Hiệu quả chi tiêu công tại Thành phố Đà Nẵng

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
HIỆU QUẢ CHI TIÊU CÔNG TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG  
ThS. Nguyễn Thị Mỹ Hạnh  
Khoa Tài chính – Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng  
TÓM TẮT  
Trong những năm gần đây, hiệu quả chi tiêu công đã và đang nhận được sự quan tâm chú ý đặc biệt,  
nhất là trong bối cảnh nợ công của nhiều quốc gia tăng cao. Do đó, phân tích và đánh giá hiệu quả chi  
tiêu công một cách toàn diện là thật sự cần thiết, đòi hỏi những phương pháp đo lường phù hợp và  
chính xác. Trong nghiên cứu này, tác giả sẽ thực hiện phân tích hiệu quả chi tiêu công tại thành phố  
Đà Nẵng trong giai đoạn 1997-2012 bằng cách ứng dụng phương pháp phân tích màng bao dữ liệu.  
Nghiên cứu phát hiện rằng chi tiêu công tại Đà Nẵng là chưa thật sự hiệu quả trong giai đoạn 1997-  
2012. Cụ thể, ngân sách chi tiêu trong giai đoạn này chỉ mang lại 2/3 kết quả so với đầu ra hiệu quả  
mà thành phố có thể đạt được.  
Từ khóa: chi tiêu công; chỉ số tổng hợp; DEA; Đà Nẵng; hiệu quả chi tiêu công  
1. Đặt vấn đề  
Hiệu quả chi tiêu công đã và đang nhận được sự quan tâm chú ý đặc biệt trong những năm  
gần đây, nhất là trong bối cảnh nợ công của nhiều quốc gia tăng cao và một số quốc gia lâm vào  
tình trạng vỡ nợ do tình trạng chi tiêu công thiếu hiệu quả dẫn đến thâm hụt ngân sách không thể  
kiểm soát. Tại thành phố Đà Nẵng nói riêng, thực hiện Nghị quyết của Quốc hội khóa IX về việc  
chia tách địa giới hành chính, kể từ ngày 01/01/1997, thành phố Đà Nẵng trở thành đơn vị hành  
chính trực thuộc trung ương. Nhằm sớm đưa Đà Nẵng thành một trong những đô thị hiện đại, phát  
triển của khu vực miền Trung - Tây Nguyên, Thành phố đã nỗ lực xúc tiến đầu tư, thu hút các  
nguồn vốn trong và ngoài nước, chi tiêu ngân sách tập trung vào phát triển kết cấu hạ tầng, nâng  
cấp và chỉnh trang đô thị, tạo động lực cho phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, quá trình phát  
triển những năm qua cũng cho thấy chi tiêu công tại thành phố còn bộc lộ rất nhiều hạn chế như chi  
tiêu công chưa hợp lí và chưa xuất phát từ tình hình thực tế của địa phương. Vì vậy, tác giả đã lựa  
chọn nghiên cứu đề tài « Hiệu quả chi tiêu công tại Đà Nẵng » nhằm phân tích và đánh giá hiệu quả  
chi tiêu công tại thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn 1997 – 2012 bằng cách ứng dụng phương pháp  
phân tích bao dữ liệu DEA.  
2. Cơ sở lí thuyết và phương pháp nghiên cứu  
2.1. Cơ sở lý thuyết về hiệu quả trong chi tiêu công  
Trong rất nhiều nghiên cứu, hai khái niệm hiệu quả được sử dụng phổ biến là hiệu quả kĩ  
thuật và hiệu quả phân bổ, được giới thiệu đầu tiên bởi Farrell (1957). Khái niệm hiệu quả kĩ thuật  
đo lường mối quan hệ thuần túy giữa chi phí đầu vào và kết quả đầu ra, phản ánh khả năng một đơn  
vị tối đa hóa đầu ra với một tập hợp đầu vào nhất định được sử dụng (gọi là hiệu quả kĩ thuật định  
hướng đầu ra) hay khả năng sử dụng các loại đầu vào ở mức cần thiết tối thiểu để sản xuất ra một  
tập hợp đầu ra nhất định (gọi là hiệu quả kĩ thuật định hướng đầu vào). Trong khi đó, hiệu quả phân  
bổ phản ánh khả năng sử dụng tối ưu của các yếu tố đầu vào trong sự xem xét chi phí giá cả để đạt  
được một kết quả đầu ra nhất định (Mandl, Dierx, Ilzkovitz, 2008). Hai thành phần hiệu quả này  
được kết hợp để đo lường hiệu quả kinh tế (economic efficiency) hay còn gọi là hiệu quả toàn  
phần. Với trường hợp đo lường hiệu quả kĩ thuật định hướng đầu vào, Farrell đã sử dụng ví dụ đơn  
giản nhất với 2 biến đầu vào (x1, x2) để tạo ra 1 biến đầu ra (y) với giả thiết hiệu quả không đổi  
theo quy mô (hình 1).  
104  
HỘI THẢO "NGÂN HÀNG VIỆT NAM: BỐI CẢNH VÀ TRIỂN VỌNG"  
Hình 1: Hiệu quả kĩ thuật định hướng đầu vào  
Đường đồng lượng đơn vị của một đơn vị ra quyết định (DMU – Decision making unit) được biểu  
diễn bằng đường cong SS’. Nếu DMU sử dụng một lượng đầu vào, biểu diễn bởi điểm P, để sản  
xuất một lượng đầu ra thì mức độ phi hiệu quả của DMU được biểu diễn bởi đoạn PQ, phản ánh  
lượng đầu vào mà đơn vị có thế cắt giảm nhưng không làm ảnh hưởng đến lượng đầu ra. Mức độ  
phi hiệu quả này thường được thể hiện dưới dạng tỉ số PQ/OP, phản ánh phần trăm có thể giảm  
được của tất cả các đầu vào và nhận giá trị từ 0 đến 1. Như vậy, hiệu quả kĩ thuật (TE – Technical  
efficiency) của DMU được tính bằng tỉ số:  
Với 0 ≤ TE ≤ 1  
Như vậy, hiệu quả kĩ thuật định hướng đầu ra là tỉ lệ: TEO = 0A/0B. DMU được xem là hiệu quả tối  
đa khi 0Q/0P = 1, tức là P nằm trên đường đồng lượng đơn vị. Tỉ lệ phân bổ các yếu tố đầu vào  
được thể hiện qua AA’, tiếp tuyến với SS’ tại Q’. Theo đó, hiệu quả phân bổ AE của DMU tại P  
được thể hiện qua tỉ số:  
QR là khỏan chi phí sản xuất có thể cắt giảm nếu sản xuất diễn ra tại điểm hiệu quả phân bổ và  
hiệu quả kĩ thuật (hợp thành hiệu quả kinh tế) Q’ thay vì điểm hiệu quả kĩ thuật Q.  
Như vậy, hiệu quả kinh tế (EE) được xác định như sau:  
Với trường hợp đo lường hiệu quả kĩ thuật định hướng đầu ra, Farrell xem xét ví dụ gồm 2 đầu ra  
(y1 và y2) và 1 đầu vào đơn lẻ (x1) và cũng với giả thiết hiệu quả không đổi theo quy mô như được  
minh họa trong hình 2. Đường ZZ’ là đường cong khả năng sản xuất đơn vị. Điểm A đại diện cho  
một công ty họat động phi hiệu quả và mức độ phi hiệu quả được biểu diễn bởi đoạn AB, hay là  
phản ánh sản lượng đầu ra có thể được tăng lên mà không đòi hỏi nguồn lực đầu vào thêm vào.  
Nếu chúng ta có thêm thông tin về giá cả, chi phí đầu vào thì có thể xác định được đường doanh  
thu đồng loại DD’ và hiệu quả phân bổ sẽ bằng:  
AEO = 0B/0C  
105  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Từ đó, ta có hiệu quả kinh tế được xác định như sau:  
EEo=(0A/0C)=(0A/0B)× (0B/0C) = TEo×AEo  
Với 0 ≤ TEo, AEo , EEo ≤ 1  
Hình 2: Hiệu quả kĩ thuật định hướng đầu ra  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
Tại Việt Nam cũng như trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá  
hiệu quả chi tiêu công của các quốc gia bằng nhiều phương pháp khác nhau. Afonso A.,  
Schuknecht L., Tanzi V. (2006) đã kết hợp các phương pháp chỉ số tổng hợp, phân tích bao dữ liệu  
DEA và phân tích hồi quy Tobit để đo lường hiệu quả chi tiêu công cho 10 thành viên mới của liên  
minh Châu Âu. Trong nước, từ số liệu của 34 tỉnh thành Việt Nam trong giai đoạn 2000 – 2005,  
với phương pháp tiếp cận tham số (dựa trên hàm sản xuất ngẫu nhiên) và phương pháp tiếp cận phi  
tham số (dựa trên DEA), nghiên cứu của Nguyễn Khắc Minh (2008) đã chỉ ra tính phi hiệu quả tồn  
tại trong cả chi tiêu công và đầu tư công hàng năm. Dựa trên dữ liệu thứ cấp được thu thập từ niêm  
giám thống kê thành phố Đà Nẵng nói riêng và Việt Nam nói chung trong giai đoạn 1997 - 2012,  
nghiên cứu này được tiến hành thông qua 2 bước:  
(1) Xây dựng chỉ số tổng hợp hiệu quả khu vực công  
Chỉ số tổng hợp hiệu quả khu vực công sẽ là kết quả đầu ra (output) cho mô hình DEA trong nghiên  
cứu này. Afonso và cộng sự (2005) đã hiệu chỉnh và xây dựng nên một chỉ số tổng hợp đo lường  
hiệu quả hoạt động của khu vực công như sau:  
(1)  
PSPi (Public Sector Performance) là chỉ số tổng hợp của đơn vị ra quyết định (Decision Making  
Unit - DMU) thứ i và PSPij là chỉ tiêu thành phần j của DMU thứ i. Đơn vị ra quyết định có thể là  
một tỉnh thành, một quốc gia, một công ty hoặc một năm nào đó. Dựa theo nghiên cứu của Afonso  
và cộng sự, nghiên cứu này xây dựng chỉ số tổng hợp cho hiệu quả khu vực công tại Đà Nẵng qua  
các năm (các DMU) từ các nhóm chỉ tiêu thành phần về kinh tế lẫn xã hội (bảng 1).  
106  
HỘI THẢO "NGÂN HÀNG VIỆT NAM: BỐI CẢNH VÀ TRIỂN VỌNG"  
Bảng 1: Xây dựng chỉ số tổng hợp hiệu quả khu vực công  
Hoạt động Các chỉ tiêu thành phần (Afonso)  
Các chỉ tiêu thành phần (tác giả)  
Số học sinh đi học phổ thông trung Số học sinh đi học PTTH1  
học (PTTH)  
Giáo dục  
Y tế  
Chỉ số chất lượng giáo dục tóan và Số giáo viên đến bậc PTTH2  
khoa học  
Tỉ lệ trẻ em dưới 1 tuổi bị chết  
Tuổi thọ trung bình  
Hệ số Gini  
Số bác sĩ/vạn dân3  
Tỉ lệ chết thô4  
Tỉ lệ chênh lệch thu nhập bình quân giữa  
nhóm thu nhập cao nhất và nhóm thu nhập  
thấp nhất5  
Phân phối  
thu nhập  
Tỉ lệ của 40% dân số giàu nhất  
Tỉ lệ thất nghiệp  
Tỉ lệ thất nghiệp6  
Hiệu quả  
kinh tế  
Tốc độ tăng trưởng GDP  
GDP bình quân đầu người  
Lạm phát  
Tốc độ tăng trưởng GDP7  
GDP bình quân đầu người8  
Chỉ số CPI9  
Ổn định  
kinh tế  
Sự ổn định trong tăng trưởng GDP  
Hoạt động Các chỉ tiêu thành phần (Afonso)  
Các chỉ tiêu thành phần (tác giả)  
Số học sinh đi học phổ thông trung Số học sinh đi học PTTH1  
học (PTTH)  
Giáo dục  
Y tế  
Chỉ số chất lượng giáo dục tóan và Số giáo viên đến bậc PTTH2  
khoa học  
Tỉ lệ trẻ em dưới 1 tuổi bị chết  
Tuổi thọ trung bình  
Hệ số Gini  
Số bác sĩ/vạn dân3  
Tỉ lệ chết thô4  
Tỉ lệ chênh lệch thu nhập bình quân giữa  
nhóm thu nhập cao nhất và nhóm thu nhập  
thấp nhất5  
Phân phối  
thu nhập  
Tỉ lệ của 40% dân số giàu nhất  
Tỉ lệ thất nghiệp  
Tỉ lệ thất nghiệp6  
Hiệu quả  
kinh tế  
Tốc độ tăng trưởng GDP  
GDP bình quân đầu người  
Lạm phát  
Tốc độ tăng trưởng GDP7  
GDP bình quân đầu người8  
Chỉ số CPI9  
Ổn định  
kinh tế  
Sự ổn định trong tăng trưởng GDP  
Ghi chú: (1),(2),(3),(7),(8): các chỉ tiêu thành phần này biến động cùng chiều và đóng góp tích cực vào hiệu  
quả hoạt động công.  
(4): tỉ lệ chết thô phản ánh tiêu cực, trái chiều hiệu quả hoạt động của khu vực công nên được chuyển hóa  
thành tích cực theo công thức (1000-tỉ lệ chết thô)/1000.  
107  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
(5),(6),(9): các chỉ tiêu tỉ lệ chênh lệch giữa nhóm dân cư giàu và dân cư nghèo, tỉ lệ thất nghiệp và chỉ số CPI  
đóng góp tiêu cực vào hiệu quả khu vực công nên được chuyển hóa thành tích cực bằng tính toán nghịch đảo.  
(2) Ước lượng hiệu quả kĩ thuật bằng phương pháp phân tích bao dữ liệu DEA  
Phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA) là phương pháp tiếp cận ước lượng giới hạn khả  
năng sản xuất được Charnes & Cooper, và Rhodes (1978) lần đầu tiên giới thiệu, phát triển dựa  
trên ý tưởng ban đầu từ thước đo hiệu quả kỹ thuật của Farrell (1957). DEA được xây dựng dựa  
trên khái niệm hiệu quả kĩ thuật (Technical Efficiency) như sau:  
TE =  
Với giả thiết có N đơn vị ra quyết định (DMU), m đầu ra, n đầu vào, về mặt toán học, ta có  
thể diễn đạt mối tương quan trên như sau:  
Trong đó:  
es: hệ số hiệu quả kĩ thuật  
ui : trọng số của nhân tố đầu ra thứ m  
vj : trọng số của nhân tố đầu vào thứ n  
xjs : nhân tố đầu vào thứ j của DMU thứ s  
yis : nhân tố đầu ra thứ i của DMU thứ s  
Hệ số hiệu quả kĩ thuật theo phương pháp DEA bị chặn giữa 0 và 1, trong đó những DMU  
có hệ số TE bằng 1 là đạt hiệu quả cao nhất. Hiệu quả kĩ thuật có thể được xác định theo định  
hướng đầu vào (khả năng sử dụng các loại đầu vào cần thiết ở mức tối thiểu để sản xuất ra một tập  
hợp đầu ra nhất định) hoặc hiệu quả kĩ thuật định hướng đầu ra (khả năng một đơn vị tối đa hóa  
đầu ra với một tập hợp đầu vào nhất định được sử dụng). Trong trường hợp không có những kết  
quả khác biệt theo quy mô (constant return to scale – CRS), một DMU thứ s tối đa hóa hiệu quả  
bằng cách giải quyết vấn đề toán học sau:  
(3)  
Với ràng buộc:  
Trong đó ϕ là vectơ biến đối ngẫu; ξs là độ đo hiệu quả kỹ thuật toàn bộ của DMU thứ s.  
Tuy nhiên trên thực tế, các DMU bị ràng buộc bởi nhiều yếu tố, do đó thường hoạt động không ở  
mức quy mô tối ưu. Do đó khi bài toán (3) được giải với ràng buộc:  
Ta có hiệu quả kĩ thuật trong trường hợp hiệu quả thay đổi theo quy mô (variable return to  
scale – VRS) như sau:  
108  
HỘI THẢO "NGÂN HÀNG VIỆT NAM: BỐI CẢNH VÀ TRIỂN VỌNG"  
với ràng buộc:  
Dựa theo nghiên cứu của Afonso và cộng sự (2006), nghiên cứu này cũng sử dụng phương  
pháp phân tích bao dữ liệu với một đầu vào và một đầu ra. Biến đầu vào (input) là tỉ trọng chi tiêu  
ngân sách thành phố Đà Nẵng so với GDP và biến đầu ra (output) là chỉ số tổng hợp PSP của Đà  
Nẵng để ước lượng hệ số hiệu quả kĩ thuật định hướng đầu ra trong hai trường hợp: hiệu quả không  
đổi theo quy mô và hiệu quả thay đổi theo quy mô.  
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
3.1. Hiệu quả khu vực công theo phương pháp chỉ số tổng hợp  
Bảng 2: Kết quả chỉ số tổng hợp hiệu quả PSP  
Hiệu quả kinh  
tế  
Giáo  
dục  
Ổn định kinh  
tế  
Phân phối thu  
nhập  
Năm  
Y tế  
PSP*  
1997  
1998  
39.7  
0.6  
0.0  
56.7  
44.5  
62.6  
41.0  
58.0  
49.3  
78.9  
71.3  
72.8  
77.4  
79.2  
75.9  
76.1  
54.2  
44.0  
72.4  
63,4  
54.2  
19.9  
10.0  
13.2  
100.0  
64.2  
87.9  
19.0  
0.0  
64.4  
83.8  
100.0  
83.8  
83.8  
90.6  
83.8  
81.5  
83.8  
72.8  
28.1  
33.4  
28.1  
0.0  
214.9  
191.1  
233.5  
202.2  
348.3  
340.3  
380.6  
307.8  
307.5  
286.2  
330.5  
243.9  
242.0  
218.2  
249.7  
241.4  
271,1  
42.4  
50.9  
49.9  
69.5  
76.2  
81.9  
81.6  
86.6  
82.2  
77.8  
69.1  
68.8  
70.2  
77.3  
83.0  
66,7  
1999  
9.9  
2000  
14.3  
37.0  
60.1  
48.2  
54.4  
64.3  
46.5  
49.8  
47.2  
52.9  
70.8  
81.4  
58.1  
45,9  
2001  
2002  
2003  
2004  
2005  
2006  
7.2  
2007  
95.6  
18.1  
16.1  
23.0  
18.9  
15.2  
35,2  
2008  
2009  
2010  
2011  
28.1  
12.7  
59,9  
2012  
Trung bình  
(*) PSP là tổng hợp hệ số các nhóm chỉ tiêu thành phần với trọng số như nhau, bằng 1.  
(Nguồn: tính toán của tác giả)  
109  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Sau khi hoàn thành các bước trong việc xây dựng chỉ số tổng hợp hiệu quả khu vực công, hệ  
số hiệu quả khu vực công tại TP Đà Nẵng giai đoạn 1997 – 2012 được thể hiện trong bảng 2. Hiệu  
quả của các hoạt động khu vực công đạt thấp nhất trong giai đoạn 1997 – 2000, tương đối khá  
trong giai đoạn 2008 – 2012 và tốt nhất trong giai đoạn 2001 – 2007. Hiệu quả cao trong giai đoạn  
2001 – 2007 nhờ vào sự đóng góp chủ yếu của hệ số các chỉ tiêu thành phần trong lĩnh vực giáo  
dục, phân phối thu nhập và hệ số của chỉ tiêu thành phần tốc độ tăng bình quân của GDP. Mặc dù  
chi tiêu công vào các lĩnh vực này chiếm tỉ trọng không nhiều trong cơ cấu chi ngân sách nhưng  
hiệu quả hoạt động trong các lĩnh vực này lại cao.  
Điều đáng chú ý là trong giai đoạn 1997 – 2000, chỉ tiêu phân phối thu nhập có hệ số rất cao  
thể hiện sự chênh lệch thu nhập và phân hóa giàu nghèo thấp ở giai đoạn này. Nhưng sang đến giai  
đoạn 2008 – 2012, hệ số của chỉ tiêu ổn định kinh tế và phân phối thu thập lại nhỏ nhất, phản ánh lạm  
phát cao và cách biệt giàu nghèo gia tăng. Điều này cho thấy hoạt động của các lĩnh vực trong khu  
vực công giai đoạn sau này mặc dù mang lại những kết quả tốt về tăng trưởng kinh tế, giáo dục, y tế  
hơn giai đoạn trước nhưng tăng trưởng còn theo chiều rộng, chưa thực sự bao quát và bền vững.  
3.2. Hiệu quả chi tiêu công theo phương pháp DEA  
Sau khi đã đánh giá hiệu quả các hoạt động trong khu vực công tại Đà Nẵng, nghiên cứu tiếp  
tục ước lượng hiệu quả kĩ thuật bằng phương pháp phân tích bao dữ liệu để đánh giá hiệu quả chi  
tiêu công tại thành phố với bộ dữ liệu một đầu vào và một đầu ra. Sử dụng phần mềm MaxDEA  
6.1, kết quả nghiên cứu như sau:  
Bảng 3: Kết quả DEA (định hướng đầu ra)  
Năm  
1997  
VRS TE  
0.979  
1.000  
0.942  
0.756  
1.000  
0.969  
1.000  
0.819  
0.808  
0.752  
0.868  
0.655  
0.636  
0.573  
0.656  
0.637  
0.816  
0.153  
Xếp hạng  
CRS TE  
0.978  
1.000  
0.940  
0.754  
0.997  
0.930  
0.717  
0.610  
0.511  
0.531  
0.558  
0.503  
0.456  
0.410  
0.389  
0.462  
0.672  
0.228  
Xếp hạng  
4
1
3
1
1998  
1999  
6
4
2000  
10  
1
6
2001  
2
2002  
5
5
2003  
1
7
2004  
8
8
2005  
9
11  
10  
9
2006  
11  
7
2007  
2008  
13  
15  
16  
12  
14  
12  
14  
15  
16  
13  
2009  
2010  
2011  
2012  
Trung bình  
Độ lệch chuẩn  
(Nguồn: tính toán của tác giả)  
110  
HỘI THẢO "NGÂN HÀNG VIỆT NAM: BỐI CẢNH VÀ TRIỂN VỌNG"  
Kết quả DEA cho thấy, nhìn chung, hiệu quả chi tiêu công của thành phố Đà Nẵng trong giai  
đoạn 1997 – 2012 là chưa thật sự hiệu quả. Hệ số hiệu quả kĩ thuật trung bình với mô hình DEA  
biến đổi theo quy mô (VRS TE) là 0.816 hàm ý với nguồn lực đầu vào giới hạn, ngân sách chi tiêu  
tại thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn 1997 – 2012 chỉ mang lại 81% kết quả so với đầu ra hiệu  
quả mà thành phố có thể đạt được. Con số này giảm xuống chỉ còn 67% với mô hình DEA không  
đổi theo quy mô (CRS TE), tức là chi tiêu ngân sách thành phố chỉ mới đạt được khoảng 2/3 so với  
kết quả đầu ra hiệu quả. Cụ thể, giai đoạn 2001 – 2007 không chỉ đạt được những kết quả tốt nhất  
trong hiệu quả hoạt động của khu vực công mà còn đạt được hiệu quả kĩ thuật khá cao trong chi  
tiêu công. Giai đoạn 1997 – 2003, hiệu quả kĩ thuật của chi tiêu công tại thành phố đạt kết quả tốt  
nhất với xếp hạng giữa 1 và 5 (ngoại trừ năm 2000 xếp hạng 10) trong trường hợp VRS, và giữa 1  
và 7 trong trường hợp CRS. Trong đó, năm 1998, 2001 và 2003 có hệ số hiệu quả kĩ thuật cao nhất  
bằng 1. Với tỉ lệ chi tiêu ngân sách so với GDP thấp (hình 4), nhưng hiệu quả chi tiêu công giai  
đoạn 1997 – 2003 có kết quả cao hơn hẳn các năm còn lại cho thấy các khoản chi tiêu công trong  
giai đoạn 1997 – 2003 được sử dụng hợp lí và hiệu quả. Trái lại, giai đoạn 2008 – 2012 có hệ số  
hiệu quả kĩ thuật thấp nhất, xếp hạng giữa 12 và 16, cho thấy mặc dù quy mô chi tiêu công (phản  
ánh bởi tỉ lệ chi tiêu ngân sách so với GDP) ngày càng tăng lên nhưng những kết quả đạt được  
trong các hoạt động kinh tế - xã hội của giai đoạn này là chưa tương xứng với nguồn ngân sách chi  
tiêu mà thành phố bỏ ra để đầu tư và phát triển. Cụ thể, chi tiêu ngân sách giai đoạn này, trung  
bình, chiếm trên 35% GDP nhưng nhóm giai đoạn này lại nằm cách xa đường biên giới hạn sản  
xuất với hệ số hiệu quả kĩ thuật thấp thấp nhất (hình 3). Điều này cho thấy sự không hiệu quả trong  
chi tiêu khu vực công giai đoạn này, phản ánh tình trạng chi tiêu ngân sách không hợp lí, dàn trải,  
thiếu quy hoạch, thiếu đồng bộ.  
Hình 3: Đường biên giới hạn khả năng sản xuất trong trường hợp VRS TE  
(Nguồn: tính toán của tác giả)  
Hình 4: Tỉ trọng chi tiêu ngân sách so với GDP tại Đà Nẵng  
(Nguồn: Niêm giám thống kê thành phố các năm từ 1997 – 2012 và tính toán của tác giả)  
111  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
3.3. Thảo luận  
Khác với các nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây, phân tích bao dữ liệu DEA thường  
được sử dụng để đánh giá hiệu quả giữa các công ty, các ngân hàng hay các quốc gia khác nhau  
(country-cross). Tuy nhiên, cũng có nhiều nghiên cứu ứng dụng DEA đối với chuỗi thời gian đơn  
lẻ với những quan sát khác nhau của một công ty hoặc một đơn vị (Tulkens and Eeckaut, 1995). Vì  
vậy, điểm khác biệt của nghiên cứu này là tác giả nghiên cứu tại phạm vi một tỉnh thành là Đà  
Nẵng và đánh giá hiệu quả chi tiêu toàn khu vực công qua những năm khác nhau (được xem là các  
DMUs) trong giai đoạn 1997 – 2000, tương ứng với 16 quan sát (16 DMUs). Hơn nữa, nghiên cứu  
này đã ứng dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu để đo lường hiệu quả của chi tiêu công. Điều  
này chưa từng được sử dụng trong những nghiên cứu trước đó về lĩnh vực liên quan đến chi tiêu  
công, đầu tư công ở Việt Nam. Do đó, nghiên cứu này cùng với những kết quả đạt được mở ra  
những hướng đi mới và hòan thiện hơn cho những đề tài nghiên cứu tương tự đối với khu vực công  
tại Việt Nam. Tuy nhiên, các phương pháp sử dụng trong bài viết này chỉ được nghiên cứu trong  
phạm vi thành phố Đà Nẵng. Theo Afonso, Schuknecht, and Tanzi (2005), sự hiệu quả chi tiêu  
công nên được đánh giá trong sự so sánh: mối quan hệ giữa kết quả lợi ích và chi phí của quốc gia  
này với quốc gia khác. Nếu như sự chênh lệch giữa lợi ích và chi phí của quốc gia nào lớn hơn  
(dương) thì quốc gia đó được xem có chi tiêu công hiệu quả hơn. Vì vậy, những bài viết trong  
tương lai nên xem xét ứng dụng các phương pháp này để thực hiện các nghiên cứu giữa các thành  
phố, vùng miền khác nhau trong một nước hoặc giữa các quốc gia khác nhau để có sự so sánh hệ  
số, chỉ số giữa các đối tượng nhằm đánh giá hiệu quả chi tiêu công giữa những khu vực này.  
4. Kết luận  
Bài viết đã đánh giá và phân tích hiệu quả hoạt động khu vực công và hiệu quả chi tiêu công  
tại thành phố Đà Nẵng giai đoạn 1997 – 2012 bằng cách ứng dụng phương pháp phân tích bao dữ  
liệu DEA. Kết quả cho thấy giai đoạn 2008 – 2012 có chi tiêu ngân sách cao với trung bình trên  
35%GDP nhưng những kết quả hoạt động khu vực công (phản ánh qua chỉ số PSP) và hệ số hiệu  
quả kĩ thuật (thông qua phân tích DEA) đạt được lại thấp nhất. Chi tiêu công không hiệu quả trong  
giai đoạn này, phản ánh tình trạng chi tiêu ngân sách không hợp lí, dàn trải, thiếu quy hoạch dẫn  
đến kết quả đạt được không tương xứng với chi tiêu ngân sách bỏ ra. Cụ thể, ngân sách chi tiêu tại  
thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn 2008 – 2012 chỉ mang lại 51% kết quả so với đầu ra hiệu quả  
mà thành phố có thể đạt được. Con số này là 73% trong cả thời kì nghiên cứu từ 1997 đến 2012.  
Như vậy, những kết luận của nghiên cứu này phần nào giúp các nhà kinh tế, nhà hoạch định chính  
sách của thành phố, các sở, ban, ngành liên quan có cơ sở để đánh giá lại kết quả hoạt động, đưa ra  
các giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả chi tiêu công trong thời gian tới.  
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Afonso A., Schuknecht L., Tanzi V., (2003), “Public sector efficiency: an international  
comparison”, European Central Bank, Working Paper No. 242/July 2003, p.10-12.  
[2] Afonso A., Schuknecht L., Tanzi V., (2006), “Public sector efficiency: evidence for new EU  
member states and emerging markets”, European Central Bank, Working Paper No.  
581/January 2006.  
[3] Charnes, A., Cooper, W. and Rhodes, E. (1978), “Measuring the Efficiency of Decision  
Making Units”, European Journal of Operetional Research, Vol 2, p.429-444.  
[4] Farrell, J. (1957), "The Measurement of productive efficiency", Journal of the Royal  
Statistical Society, Part III Vol.120, p.11  
112  
HỘI THẢO "NGÂN HÀNG VIỆT NAM: BỐI CẢNH VÀ TRIỂN VỌNG"  
[5] Freudenberg, M. (2003), “Composite indicators of country performance: a critical  
assessment”, Directorate for Science, Technology and Industry, No.16.  
[6] Mandl U., Dierx A., Ilzkovitz F., (2008), “The effectiveness and efficiency of public  
spending”, European Commission, Directorate General for Economic and Financial Affairs,  
p.3-4.  
[7] Mihaiu D. M., Opreana A., Cristescu M.P. (2010), “Efficiency, effectiveness and performance  
of the public sector”, Romanian Journal of Economic Forecasting, p132-147.  
[8] Tanzi, V. and Schuknecht, L. (1997), “Reconsidering the Fiscal Role of Government: The  
International Perspective,” American Economic Review, No.87, Vol 2, p.164-168.  
[9] Tulkens, H. and Eeckaut, P. V. (1995), “Non-parametric efficiency, progress and regress  
measures for panel data: Methodological and aspects”, European Journal of Operational  
Research, No.80, p.474-499.  
113  
pdf 10 trang Thùy Anh 14600 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hiệu quả chi tiêu công tại Thành phố Đà Nẵng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhieu_qua_chi_tieu_cong_tai_thanh_pho_da_nang.pdf