tục
phát triển; (iii) Chủ thuyết “Kinh tế thị trường định hướng XHCN” chưa được hỗ
trợ bởi các luận thuyết kinh tế đủ sức thuyết phục, khó hiện thực hóa trong đời
sống; (iv) Do chưa chỉ ra được vị trí phát triển hiện tại, nên Chính phủ chưa chỉ
ra được bước đi tiếp theo cho nền kinh tế, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp; (v)
Bộ máy quản lý Nhà nước cồng kềnh, còn “thủ tục hành chính cay nghiệt, độc
ác” (Nguyễn Sinh Hùng, 2016)14, một bộ phận cán bộ, công chức thoái hóa, biến
chất, chưa quy tụ được sức mạnh chung của toàn dân. Tuy nhiên, với những đổi
mới trong Đại hội XII, cùng nỗ lực xây dựng Chính phủ liêm chính, kiến tạo phát
triển và hành động phục vụ DN, của Chính phủ mới nhiệm kỳ 2016-2020, “Nhà
nước kiến tạo phát triển” thế hệ thứ hai đang có những bước đầu hình thành và
phát huy sức mạnh.
3.2. “Bước hẫng” TPP của DN Việt Nam
3.2.1. Cú sốc TPP “chết lâm sàng” tạo ra “bước hẫng”…
Thông tin về TPP chỉ xuất hiện nhiều ở nước ta từ cuối năm 2013, nhưng
tới ngày 13/02/2017, khi dùng từ khóa “TPP” tìm kiếm trên Google, Yahoo, lần
lượt được trên 62,8 triệu và 9,4 triệu kết quả; còn với từ khóa “Hiệp định Đối tác
xuyên Thái Bình Dương”, tương ứng được trên 1.420 nghìn và 302 nghìn kết
quả. Như vậy, mối quan tâm của xã hội tới TPP là rất lớn, nhất là khi vào các
vòng đàm phán cuối cùng; còn ngay trước và sau khi TPP được ký, hầu như các
đầu ngành, viện nghiên cứu, trường đại học kinh tế đều tổ chức hội thảo khoa
học về TPP. Những dự báo đầy lạc quan, như nhờ TPP, tới năm 2025, chỉ với thị
trường Mỹ và Nhật Bản, đã mang về thêm gần 15 tỉ USD xuất khẩu hàng dệt
318
may, tạo thêm 1 triệu việc làm mới15. Hàng hóa nước ta sẽ được giảm thuế sâu,
như hàng dệt may vào Mỹ được giảm thuế trung bình từ 17,3%; hàng thủy sản
vào Nhật được giảm thuế từ 6,4-7,2%... về 0. TPP còn giúp tạo ra làn sóng đầu tư
FDI thứ ba vào Việt Nam, tạo cơ sở để phong trào khởi nghiệp trong nước nở
rộ,... TPP giúp GDP Việt Nam năm 2025 tăng thêm 35,7% so với mức cơ sở16;
biến nước ta thành nước tăng trưởng nhanh nhất thế giới giai đoạn 2015-2050;
những gì Trung Quốc mất 30 năm mới làm được thì Việt Nam sẽ chỉ mất 10
năm17… Gần đây, Nhà nước, nhiều DN và người dân đã xây dựng kế hoạch, đầu
tư, dựa trên các hy vọng đó, nên khi TPP vì Mỹ rút lui, mà bị “chết lâm sàng” đã
thành cú sốc, tạo ra “bước hẫng” trên con đường phát triển và HNKTQT của
nước ta nói chung và DN nói riêng.
3.2.2. Chưa tắt hy vọng, nhưng nên xem TPP “đã chết”
Lần tìm nguyên do khiến Mỹ rút khỏi TPP, dễ thấy: (i) Ý tưởng của TPP dù
đi trước thời đại, nhưng thực tế, khả thi, không xa vời, đáng trân trọng và cần
được triển khai, để đẩy nhanh sự phát triển của thế giới. (ii) TPP không chứa
thỏa thuận bất công, gây tổn hại cho Mỹ, nguy cơ lao động Mỹ mất nhiều cơ hội
việc làm, hay các nhượng bộ đụng chạm đến thủ lĩnh phe Cộng hòa tại Thượng
viện Mitch McConnell; đến Thượng viện Orrin G. Hatch15,… đều khó chấp
nhận, bởi lợi ích chằng chéo của 12 nền kinh tế, nên Mỹ cũng phải có “những
nhượng bộ xấu xí”, để đạt lợi thế tổng thể. (iii) TPP cần cho nước Mỹ, bởi không
gian kinh tế 32,1 triệu km2, thị trường trên 800 triệu dân, đó còn là sân chơi mới
của Mỹ ở thế kỷ 21, là cách để Mỹ tiếp thêm “nguồn sinh lực mới” cho chiến
lược tái cân bằng theo hướng “xoay trục” về châu Á, ngăn chặn sự bành chướng
kinh tế của Trung Quốc, giúp “làm nước Mỹ vĩ đại trở lại”. (iv) Nếu không do
tiến trình đàm phán kéo dài làm cho ông Obama không có đủ thời gian, hay đảng
Dân chủ không để mất quyền kiểm soát Lưỡng viện, thì nó đã được thông qua,
tỏa sáng trong danh xưng “Hiệp định của thế kỷ XXI”. Vì thế, có thể kết luận:
TPP bị “chết oan” trong ván bài chính trị, như là một di sản cần hủy bỏ, để thể
hiện tính quyết đoán, cùng việc tôn trọng cam kết tranh cử của ông Trump. Dù
cho Mỹ vẫn phải nâng cao tầm ảnh hưởng tại Đông Á, ưu tiên thương mại với 11
nền kinh tế thành viên TPP, nhưng ông Trump vẫn chỉ đạo đàm phán lại, để tìm
thỏa thuận thay thế, theo tiêu chuẩn mới của Washington. Đó cũng là ý muốn của
đảng Cộng hòa, muốn xóa dấu vết 4 năm thắng thế của đảng Dân chủ (2007-2011),
319
và 8 năm lèo lái đất nước của ông Obama. Vì vậy, dù 11 thành viên khác có muốn
giữ lại, tạo ra TPP không có Mỹ, thì như thế chỉ là vô nghĩa18, bởi họ đều trông
chờ vào thị trường Mỹ; hơn nữa mức thuế mà chính quyền Trump vừa đề xuất
khá bất lợi cho Việt Nam, khi là nước bị thiệt hại lớn thứ hai trong thương mại
với Mỹ, chỉ hơn Mexico19. Cho nên, dù mới “chết lâm sàng”, nhưng nước ta nên
xem rằng TPP “đã chết”, dù việc đó có để lại nhiều dư vị không tốt đẹp cho Mỹ,
gây sốc cho thế giới, tạo thành “bước hẫng” cho nước ta.
3.2.3. “Bước hẫng” TPP làm kinh tế nước ta mất nhiều cơ hội
Kỳ vọng “nước phát triển thấp nhất sẽ thu lợi nhiều nhất” đã vơi khi TPP
“chết lâm sàng”, sự hẫng hụt là tất yếu, và đi cùng với nó là việc mất đi nhiều cơ
hội lớn, như: (i) Cơ hội khuếch trương các thành tựu trong hoạt động xuất khẩu,
đồng thời là điểm nhấn để thu hút vốn đầu tư FDI theo hướng đón đầu hưởng lợi
TPP - để hai động cơ tăng trưởng chính hiện nay tăng tốc. (ii) Cơ hội cải thiện
đầu ra cho nông sản; hàng dệt may tránh hai đối thủ: Trung Quốc và Băng la Đét;
sản phẩm xuất khẩu tiếp cận thị trường với tư cách là nước thành viên đặc quyền,
có một thị trường rộng về các sản phẩm thâm dụng lao động sống, ít cạnh tranh.
(iii) Tiến lên khai thác sâu hơn các lợi thế đang có, dần tới loại bỏ tình trạng
nhập siêu dai dẳng, từng bước thoát dần cái bóng của Trung Quốc, thậm chí thay
nước này giữ vai trò “công xưởng của TPP”. (iv) Cơ hội các nhà đầu tư trong
khối tham gia phát triển ngành nông nghiệp giàu tiềm năng nhưng lâu nay bị bỏ
rơi, vì hạ tầng thấp kém, thiếu vốn, yếu về công nghệ và kém về quản trị, để xuất
khẩu; phát triển nhiều loại nông sản mà nước ta còn đáp ứng rất thấp cho nhu cầu
trong nước, như chăn nuôi bò sữa, chăn nuôi lấy trứng,… (v) Cơ hội để nước ta
kết hợp chuyển hướng sản xuất sang phục vụ xuất khẩu, với thúc đẩy tái cơ cấu
kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng; để các ngành, DN tự tái cấu trúc, nhằm
đưa lực lượng sản xuất trong nước phát triển,… Nếu các cơ hội trên được khai
thác, tận dụng nhanh, mạnh, trên quy mô lớn, với hiệu quả cao, sẽ không chỉ đưa
đất nước tiến nhanh và xa hơn trên con đường phát triển; mà còn là chỗ dựa quan
trọng để phát triển nhanh, mạnh cộng đồng DN.
3.2.4. Việt Nam còn bị nhiều hiệu ứng tiêu cực kéo theo
TPP chỉ là một trong 12 FT nước ta đã ký, và chỉ là một trong 265 RT
thế giới đã ký hiện nay; song hệ lụy TPP “chết lâm sàng” không chỉ làm tê liệt,
320
khó đoán định trước tương lai các thỏa thuận của nó, mà còn có nhiều ngoại ứng
tiêu cực, ở nhiều quy mô. Hệ lụy đầu tiên mà thế giới phải nhận là thông điệp
“nước Mỹ trên hết” đang ngự trị ở cường quốc số 1 thế giới, nên các phong trào
dân túy liền trỗi dậy mạnh mẽ ở Pháp, Ý, Áo, Hà Lan đến Đức. Các quan điểm
cực hữu làm cho cuộc đàm phán Hiệp định Đối tác Thương mại và Đầu tư xuyên
Đại Tây Dương (TTIP) càng thêm bế tắc. Cánh cửa thương mại tự do sẽ hẹp lại,
sẽ khiến kinh tế Nhật Bản - nơi mà trong mỗi 1% tăng trưởng GDP thì 0,5 tới
0,7% là nhờ xuất khẩu, thêm trì trệ; kinh tế Trung Quốc tiếp tục “sống trong sợ
hãi”, khi “công xưởng của thế giới” cạn thị trường. Hàng loạt FT đang đàm
phán khác cũng ngưng trệ, cuộc thương thảo Brexit thêm khó khăn, nhiều nước
lúng túng vì không hiểu bước đi sắp tới của ông Trump,… Trong lúc, cuộc cách
mạng công nghiệp lần thứ tư mang tính liên ngành sâu rộng, lại kéo nhiều ngành
sản xuất tái vu hồi về các cường quốc, đe dọa “cướp” đi hàng triệu việc làm ở
các nước đang phát triển. Tất cả làm cho thế giới bị nhiễu nhương, kinh tế thế
giới càng khó thoát tình thế hiểm nghèo đã có từ năm 2012; khó dự báo diễn thế
tiếp theo. Các nhà đầu tư lại ngập ngừng, ưu tiên đưa tiền sang vàng để “trú ẩn an
toàn”, nhiều dự án đã đăng ký rơi vào tình thế bị “treo”, nhu cầu tiêu dùng toàn
cầu chững lại,… Hậu quả, làm cho nền kinh tế còn ở đẳng cấp thấp (Trần Đình
Thiên, 2014), quy mô nhỏ, kinh tế vĩ mô chưa vững chắc, với nợ công nhiều, bội
chi cao, nhưng độ mở rộng trên 160% của nước ta, càng thêm khốn khó.
3.2.5. DN Việt còn phải chịu nhiều mất mát trực tiếp
DN Việt, bên cạnh việc phải gánh chịu các tác động của “bước hẫng” TPP
thông qua nền kinh tế, trong tư cách là thành tố trong tổng thể, còn phải chịu
những mất mát trực tiếp, gây tổn thất nhiều mặt, mà nhất là trong chiến lược phát
triển dài hạn. Điển hình là: (i) Ước vọng có 1 triệu DN hoạt động hiệu quả vào
năm 2020, trong đó có tỷ lệ không nhỏ là các DN phụ trợ cho các ngành dệt may,
da giầy, đồ gỗ, chế biến thủy sản, hòng giúp giải bài toán quy tắc xuất xứ, khó
thành hiện thực; (ii) Tham vọng thế chân các DN Trung Quốc trong các chuỗi
cung ứng đứt gãy vì nước này không tham gia TPP, trở thành “công xưởng của
TPP”, bị thách thức nghiêm trọng; (iii) Các DN hăng hái đầu tư đón đầu TPP,
nhất là trong lĩnh vực dệt may, sẽ càng thêm khó khăn, vì ngay trong năm 2016,
khi TPP còn tràn đầy hy vọng, mà đã rất “khát” hợp đồng, nay để khai thác hết
năng lực sản xuất sẽ rất nan giải; (iv) Hy vọng học hỏi kinh nghiệm quản lý, đổi
321
mới quản trị DN theo các DN TPP tiên tiến, cũng như việc được kết nối làm ăn
lâu bền cùng mạng tiêu thụ dạng chuỗi của Mỹ, trở nên xa vời; (v) Nỗi ám ảnh
“đầu ra” cho sản phẩm có chất lượng cao vẫn lẩn khuất xung quanh công cuộc tái
cơ cấu DN, cũng như cho việc đổi mới công nghệ, đầu tư chiến lược của DN,…
Ngoài ra, “bước hẫng” TPP còn làm cho việc xác định và triển khai xây dựng các
DN tầm cỡ, có khả năng thành thương hiệu quốc gia, thêm phần khó khăn và bế
tắc. Việc chuyển hướng thị trường sang các khu vực khác sẽ làm phát sinh thêm
chi phí, ảnh hưởng không nhỏ đến nguồn đầu tư thực sự cho công nghệ, đến thu
nhập DN, đến đời sống của cán bộ, công nhân viên trong từng DN,…
3.3. Để Chính phủ kiến tạo gỡ khó cho DN trước “bước hẫng” TPP
3.3.1. Những việc Chính phủ cần làm để thực sự trở thành CPkt trước DN
Muốn có đột phá phát triển phải có liệu pháp sốc để gây đột biến, trong đó
phải dám “tấn công” vào các vấn đề gốc đã từng gây nhiều rào cản, nhất là
những vấn đề đã được vạch ra bất ổn từ lâu, như các nút thắt lý luận, điểm nghẽn
cơ chế, dòng vốn chảy lệch, điểm tụ vốn không hiệu quả, “vật cản” ngăn các
chính sách tốt đi vào cuộc sống, “điểm đen” tham nhũng... Do đó, để thực sự trở
thành CPkt trước DN, Chính phủ phải đẩy mạnh giải quyết ba việc chính:
(1) Tập trung trí tuệ, sức mạnh của các bộ ngành giải quyết nhanh, gọn, cơ bản
các nút thắt của nền kinh tế, trong đó dành ưu tiên lớn cho việc giải quyết nợ xấu
của các tổ chức tín dụng, đầu ra cho nông sản, vấn đề thủ tục hành chính phiền
hà, chi phí không chính thức lớn, tỷ lệ thất nghiệp cao của các cử nhân,…
(2) Đầu tư có trọng điểm để nâng cấp hạ tầng, cải thiện nền móng tăng trưởng,
trong đó phải giải quyết được vấn đề nguồn vốn tín dụng đủ cung cho thị trường
với giá vốn hợp lý, giữ tỷ giá biến động trong kiểm soát, đảm bảo tình hình tài
chính của các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước sáng sủa,… (3) Từng bước xây
dựng CPkt, có nội hàm đáp ứng được 4 chiều, bộ máy được xây dựng theo 5 đặc
điểm, như đã trình bày ở trên, với các nội dung cần thiết như: (i) Lãnh đạo tổ
chức nhiều “Think tank” để tập hợp ý tưởng và lực lượng nhân sự tinh hoa cho
sự nghiệp đổi mới; mạnh dạn kiểm định các ý tưởng gây sốc nhưng có luận cứ
khoa học - dám như Đặng Tiểu Bình giải tán công xã nhân dân, không phân biệt
“mèo đen, mèo trắng”… để tiến tới xây dựng chủ thuyết phát triển cho Việt
Nam. (ii) Đẩy mạnh việc hoàn thiện nền kinh tế thị trường đầy đủ, trong đó,
322
đột phá về bốn tiêu chuẩn mà Mỹ và EU cho rằng nước ta chưa đạt, như: sự can
thiệp của Nhà nước vào hoạt động DN; chuẩn mực về quản trị DN, kế toán và
kiểm toán; chế độ và thực thi pháp lý; và lĩnh vực tài chính của Việt Nam. (iii)
Đẩy mạnh việc xây dựng và phát triển các thị trường lao động, thị trường sản
phẩm khoa học, công nghệ, phục hồi và thúc đẩy sự hoạt động lành mạnh của thị
trường bất động sản, tiến hành kết nối và liên thông các thị trường, tiến tới hình
thành nền kinh tế thị trường hoạt động xuyên suốt, bền vững. (iv) Đổi mới sâu
sắc công tác cán bộ, trong đó việc tuyển dụng cán bộ phải thật sự minh bạch và
cạnh tranh; tiêu chuẩn lựa chọn và đề bạt là coi trọng hiền tài. Không để việc
“đóng băng” biên chế ngăn cản việc thu hút nhân tài, dám sử dụng những người
có thực tài dù chưa ổn về chính kiến, như dạng “Nhóm thứ 6” của cựu Thủ tướng
Võ Văn Kiệt, đẩy mạnh việc thải loại cán bộ không đáp ứng được yêu cầu mới.
(v) Lựa chọn ngành nghề, DN để xây dựng thành “mũi nhọn HNKTQT”, xây
dựng lộ trình tổng thể để thực hiện; trong đó, chú trọng sự đồng bộ của các DN
như trong các chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị, để hình thành sản phẩm Việt, thương
hiệu Việt tiêu biểu. (vi) Từng bước dân chủ hóa hơn nữa đời sống dân sự, tăng
cường giám sát và phản biện xã hội, ngăn chặn quyết liệt diễn biến của “bốn
nguy cơ”, “tự diễn biến”, từng bước lấy lại niềm tin của nhân dân…
3.3.2. Phát huy vai trò của chính phủ kiến tạo gỡ khó “bước hẫng”
TPP cho DN
Thứ nhất, tiến hành đánh giá lại hoạt động xuất nhập khẩu tới 11 thị trường
trong khối TPP, dự báo các biến đổi do “bước hẫng” TPP gây ra, để tổ chức lại
và định hướng phát triển cho từng DN, từng nhóm DN, loại hình DN có liên
quan, từ sản xuất, thương mại, logistic, đến xuất khẩu, nhằm chấm dứt các đồn
đoán thiếu căn cứ, gây hoang mang, lấy lại niềm tin hoạt động cho các DN.
Thứ hai, điều chỉnh hoạt động xuất nhập khẩu vào các thị trường thành viên
TPP, theo các FT khác, đã có, như vào Nhật Bản qua FT SE N - Nhật Bản
(2008), FTA Việt Nam - Nhật Bản (2013); vào thị trường Australia và New
Zealand qua FTA ASEAN - ustralia/New Zealand (2009); vào thị trường Chile
qua FTA Việt Nam - Chile (2011); vào thị trường Singapore, Malaysia và Brunei
qua AEC,…
323
Thứ ba, thúc đẩy hình thành các “TPP thu nhỏ”, từ song phương, nhóm
nước, đến “TPP không có Mỹ”, dựa trên các cam kết đa phương và song phương
đã được thỏa thuận tại TPP. Đây là hướng làm sâu sắc thêm quan hệ kinh tế với
các nước đã có các FT thế hệ cũ, và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cho việc mở
đường cho hàng hóa Việt Nam thâm nhập vào thị trường Mexico, mà nhất là thị
trường quan trọng Canada.
Thứ tư, điều chuyển hoạt động của các DN đang thực hiện các hợp đồng
kinh tế với Mỹ, mà có thể chuyển hướng sang các thị trường khác, như sang thị
trường Nhật, EU, hoặc sang theo các FT khác, trong đó, Nhà nước có thể hỗ trợ
bù đắp các chi phí tăng thêm cho các lô hàng đang triển khai, giúp họ trong tìm
kiếm bạn hàng, xúc tiến thương mại, giao nhận hàng hóa,…
Thứ năm, đối với các DN được đầu tư theo hướng chuyên thực hiện các
hợp đồng kinh tế với Mỹ, mà khó có thể chuyển đổi thị trường, thì Chính phủ
nên giúp họ nhượng bán thiết bị, công nghệ; hoặc tìm đối tác thứ ba, hoặc liên
doanh, liên kết để có “đường vòng” thâm nhập vào thị trường Mỹ, nhằm giữ việc
làm cho người lao động, giữ thị phần để chờ đàm phán nhằm tìm kiếm FT khác
thay thế TPP.
Thứ sáu, nghiên cứu các phương án tăng hoặc kéo dài thêm ưu đãi để giữ
chân các nhà đầu tư ngoại đã đầu tư đón đầu hưởng lợi TPP, nay bị hẫng; xem
xét việc hỗ trợ lãi suất cho các khoản vay lớn của các DN cho mục tiêu tăng sản
phẩm xuất sang thị trường Mỹ; thực hiện các ưu đãi về tín dụng, giãn thuế cho
các DN nội đã đầu tư theo hướng giải quyết quy tắc xuất xứ từ sợi của TPP, để
từng bước nâng cao tỷ lệ nội địa hóa cho các sản phẩm xuất khẩu chủ đạo, làm
hình thành các chuỗi cung ứng hoàn chỉnh trong nước.
Bên cạnh đó, Chính phủ còn cần đưa dần các kế hoạch và đầu tư dang dở
của quá trình hội nhập TPP vào các hiệp định thương mại mới, vào các FT
đang và sẽ đàm phán; định hướng lại xu hướng phát triển cho một số ngành có
liên quan; tập trung sức để phát triển nhanh các DN giàu tiềm năng, mà nhất là
các tập đoàn kinh tế tư nhân, thành các DN đầu tàu của quốc gia trong
HNKTQT. Tiến hành thống kê các cam kết tạm thời chưa phải thực hiện, để
giảm công việc cần làm ngay, từng bước chấn chỉnh các DN “hút chết” vì
TPP,… để tạo thêm các bước phát triển mới, có ý nghĩa cho cộng đồng DN.
324
Ngoài ra, Chính phủ nên có những động viên, khuyến khích, hỗ trợ, để các
DN tiếp tục đi theo con đường áp dụng các chuẩn mực cao của TPP vào hoạt
động, bởi đó là cũng chính là con đường các DN phải đi trên lộ trình phát triển
và HNKTQT. Kiên quyết tiết giảm, đi đến loại trừ việc cấp phát vốn ngân sách
hỗ trợ các DN yếu kém kéo dài; cương quyết điều các DNNN giữ quyền chi phối
khỏi các bộ chủ quản, chuyển về các bộ phận quản lý vốn Nhà nước đầu tư tại
các DN; thu hẹp tối đa và đổi mới quản trị sâu sắc tại các DNNN. Đồng thời,
khuyến khích sự phối hợp, liên kết giữa các DN trong nước, mà nhất là giữa các
DN nhỏ và vừa với các DN dẫn dắt thị trường, để chúng hỗ trợ nhau cùng
HNKTQT; khuyến khích và ưu tiên nhiều mặt để tăng nhanh số DN quay vào,
cùng hỗ trợ nông nghiệp phát triển,…
3.3.3. Chuyển “bước hẫng” TPP thành cơ hội phát triển cho quốc gia, cho DN
Cơ hội không biết khai thác dễ trở thành thách thức, ngược lại, thách thức
biết cách vượt qua, và vượt qua thành công, lại là cơ hội phát triển; đối với “bước
hẫng” TPP cũng là như vậy. Chính “bước hẫng” này làm bộc lộ nhiều vấn đề của
nền kinh tế, cũng như của cộng đồng DN Việt, mà rõ nhất là nước ta phải trông
chờ quá nhiều vào các cơ hội từ bên ngoài; trong cuộc chơi với các chuẩn mực
cao, nước ta nhìn ngoài thì lợi nhiều, nhưng khả năng thu về thực tế không nhiều,
dường như chỉ là nền cho các DN nước ngoài hưởng lợi. Vì vậy, để giải bài toán
“bước hẫng” này, Việt Nam cần: (1) Phải cầu thị, mạnh dạn vận dụng tối đa các
bài học thực tế về phát triển kinh tế, phát triển DN đã được kiểm chứng tại các
nước đi trước, nhất là các quyết sách có tính chất “liệu pháp sốc” để tìm ra hướng
đi mới cho đất nước. (2) Cần kết hợp việc gỡ khó cho DN với công cuộc tái cơ
cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, dùng thời gian tạm có để điều chỉnh,
đổi mới nền kinh tế, để khi có FT thay thế, nước ta có thể “chơi” sòng phẳng,
không phải tiếc nối vì TPP “chết yểu”. (3) Mạnh dạn nhìn thẳng vào thực lực DN
trong nước, đánh giá lại vai trò, vị thế, mức đóng góp cũng như khả năng thành
công trong HNKTQT của từng khu vực DN, từ DNNN và DNNN giữ quyền chi
phối; DN nội ngoài Nhà nước, DN FDI, để có các quyết định dũng cảm trong
việc định hướng phát triển. (4) Chuyển nguồn lực dự kiến chi vào thực hiện các
cam kết vượt trội, hoặc để hỗ trợ cho việc thực thi TPP sang phát triển các đối
tượng làm gia tăng hiệu quả trong các FT khác, như cấp vốn bổ sung cho các
325
cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu có giá trị gia tăng cao, phát triển DN công nghiệp
hỗ trợ, mở rộng quy mô DN sản xuất, bổ sung cho việc xây dựng thương hiệu,
quảng bá sản phẩm… (5) Tuyên truyền để người dân hiểu, thay đổi lối sống sính
ngoại, tạo ra sự chung tay của toàn xã hội, cùng gỡ khó cho DN, nhất là với các
DN TPP “hụt”, để củng cố lại trung tâm của nền kinh tế, hỗ trợ cho đầu tàu của
nền kinh tế,…
3.3.4. Nên xem “bước hẫng” TPP như là một sự cố quốc gia, nhân đó
tuyên truyền để mọi người hiểu sát hơn về các vấn đề chung của nước nhà, thay
đổi định kiến lỗi thời, tạo động lực và trách nhiệm, để toàn xã hội cùng nhau
dựng xây đất nước
“Bước hẫng” TPP tuy là hậu quả của một sự cố hy hữu, làm hỏng công sức
đàm phán 7 năm của 12 quốc gia, ảnh hưởng xấu đến niềm hy vọng của hàng
triệu doanh nhân, hàng trăm triệu người lao động; nhưng đó không phải là sự cố
quốc gia. Trong thực tế nước ta, những quan điểm “tô hồng” nhận thức đã tạo ra
nhiều định kiến không chuẩn, mà điển hình là “đất nước ta giàu đẹp”, đã làm
giảm đi động lực và trách nhiệm của không ít cán bộ, người dân trong việc xây
dựng đất nước. Đúng, đất nước ta rất giàu tiềm năng, đến mức Lý Quang Diệu
từng nói: “Nếu có vị trí số một ở Đông Nam Á thì đó phải là Việt Nam. Bởi so
sánh về địa chính trị, tài nguyên, con người, Việt Nam không thể xếp sau nước
nào trong khu vực”20, nhưng chưa giàu về kinh tế. Đúng, nước ta có nhiều cái
đẹp, nhưng còn có vô vàn cái chưa đẹp, mà những cái “chưa đẹp” đó thường đi
liền với tình trạng lạc hậu của nền kinh tế. Vì thế, Chính phủ nên xem “bước
hẫng” TPP như là một sự cố quốc gia, nhân sự cố TPP “chết yểu” đang nhận
được sự quan tâm lớn của xã hội, để tuyên truyền, giúp người dân hiểu rõ hơn,
sát hơn các vấn đề thực sự của đất nước. Phải giúp họ: đánh bật đi các định kiến
lỗi thời, để họ có tình yêu chân chính đối với đất nước - yêu từ cái nghèo, cái
khó, cái chưa đẹp, thì tình yêu đó mới vững bền, mới đầy động lực. Đừng để
nhiều người ảo vọng, cứ tự huyễn hoặc rồi đòi hỏi, chờ hưởng thụ; đồng thời, tạo
cho họ có sự buồn bực khi nước nhà thua kém; có nỗi nhục khi đất nước bị xem
thường, để có quyết tâm vươn lên, có trách nhiệm với tương lai, đất nước,… Khi
đó, động lực phấn đấu của mọi người sẽ tăng gấp đôi, gấp ba, bởi bên cạnh nỗ
lực vì tình yêu, còn có sức mạnh của quyết tâm vươn lên, của nỗi nhục thua kém,
326
tạo thành động lực vươn lên của cả dân tộc to lớn, lâu bền. Nếu chúng ta làm được
điều đó, thì “bước hẫng” TPP sẽ thực sự là một cơ hội để mọi cấp, mọi người nhìn
lại chính mình, để tạo nên một cách mạng về nhận thức, để toàn dân đoàn kết, hợp
sức dưới sự lãnh đạo của Đảng, dưới sự điều hành của CPkt, để toàn dân cùng nhau
hợp sức, chung tay dựng xây đất nước. Và lúc đó, chân lý “dễ vạn lần không dân
vẫn chịu, khó vạn lần dân liệu vẫn xong” lại được tái chứng minh, bằng sức mạnh
của lòng dân, khi họ hiểu, họ tin, họ cùng hành động.
4. Kết luận
Sau nhiều năm loay hoay trong kiếp “xoay sở - đối phó”, Chính phủ nhiệm
kỳ 2016-2020 của nước ta, đang nỗ lực phấn đấu vươn lên để trở thành CPkt phát
triển, liêm chính, hành động vì DN. Đó là một con đường đầy khó khăn, vì nhiều
mặt của thực tế kinh tế, xã hội còn quá thấp so với yêu cầu, nhiều tồn tại trong hệ
thống chính trị khó có thể khắc phục trong thời gian ngắn. Tuy nhiên, các nỗ lực
đi lên đó lại tạo ra những tiền đề cho nước ta có thể giải quyết nhanh, có hiệu quả
cao “bước hẫng” TPP mà cộng đồng DN Việt vừa phải gánh chịu, khi Mỹ chính
thức rút khỏi TPP. Dù rằng, TPP mới “chết lâm sàng” vẫn còn hy vọng, dù
rằng, “bước hẫng” TPP làm kinh tế nước ta mất nhiều về cơ hội cùng nhiều
hiệu ứng tiêu cực kéo theo; DN Việt còn phải chịu nhiều mất mát trực tiếp
khác,… nhưng chúng ta có quyền tin rằng: Những nỗ lực vươn lên để thực sự
trở thành CPkt; cùng các giải pháp phát huy vai trò kiến tạo gỡ khó “bước
hẫng” TPP cho DN; chính phủ đủ sức chuyển “bước hẫng” TPP thành cơ hội
phát triển chung cho quốc gia, cũng như cho cộng đồng DN, góp phần tạo thêm
động lực và trách nhiệm cho toàn dân tộc, để mọi người chung sức dựng xây,
đưa đất nước tiến lên,…
Chú dẫn:
(2) Văn Khoa (2015), Kinh tế thị trường “màu sắc Triều Tiên”,
327
(3) Nguyên Vũ (2017), Chính phủ kiến tạo, khi “Nhà nước như một doanh
nhu-mot-doanh-nghiep-20170112103724912.htm>
(4) Vũ Minh Khương (2013), Việt Nam hành trình đi đến phồn vinh, Nxb Tri
thức, Hà Nội, trang 98.
(5) Daniel Yergin và Joseph Stanislow (2006), Những đỉnh cao chỉ huy: cuộc
chiến vì nền kinh tế thế giới, Tủ sách Tinh hoa tri thức thế giới, Nxb Tri
thức, Hà Nội, trang 281-282.
(6) Todd G. Buchholz, Ý tưởng mới từ các kinh tế gia tiền bối, Nxb Tri thức,
Hà Nội, 2008, trang 17 - 27.
(7) Daniel Yergin và Joseph Stanislow (2006), Những đỉnh cao chỉ huy: cuộc
chiến vì nền kinh tế thế giới, Tủ sách Tinh hoa tri thức thế giới,
Nxb Tri thức, Hà Nội, trang 295-298.
(8) Blog Ký Giả (2015), Tại sao Hàn Quốc phát triển rực rỡ còn Việt Nam thì
trien-ruc-ro-con-viet-nam-thi-khong.html>
(9) Ngô Hiểu Ba (2010), Đột phá kinh tế ở Trung Quốc (1978 - 2008), bản dịch của
Nguyễn Thị Thu Hằng, Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, các trang 5 và 15.
(10) Hải nh (2016), 300.000 quan tham Trung Quốc bị xử lý trong năm 2015,
2015-post632088.html>
(11) Bảo Như (2015), Nguy cơ khủng hoảng nợ ở Trung Quốc,
20150707085606026.chn>
(12) Daron Acemoglu và Jame A. Robinson (2013), Tại sao các quốc gia thất bại,
bản dịch của Nguyễn Thị Kim Chi, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, trang 562.
(13) Hoàng Nam (2016), “Quả bom nổ chậm” của Trung Quốc đang đe dọa một
cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu mới, <http://cafebiz.vn/qua-bom-no-
cham-cua-trung-quoc-dang-de-doa-mot-cuoc-khung-hoang-kinh-te-toan-
cau-moi-20160517162917977.chn>
(14) Lê Kiên (2016), Chủ tịch Quốc hội: “Thủ tục hành chính cay nghiệt, độc
tuc-hanh-chinh-cay-nghiet-doc-ac/1055839.html>
328
(15) Chinhphu.vn (2015), Với TPP, dệt may Việt Nam có thêm 1 triệu việc làm,
1-trieu-viec-lam/>
(16) Nguyên Thảo (2014), “Gia nhập TPP, GDP Việt Nam tăng 35,7%”,<
526604.html>
(17) Hàng Made in Vietnam có thể sớm phổ biến toàn cầu,
co-the-som-pho-bien-toan-cau-3298149.html>
(18) Thăng Điệp (2016), Thủ tướng Nhật: “TPP vô nghĩa nếu không có
khong-co-my-20161122100338292.htm>
(19) Hồ Mai (2017), Deutsche Bank: Việt Nam mất gần 5% GDP nếu Trump đánh
thuế như với Mexico, < http://vietnamfinance.vn/tai-chinh-quoc-te/deutsche-
bank-viet-nam-mat-gan-5-gdp-neu-trump-danh-thue-nhu-voi-mexico-
20170203132506972.htm>
(20) Dũng Nguyễn (2015), Ông Lý Quang Diệu từng nói gì về Việt Nam?,
d99677.html>
Tài liệu tham khảo
1. Lê Quốc nh (2015), HNKTQT của Việt Nam trong giai đoạn 2016-
2020: cơ hội lớn, âu lo nhiều và niềm tin mạnh mẽ, Kỷ yếu Hội thảo
khoa học quốc gia: “Phát triển kinh tế - xã hội và ngành ngân hàng Việt
Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế”, Nxb ĐH KTQD, Hà Nội,
trang 100-113.
2. Lê Quốc nh (2015), Nhìn từ giai đoạn 2006-2013, tài chính DN Việt
Nam: đỉnh điểm đã qua, khó khăn còn lớn, Kỷ yếu Hội thảo khoa học
quốc gia: “ n ninh tài chính tiền tệ Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu
hóa”, Nxb ĐH KTQD, Hà Nội, trang 565-574.
3. Lê Quốc nh (2016), Các DN Việt Nam có thể làm gì khi TPP đi vào
cuộc sống, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia: “Kinh tế - xã hội Việt
Nam năm 2015: cơ hội và thách thức trước thềm hội nhập mới”,
Nxb ĐH KTQD, Hà Nội, trang 679-694.
329
4. Lê Quốc nh (2016), Thời cơ và thuận lợi trong phát triển của DN Việt
Nam khi tham gia TPP, Kỷ yếu Hội thảo khoa học: “Hiệp định đối tác
kinh tế xuyên Thái Bình Dương: thách thức mới trong thương mại quốc
tế của Việt Nam”, Nxb UEF, Tp Hồ Chí Minh, trang 166-173.
5. Lê Quốc Anh (2016), Doanh nghiệp Nhà nước giữ quyền chi phối ở
Việt Nam: Thực trạng và những việc cần làm khi tham gia TPP, Kỷ yếu
Hội thảo khoa học: “Doanh nghiệp Việt Nam trong TPP - ICYREB
2016”, Nxb Kinh tế, Tp Hồ Chí Minh, trang 489-502.
6. Thư viện Pháp luật, Toàn văn nội dung Hiệp định TPP,
noi-dung-hiep-dinh-tpp>
330
Bạn đang xem tài liệu "Phát huy vai trò của Chính phủ kiến tạo giải quyết bài toán “bước hẫng” TPP cho doanh nghiệp Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
phat_huy_vai_tro_cua_chinh_phu_kien_tao_giai_quyet_bai_toan.pdf

