Tăng cường thu ngân sách địa phương ở Việt Nam

VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 37, No. 1 (2021) 20-28  
Original Article  
Enhancing Local Government Revenue in Vietnam  
Bui Quang Phat*  
Department of Labor, Invalids and Social Affairs of Bac Giang Province,  
No. 52, Ngo Gia Tu Road, Bac Giang City, Vietnam  
Received 04 February 2021  
Revised 06 March 2021; Accepted 09 March 2021  
Abstract: The paper analyzes the current status of local government revenues in Vietnam base on  
two indicator groups: The size and The structure of local government revenues. In addition, the  
paper also compares the revenue among local governments, analyzes the causes that led to the  
differences. Some recommendations are proposed to enhance local government revenues in  
Vietnam. This is an important basis to promote local government revenues through decentralized  
revenues and at the same time reduce the burden for central government.  
Keywords: Local government revenue, budget decentralization, central government transfer.  
D*  
_______  
* Corresponding author.  
E-mail address: [email protected]m  
20  
B.Q. Phat / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 37, No. 1 (2021) 20-28  
21  
Tăng cường thu ngân sách địa phương ở Việt Nam  
Bùi Quang Phát*  
Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Giang,  
số 52, đường Ngô Gia Tự, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang, Việt Nam  
Nhận ngày 04 tháng 02 năm 2021  
Chỉnh sửa ngày 06 tháng 3 năm 2021; Chấp nhận đăng ngày 09 tháng 3 năm 2021  
Tóm tắt: Bài viết phân tích thực trạng thu ngân sách địa phương ở Việt Nam dựa trên hai nhóm  
chỉ tiêu chính: Quy mô và cơ cấu thu ngân sách địa phương. Ngoài ra, trên cơ sở so sánh quy mô  
thu ngân sách tại các địa phương, bài viết tìm hiểu nguyên nhân dẫn tới sự khác biệt về nguồn thu  
giữa các vùng, lãnh thổ, từ đó đề xuất một số khuyến nghị nhằm thúc đẩy tăng thu ngân sách, góp  
phần giảm gánh nặng bổ sung cân đối ngân sách từ trung ương cho các địa phương.  
Từ khóa: Thu ngân sách địa phương, quy mô, cơ cấu thu ngân sách, ngân sách trung ương.  
1. Lời mở đầu *  
trên Phụ lục số 02/CKTC-NSNN giai đoạn  
2009-2018 [2]). Ngoài ra, thu ngân sách tại các  
địa phương có sự chênh lệch rất lớn giữa các  
vùng, lãnh thổ, điều này dẫn tới gánh nặng bổ  
sung ngân sách từ trung ương về các vùng, lãnh  
thổ này là rất lớn. Để đánh giá thực trạng thu  
NSĐP tại Việt Nam, bài viết thực hiện phân  
tích dựa trên 2 nhóm chỉ tiêu chính là quy mô  
và cơ cấu thu NSĐP. Bài viết cũng so sánh quy  
mô thu ngân sách tại các địa phương, phân tích  
nguyên nhân dẫn tới sự khác biệt trong nguồn  
thu giữa các vùng, lãnh thổ, từ đó đề xuất một  
số khuyến nghị nhằm thúc đẩy tăng thu ngân  
sách tại các địa phương. Đây là cơ sở quan  
trọng để thúc đẩy tăng thu NSĐP qua các khoản  
thu được phân cấp, đồng thời giảm gánh nặng  
bổ sung cân đối ngân sách từ trung ương cho  
các địa phương.  
Theo Luật Ngân sách Nhà nước 2015, Ngân  
sách Nhà nước (NSNN) bao gồm NSTƯ  
(NSTƯ) và ngân sách địa phương (NSĐP) [6].  
NSĐP là các khoản thu NSNN cấp cho địa  
phương hưởng, thu bổ sung từ NSTƯ cho  
NSĐP và các khoản chi NSNN thuộc nhiệm vụ  
chi của cấp địa phương. Như vậy, tổng thu  
NSĐP bao gồm khoản thu NSĐP hưởng theo  
phân cấp và khoản thu bổ sung từ NSTƯ cho  
NSĐP. Có thể thấy, thu ngân sách tại các địa  
phương có vai trò rất quan trọng: (i) Tổng hợp  
các khoản thu ngân sách tại các địa phương  
hình thành nên tổng thu NSNN; và (ii) Thu  
NSĐP tăng góp phần giúp các địa phương thực  
hiện tốt nhiệm vụ chi ngân sách và giảm thiểu  
gánh nặng bổ sung cân đối từ NSTƯ cho các  
địa phương.  
Ở Việt Nam, mức thu NSĐP tăng đều qua  
các năm trong giai đoạn 2009-2018 [2], song  
tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần. Bên  
cạnh đó, mặc dù NSĐP có thặng dư song chủ  
yếu từ mức thu bổ sung từ NSTƯ còn chiếm tỷ  
trọng lớn trong tổng thu NSĐP. Trung bình  
trong giai đoạn 2009-2018, thu bổ sung từ  
NSTƯ chiếm trung bình 31,78% (tính toán dựa  
2. Thực trạng thu ngân sách địa phương giai  
đoạn 2009-2018  
2.1. Quy mô thu ngân sách địa phương  
i) Tổng thu NSĐP  
Tổng thu NSĐP tăng đều qua các năm từ  
405.103 tỷ đồng năm 2009 lên mức 1.348.513  
tỷ đồng năm 2018 [2]. Tăng thu NSĐP đã góp  
phần tăng thu ngân sách nhà nước trong cả giai  
đoạn 2009-2018. Năm 2010, thu NSĐP tăng  
_______  
* Tác giả liên hệ.  
Địa chỉ email: [email protected]m  
B.Q. Phat / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 37, No. 1 (2021) 20-28  
22  
20,38% so với năm 2009, tốc độ tăng trưởng  
này tăng nhẹ ở mức 20,47% năm 2010. Tuy  
nhiên sau đó, tốc độ tăng thu NSĐP giảm  
xuống còn 19,88% năm 2011, và xuống mức  
thấp nhất vào năm 2013, chỉ đạt 3,49%. Trung  
bình tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn  
2009-2018 ở mức hơn 13,69% (tính toán của  
tác giả dựa trên số liệu thu bổ sung từ NSTƯ  
cho các địa phương trong Phụ lục số 02/CKTC-  
NSNN về Quyết toán cân đối nguồn thu, chi  
NSTƯ và NSĐP năm 2009-2018 [2]).  
Tương tự, nguồn chi NSĐP cũng có xu  
hướng tăng qua các năm. Nếu chi NSĐP năm  
2009 chỉ ở mức 376.690 tỷ đồng thì đến năm  
2018, con số này ở mức 1.185.166 tỷ đồng. Tốc  
độ tăng trưởng chi NSĐP lần lượt ở mức  
20,01% năm 2010, 23,15% năm 2011, 19,08%  
năm 2012, 3,44% năm 2013 và trung bình  
13,69% trong giai đoạn 2009-2018 [2].  
khẩu và các nguồn thu khác. Nguồn thu NSNN  
tại các địa phương là nguồn chủ yếu hình thành  
nên tổng thu NSNN.  
Trong số các vùng, lãnh thổ, Đông Nam Bộ  
đóng góp nguồn thu lớn nhất vào thu NSNN  
(trung bình 38,29% giai đoạn 2009-2016), tiếp  
đến là Đồng bằng sông Hồng (32,24%), Bắc  
Trung Bộ và duyên hải miền Trung (14,12%),  
Đồng bằng sông Cửu Long (6,87%), Trung du  
và miền núi phía Bắc (5,95%) và cuối cùng,  
đóng góp thấp nhất là khu vực Tây Nguyên  
(2,5%) (tính toán của tác giả dựa trên số liệu  
thu NSNN theo các vùng, lãnh thổ trong Phụ  
lục số 03/CKTC-NSNN về Quyết toán thu, chi  
ngân sách của các tỉnh, thành phố trực thuộc  
trung ương năm 2009-2018 [3]). Số liệu trên  
cho thấy mức chênh lệch rất lớn về thu NSNN  
giữa các vùng trong cả nước.  
Hình 2 thể hiện mức thu NSĐP và so sánh  
giữa ba khu vực Đồng bằng sông Hồng, Đông  
Nam Bộ và Tây Nguyên trong các năm 2009,  
2011, 2013, 2015 và 2016. Theo đó, mức thu  
ngân sách ở Đồng bằng sông Hồng và Đông  
Nam Bộ đều tăng qua các năm. Đặc biệt, năm  
2010, thu ngân sách tại hai khu vực này có sự  
tăng trưởng vượt bậc so với năm 2009, lần lượt  
ở mức 132% và 303%. Giai đoạn 2010-2016,  
tốc độ tăng trưởng thu ngân sách tại Đồng bằng  
sông Hồng và Đông Nam Bộ có xu hướng giảm  
dần, trung bình ở mức 10% và 8%. Khu vực  
Tây Nguyên không chỉ có mức thu ngân sách  
thấp nhất cả nước mà còn giảm trong các năm  
2010, 2013, 2014, 2015. Trung bình trong cả  
giai đoạn 2009-2016, tốc độ tăng trưởng hàng  
năm ở khu vực Tây Nguyên là 2%. Mức thu  
ngân sách tại Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông  
Hồng năm 2016 lần lượt gấp 20,95 và 18,31 lần  
mức thu ngân sách tại khu vực Tây Nguyên  
(tính toán của tác giả dựa trên số liệu thu ngân  
sách nhà nước theo các vùng, lãnh thổ trong  
phụ lục số 03/CKTC-NSNN về Quyết toán thu,  
chi ngân sách của các tỉnh, thành phố trực thuộc  
trung ương từ năm 2009-2018 [3]).  
Đơn vị: tỷ đồng  
Hình 1. Quy mô thu chi NSĐP giai đoạn 2009-2018.  
Nguồn: Bộ Tài chính (2009-2018) [2].  
Mặc dù tốc độ tăng thu NSĐP có xu hướng  
giảm qua các năm, song do chi NSĐP cũng  
tăng ở mức tương ứng nên trong cả giai đoạn,  
NSĐP vẫn đạt thặng dư. Mức thặng dư tăng qua  
các năm, từ 28.413 tỷ đồng năm 2009 lên  
163,347 tỷ đồng năm 2018 [2].  
ii) Thu NSNN tại các địa phương  
Thu NSNN tại các địa phương bao gồm thu  
nội địa, thu từ dầu thô, thu từ xuất khẩu, nhập  
2.2. Cơ cấu thu ngân sách địa phương  
Nguồn thu NSĐP bao gồm thu NSĐP  
hưởng theo phân cấp, thu bổ sung từ NSTƯ  
(gồm bổ sung cân đối và bổ sung có mục tiêu),  
thu từ quỹ dự trữ tài chính, thu huy động đầu tư,  
kinh phí đã xuất quỹ từ năm trước chưa quyết  
B.Q. Phat / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 37, No. 1 (2021) 20-28  
23  
toán và số chuyển nguồn năm trước để chi theo  
chế độ quy định, thu kết dư NSĐP.  
Luật NSNN thì tỷ lệ phân chia khoản thu giữa  
NSTƯ và NSĐP được xác định riêng cho từng  
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và áp  
dụng chung đối với tất cả các khoản thu phân  
chia trên địa bàn. Công thức xác định tỷ lệ phần  
trăm phân chia như sau: i) Tổng số chi NSĐP  
được xác định căn cứ nguyên tắc, tiêu chí, định  
mức phân bổ NSNN theo nghị quyết của  
Ủy ban Thường vụ Quốc hội; ii) Tổng số khoản  
thu NSĐP hưởng 100% được xác định trên  
cơ sở khả năng thu; và iii) Tổng số các khoản  
thu phân chia giữa NSTƯ và NSĐP được xác  
định trên cơ sở khả năng thu. Nếu A - B >= C  
thì tỷ lệ là 100% và phần chênh lệch nếu có sẽ  
được NSTƯ bổ sung để cân đối NSĐP. Nếu  
A - B < C thì tỷ lệ phần trăm được xác định  
bằng (A - B)/C * 100% [1].  
Chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nguồn thu  
NSĐP là thu NSĐP hưởng theo phân cấp  
(Bảng 1). Thu NSĐP hưởng theo phân cấp bao  
gồm các khoản thu NSĐP được hưởng 100% và  
các khoản thu phân chia theo tỷ lệ giữa NSTƯ  
và NSĐP. Các khoản thu NSĐP được hưởng  
100% được quy định cụ thể trong Luật Ngân  
sách Nhà nước số 83/2015/QH13 ngày  
25/06/2015 [6].  
Đơn vị: triệu đồng  
Trong thời kỳ ổn định ngân sách  
2017-2020, tỷ lệ phân chia nguồn thu giữa  
NSTƯ và NSĐP của toàn bộ các tỉnh thuộc  
Trung du và miền núi phía Bắc là 100%. Khu  
vực đồng bằng sông Hồng, tỷ lệ phân chia  
nguồn thu ở Hà Nội là 35%, ở Hải Phòng,  
Quảng Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Vĩnh  
Phúc và Bắc Ninh lần lượt là 78%, 65%, 98%,  
93%, 53% và 83%; các tỉnh còn lại đạt tỷ lệ  
100%. Khu vực Bắc Trung Bộ và duyên hải  
miền Trung, chỉ trừ 4 tỉnh là Đà Nẵng, Quảng  
Nam, Quảng Ngãi và Khánh Hòa có tỷ lệ phân  
chia lần lượt 68%, 90%, 88% và 72%, các tỉnh  
còn lại 100%. Khu vực Tây Nguyên, tỷ lệ phân  
chia ở tất cả các tỉnh đều là 100%. Khu vực  
Đông Nam Bộ, các tỉnh Thành phố Hồ Chí  
Minh, Đồng Nai, Bình Dương và Bà Rịa - Vũng  
Tàu có tỷ lệ lần lượt là 18%, 47%, 36% và  
64%, các tỉnh còn lại 100%. Khu vực Đồng  
bằng sông Cửu Long, chỉ duy nhất Cần Thơ có  
tỷ lệ phân chia nguồn thu giữa NSTƯ và NSĐP  
là 91%, các tỉnh còn lại là 100% [7].  
Hình 2. Thu ngân sách tại khu vực  
Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ và  
Tây Nguyên giai đoạn 2009-2016.  
Nguồn: Bộ Tài chính (2009-2018) [3].  
Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm  
giữa NSTƯ và NSĐP gồm: i) Thuế giá trị gia  
tăng; ii) Thuế thu nhập doanh nghiệp, trừ thuế thu  
nhập doanh nghiệp; iii) Thuế thu nhập cá nhân;  
iv) Thuế tiêu thụ đặc biệt, trừ thuế tiêu thụ đặc  
biệt; và v) Thuế bảo vệ môi trường.  
Bảng 2 thể hiện tỷ trọng các nguồn thu  
NSĐP. Thu NSĐP hưởng theo phân cấp bao  
gồm: i) thu từ thuế, phí và các khoản thu khác;  
và ii) thu từ nguồn viện trợ không hoàn lại.  
Trong đó khoản thu từ thuế, phí và các khoản  
thu khác chiếm tỷ trọng chủ yếu, tăng qua các  
năm, từ 170,547 tỷ đồng năm 2009 đến 682,484  
tỷ đồng năm 2018, tốc độ tăng trưởng trung bình  
hàng năm giai đoạn 2009-2016 đạt mức trên 17%.  
Theo Thông tư số 342/2016/TT-BTC hướng  
dẫn Nghị định số 163/2016/NĐ-CP hướng dẫn  
Đóng góp lớn thứ hai trong nguồn thu của  
NSĐP là thu bổ sung từ NSTƯ, bao gồm bổ  
sung cân đối và bổ sung có mục tiêu. Trong đó,  
số bổ sung cân đối ngân sách là khoản NSTƯ  
bổ sung cho NSĐP nhằm đảm bảo cho chính  
quyền địa phương cân đối ngân sách được cấp  
để thực hiện nhiệm vụ được giao. Số bổ sung có  
mục tiêu là khoản ngân sách cấp trên bổ sung  
cho ngân sách cấp dưới để hỗ trợ thực hiện các  
B.Q. Phat / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 37, No. 1 (2021) 20-28  
24  
chương trình, dự án, nhiệm vụ cụ thể. Theo  
Đinh Thị Nga (2017), NSTƯ phải cấp bổ sung  
cân đối ngân sách cho 47 tỉnh có nguồn thu  
không đủ chi tiêu. Số bổ sung cân đối từ NSTƯ  
cho NSĐP của một số tỉnh rất lớn, đặc biệt là  
các tỉnh miền núi, có tỉnh lên tới 88% tổng chi  
cân đối ngân sách [7]. Tuy nhiên, theo Luật  
NSNN (2015), sau mỗi thời kỳ ổn định ngân  
sách, các địa phương phải tăng khả năng tự cân  
đối, phát triển NSĐP, thực hiện giảm dần tỷ lệ  
bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên so với  
tổng chi NSĐP hoặc tăng tỷ lệ phần trăm nộp  
về ngân sách cấp trên đối với các khoản thu  
phân chia giữa các cấp ngân sách để tăng nguồn  
lực cho ngân sách cấp trên thực hiện các nhiệm  
vụ chi quốc gia và phát triển đồng đều giữa các  
địa phương [6].  
Thu bổ sung từ NSTƯ tăng đều qua các  
năm trong giai đoạn 2009-2018, từ mức  
134,118 tỷ đồng năm 2009 lên mức 337,466 tỷ  
đồng năm 2018. Tỷ trọng trung bình của thu bổ  
sung từ NSTƯ trong tổng thu NSĐP là 31,83%  
trong cả giai đoạn (tính toán của tác giả dựa  
trên số liệu thu bổ sung từ NSTƯ cho các địa  
phương trong Phụ lục số 02/CKTC-NSNN về  
Quyết toán cân đối nguồn thu, chi NSTƯ và  
NSĐP từ năm 2009-2018 [2]).  
Bảng 1. Cơ cấu thu NSĐP giai đoạn 2009-2018 (Đơn vị: tỷ đồng)  
2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016  
Chỉ tiêu  
2009  
2017  
2018  
Nguồn  
thu  
405103 487703 587562 704411 729062 769779 882374 982931 1174262 1348513  
NSĐP  
Thu  
NSĐP  
hưởng  
theo phân  
cấp  
Thuế, phí  
và thu  
khác  
171183 224873 268731 281983 312927 339341 415056 507133 566495  
170547 224342 267653 280981 311566 338207 413751 505133 565366  
643895  
642484  
1411  
Viện trợ  
không  
636  
531  
1078  
1002  
1361  
1134  
1305  
1265  
1128  
hoàn lại  
Thu bổ  
sung từ  
NSTƯ  
Bổ sung  
cân đối  
Bổ sung  
có mục  
tiêu  
134118 139813 182225 234403 233687 253937 287706 254040 320581  
337466  
-
38754  
95364  
52565  
87248  
93778  
88447  
107744 131511 148289 145893 127822  
126659 102176 105648 141813 126218  
-
-
-
Thu khác 99802  
123017 136606 188025 182448 176501 179612 221758 287187  
367153  
Nguồn: Bộ Tài chính (2009-2018) [2].  
Bảng 2. Tỷ trọng các nguồn thu NSĐP giai đoạn 2009-2018 (Đơn vị: %)  
2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018  
Thu NSĐP hưởng theo phân cấp  
Thu bổ sung từ NSTƯ  
Thu khác  
42  
33  
25  
46  
29  
25  
46  
31  
23  
40  
33  
27  
43  
32  
25  
44  
33  
23  
47  
33  
20  
52  
26  
23  
48,24 47,74  
27,3 25,02  
24,45 27,22  
Nguồn: Tính toán của tác giả dựa trên số liệu ở Bảng 1.  
B.Q. Phat / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 37, No. 1 (2021) 20-28  
25  
3. Đánh giá thực trạng thu ngân sách địa  
phương ở Việt Nam  
Thông qua phân tích thực trạng thu NSĐP  
giai đoạn 2009-2018, một số đánh giá được rút  
ra như sau:  
Thứ nhất, thu NSĐP tăng đều qua các năm  
trong suốt giai đoạn song mức tăng trưởng  
không ổn định, thậm chí có xu hướng giảm dần.  
Thứ hai, NSĐP có thặng dư song đóng vai  
trò lớn trong nguồn thu lại xuất phát từ thu bổ  
sung của NSTƯ. Trong đó thu bổ sung cân đối  
từ NSTƯ chiếm 50% tổng thu bổ sung, cho  
thấy khó khăn của các địa phương trong việc  
cân đối ngân sách, đồng thời gây áp lực lớn cho  
NSTƯ. Ba khu vực nhận bổ sung lớn nhất từ  
NSTƯ gồm Trung du và miền núi phía Bắc,  
Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long.  
Thứ ba, thu ngân sách tại các địa phương có  
sự chênh lệch rất lớn giữa các vùng và lãnh thổ.  
Hai vùng, lãnh thổ có nguồn thu lớn nhất là  
Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng có quy  
mô thu lớn gấp hơn 20 lần nguồn thu tại Tây  
Nguyên. Chính sự chênh lệch lớn trong thu  
ngân sách tại các địa phương như vậy dẫn đến  
áp lực bổ sung cân đối từ NSTƯ dành cho các  
vùng, lãnh thổ có mức thu thấp.  
Hình 3. Bổ sung cân đối ngân sách 6 khu vực  
trong cả nước giai đoạn 2014-2018.  
Nguồn: Bộ Tài chính (2009-2018) [3].  
Hình 3 cho thấy trong giai đoạn 2014-2018,  
NSTƯ phải bổ sung cân đối cho khu vực Trung  
du và miền núi phía Bắc ở mức lớn nhất trong  
cả nước. Năm 2018, tổng bổ sung cân đối từ  
NSTƯ cho NSĐP là 337,465,673 triệu đồng,  
trong đó Trung du và miền núi phía Bắc chiếm  
tỷ trọng 31,33%, tiếp đến là Bắc Trung Bộ và  
duyên hải miền Trung ở mức 25,57%, Đồng  
bằng sông Cửu Long đứng vị trí thứ 3 với  
19,03%. Tiếp đến là Tây Nguyên và Đồng bằng  
sông Hồng với tỷ trọng 10,23% và 8,8%. Đông  
Nam Bộ là khu vực có nguồn bổ sung cân đối  
từ NSTƯ ở mức thấp nhất. Tỷ trọng bổ sung  
cân đối so với chi cân đối NSĐP ở Trung du và  
miền núi phía Bắc đạt mức cao nhất, trung bình  
35,07% trong cả giai đoạn 2009-2018. Tỷ lệ  
này cho thấy để cân đối chi NSĐP, NSTƯ phải  
bổ sung cân đối 35,07%. Tiếp đến là khu vực  
Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long, Bắc  
Trung Bộ và Duyên hải miền Trung với tỷ lệ  
lần lượt là 26,78%; 20,75% và 18,94%. Tỷ lệ  
giữa bổ sung cân đối từ NSTƯ và chi cân đối  
NSĐP ở Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam  
Bộ ở mức 5,54% và 1,32%. Điều này cho thấy,  
áp lực đối với NSTƯ đặc biệt từ các địa phương  
ở Trung du và miền núi phía Bắc, Bắc Trung  
Bộ và Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên và  
Đồng bằng sông Cửu Long là rất lớn.  
Nguyên nhân dẫn tới sự chênh lệch trong  
thu ngân sách tại các địa phương chủ yếu xuất  
phát từ sự khác biệt trong điều kiện kinh tế - xã  
hội tại các địa phương. Cụ thể:  
i) Sự khác biệt về mức độ tăng trưởng kinh  
tế ở các địa phương: Ở các địa phương, tăng  
trưởng kinh tế đồng nghĩa với việc thu nhập của  
người dân địa phương sẽ tăng lên, thu nhập của  
các doanh nghiệp địa phương cũng tăng lên, khi  
đó nguồn thu của chính quyền địa phương từ  
thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh  
nghiệp cũng sẽ tăng. Ngoài ra, khi các cá nhân,  
hộ gia đình và các doanh nghiệp được cải thiện  
thu nhập, mức độ sẵn sàng nộp thuế của người  
dân cũng tăng lên, từ đó góp phần giảm tình  
trạng tránh thuế, trốn thuế và tăng thu ngân  
sách cho chính quyền địa phương.  
Bảng 3 cho thấy sự chênh lệch lớn về tổng  
GDP theo giá so sánh giữa các vùng giai đoạn  
2010-2018. Đông Nam Bộ là khu vực dẫn đầu  
cả nước về tăng trưởng kinh tế, tiếp đến là  
Đồng bằng sông Hồng. Trung du miền núi phía  
B.Q. Phat / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 37, No. 1 (2021) 20-28  
26  
Bắc và Tây Nguyên là hai khu vực có mức  
GDP theo giá so sánh thấp nhất cả nước;  
nghiệp. Khi đó, nếu điều kiện thời tiết thuận lợi,  
nguồn thu của chính quyền địa phương sẽ tăng  
lên, ngược lại nếu thiên tai xảy ra, nông dân có  
nguy cơ mất trắng tài sản, nguồn thu vào ngân  
sách sẽ bị ảnh hưởng. Do vậy, mức độ đa dạng  
hóa kinh tế ở các địa phương sẽ làm giảm mức  
độ rủi ro trong các hoạt động kinh tế ở địa  
phương, từ đó giúp tăng nguồn thu cho NSĐP.  
ii) Sự khác biệt về mức độ đa dạng hóa kinh  
tế: Đây cũng là một trong những nhân tố quan  
trọng ảnh hưởng tới thu NSĐP, được thể hiện  
thông qua mức độ đa dạng hóa trong các ngành,  
lĩnh vực kinh tế mà địa phương đã và đang phát  
triển. Ví dụ, có những địa phương với điều kiện  
địa lý thuận lợi trong phát triển nông nghiệp,  
chỉ tập trung vào phát triển lĩnh vực nông  
Bảng 3. Tổng GDP theo giá so sánh của 6 vùng kinh tế giai đoạn 2010-2018  
Đơn vị: Tỷ đồng  
Vùng kinh tế  
Trung và miền núi  
phía Bắc  
Đồng bằng sông Hồng 60,66  
Bắc Trung Bộ và  
2010  
2011  
13,30  
66,88  
26,39  
21,39  
2012  
2013  
15,66  
80,89  
30,97  
24,25  
2014  
17,46  
84,80  
34,10  
25,76  
2015  
20,30  
93,17  
37,54  
27,41  
2016  
2017  
2018  
12,51  
14,34  
71,42  
28,42  
22,67  
22,35  
24,69  
27,02  
101,65 129,86 141,66  
24,74  
41,14  
29,57  
44,04  
31,82  
48,32  
34,23  
Duyên hải miền Trung  
Tây Nguyên  
Đông Nam Bộ  
Đồng bằng sông Cửu  
Long  
19,86  
176,65 174,56 189,52 205,33 219,21 241,64 257,20 271,85 289,82  
26,94 29,53 32,34 34,73 37,41 37,01 39,05 41,54 44,61  
Nguồn: Tổng cục Thống kê (2009-2018) [8].  
Mức độ đa dạng hóa kinh tế có thể được đo  
lường bằng tỷ trọng ngành sản xuất nông  
nghiệp trong GDP. Tỷ trọng này càng cao càng  
làm giảm khả năng thu ngân sách vì thu nhập  
hạn chế của khu vực này và vì đặc điểm sản  
xuất phân tán của nó khiến cho việc thu thuế ít  
hiệu quả. Hình 4 cho thấy tỷ trọng sản xuất  
nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản trong  
GDP của Tây Nguyên dẫn đầu cả nước, trung  
bình cả giai đoạn là 41,12%. Đứng thứ hai là  
Đồng bằng sông Cửu Long với tỷ trọng trung  
bình 35,88% Tiếp theo là Trung du và miền núi  
phía Bắc và Bắc Trung Bộ, Duyên hải miền  
Trung với tỷ trọng trung bình 25,05%, 21,44%  
và 22,23%. Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông  
Hồng là hai lãnh thổ có tỷ trọng sản xuất nông  
nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản trong GDP thấp  
nhất cả nước, lần lượt 14,33% và 13,31%;  
nghiệp nước ngoài phải trả tiền thuê đất hàng  
kỳ cho chính quyền (đây là nguồn thu quan  
trọng của NSĐP), đồng thời nộp thuế thu nhập  
doanh nghiệp tại địa phương. Thứ hai, các  
doanh nghiệp nước ngoài tác động gián tiếp đến  
thu NSĐP thông qua tăng thu nhập cho người  
lao động và tăng thu nhập cho các doanh nghiệp  
địa phương cung cấp sản phẩm đầu vào (doanh  
nghiệp phụ trợ), từ đó góp phần tăng thuế thu  
nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp  
(Hình 5).  
Số liệu về vốn FDI đăng ký tại các vùng,  
lãnh thổ trong cả nước giai đoạn 2010-2018 cho  
thấy Tây Nguyên và Trung du, miền núi phía  
Bắc vẫn là hai khu vực có vốn FDI đăng ký  
thấp nhất. Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông  
Hồng vẫn giữ được sự tăng trưởng ổn định  
trong thu hút vốn FDI hàng năm. Đông Nam Bộ  
là khu vực dẫn đầu cả nước về thu hút vốn FDI  
trong giai đoạn 2011-2014. Tuy nhiên, bước  
sang giai đoạn 2015-2018, Đồng bằng sông  
Cửu Long là khu vực có vốn FDI đăng ký cao  
nhất cả nước [8].  
iii) Sự khác biệt trong thu hút đầu tư trực  
tiếp nước ngoài (FDI) vào địa phương  
FDI có thể tác động đến thu NSĐP theo hai  
kênh trực tiếp và gián tiếp. Thứ nhất, các doanh  
B.Q. Phat / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 37, No. 1 (2021) 20-28  
27  
Đơn vị: %  
nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản trong GDP và  
sự khác biệt trong thu hút vốn đầu tư nước  
ngoài. Do vậy, để tăng cường nguồn thu vào  
các địa phương có nguồn thu thấp nhằm giảm  
áp lực cân đối ngân sách đối với NSTƯ, cần  
đưa ra các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh  
tế ở các địa phương, giảm sự phụ thuộc vào sản  
xuất nông nghiệp và tăng cường thu hút vốn  
đầu tư nước ngoài. Trên thực tế, việc chuyển  
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng  
sản xuất nông nghiệp trong GDP và thu hút vốn  
đầu tư nước ngoài cũng thúc đẩy tăng trưởng  
kinh tế, do vậy bài viết tập trung vào hai giải  
pháp chính sau:  
i) Giảm sự phụ thuộc vào sản xuất nông  
nghiệp tại các địa phương: Cơ cấu kinh tế tại  
các địa phương cần chuyển dịch theo hướng  
giảm tỷ trọng sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp  
và thủy sản, đồng thời tăng tỷ trọng ngành công  
nghiệp, xây dựng và dịch vụ đặc biệt tại các  
khu vực như Tây Nguyên, Trung du và miền  
núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền  
Trung. Để làm được điều này, một số khuyến  
nghị được đưa ra như sau:  
Hình 4. Tỷ trọng sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp  
và thủy sản trong GDP.  
Nguồn: Tổng cục Thống kê (2009-2018) [8].  
Đơn vị: triệu USD  
Thứ nhất, các địa phương cần rà soát lại  
quy hoạch tổng thể địa phương trong đó đặc  
biệt nhấn mạnh quy hoạch phát triển ngành  
kinh tế trên địa bàn tỉnh, huyện. Đối với các địa  
phương có lợi thế so sánh về sản xuất nông  
nghiệp, ví dụ như Tây Nguyên và Đồng bằng  
sông Cửu Long, cần có định hướng phát triển  
công nghiệp chế biến nhằm gia tăng giá trị và  
tính cạnh tranh của các mặt hàng nông sản, từ đó  
thúc đẩy lợi nhuận của doanh nghiệp và tăng  
nguồn thu ngân sách cho địa phương.  
Thứ hai, xác định các ngành và sản phẩm  
chủ lực trong từng thời kỳ. Hình thành nhóm  
ngành chủ lực và xây dựng cơ chế hỗ trợ phát  
triển cho nhóm ngành chủ lực. Phối hợp các  
ngành kinh tế tại địa phương để tạo sự phát  
triển đồng bộ. Ví dụ, Tây Nguyên có lợi thế về  
trồng cà phê, chính quyền địa phương cần có  
định hướng hỗ trợ phát triển ngành công nghiệp  
chế biến, đồng thời có thể phát triển dịch vụ du  
lịch. Khách du lịch có thể tham quan các vườn  
cà phê, trải nghiệm cuộc sống, trải nghiệm quy  
trình sản xuất từ khi gieo trồng đến khi đóng  
gói sản phẩm và bán ra thị trường,…  
Hình 5. Vốn FDI đăng ký giai đoạn 2010-2018.  
Nguồn: Tổng cục Thống kê (2009-2018) [8].  
4. Một số khuyến nghị tăng cường thu ngân  
sách địa phương ở Việt Nam  
Một trong những vấn đề quan trọng khi  
nghiên cứu thực trạng thu ngân sách tại các địa  
phương ở Việt Nam là sự chênh lệch rất lớn về  
thu ngân sách giữa các vùng, lãnh thổ trong cả  
nước. Điều này dẫn đến áp lực lớn đối với  
NSTƯ khi phải bổ sung thường xuyên, với tỷ  
trọng cao cho ngân sách tại các địa phương có  
nguồn thu thấp. Vì vậy, cần thiết phải tăng  
cường nguồn thu đối với các địa phương có  
nguồn thu thấp. Nguyên nhân dẫn tới sự chênh  
lệch thu ngân sách giữa các vùng, lãnh thổ được  
chỉ ra bao gồm sự khác biệt về tăng trưởng kinh  
tế, sự khác biệt về tỷ trọng sản xuất nông  
Thứ ba, nâng cao vai trò của khu vực kinh  
tế tư nhân. Đây là khu vực kinh tế năng động,  
B.Q. Phat / VNU Journal of Science: Economics and Business, Vol. 37, No. 1 (2021) 20-28  
28  
đóng góp giá trị lớn vào tăng trưởng GDP của  
các địa phương, đồng thời là cơ sở quan trọng  
để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng tỷ  
trọng sản xuất công nghiệp và dịch vụ trên địa  
bàn. Chính quyền địa phương cần tạo điều kiện  
cho sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân  
thông qua việc xây dựng môi trường kinh doanh  
lành mạnh, hiệu quả, công bằng, phối hợp cùng hệ  
thống ngân hàng thương mại xây dựng cơ chế ưu  
đãi tín dụng cho khu vực này để phát triển các  
ngành kinh tế chủ lực tại địa phương.  
Thứ tư, tăng cường ứng dụng khoa học  
công nghệ vào các ngành kinh tế tại địa  
phương. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ  
lần thứ tư đã làm thay đổi nhanh chóng cách  
thức vận hành của nền kinh tế. Việc áp dụng  
công nghệ cao vào các ngành kinh tế mũi nhọn  
của địa phương sẽ giúp nâng cao năng suất lao  
động, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.  
Để làm được điều này, đòi hỏi chính quyền địa  
phương mạnh dạn đầu tư vốn vào các hoạt động  
hợp tác, nghiên cứu triển khai, thúc đẩy ứng  
dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công  
nghệ vào thực tiễn sản xuất, hỗ trợ hoạt động  
khởi nghiệp đổi mới sáng tạo;  
ii) Tăng cường thu hút vốn FDI vào các địa  
phương, trong đó tập trung vào các dự án có  
mức đầu tư lớn, công nghệ cao, kỹ thuật hiện  
đại. Chính quyền địa phương cần cải cách thủ  
tục hành chính gắn với cải thiện môi trường đầu  
tư kinh doanh, tạo lập môi trường kinh doanh  
thông thoáng, thuận lợi, bình đẳng, thu hút các  
nguồn lực cho đầu tư phát triển. Đổi mới cơ chế  
quản lý điều hành, nâng cao trách nhiệm và  
năng lực thực hiện của đội ngũ cán bộ, nâng  
cao hiệu quả quản trị và hành chính công của  
tỉnh. Tăng cường thu hút vốn FDI vào phát triển  
các ngành mũi nhọn của địa phương, đồng thời  
chính quyền địa phương cần lựa chọn các dự án  
không gây tác động xấu tới môi trường và phát  
triển bền vững tại địa phương.  
qua các năm và số liệu quyết toán đều vượt dự  
toán hàng năm, vẫn còn một số hạn chế trong  
thu NSĐP như: Thu bổ sung từ NSTƯ chiếm tỷ  
trọng lớn trong tổng thu NSĐP, điều này sẽ gây  
gánh nặng lớn cho NSTƯ đồng thời có sự  
chênh lệch lớn trong thu ngân sách giữa các  
vùng, lãnh thổ trong cả nước. Nguyên nhân dẫn  
tới sự chênh lệch thu ngân sách giữa các vùng,  
lãnh thổ được chỉ ra bao gồm sự khác biệt về  
tăng trưởng kinh tế, sự khác biệt về tỷ trọng sản  
xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản trong  
GDP và sự khác biệt trong thu hút vốn đầu tư  
nước ngoài. Do vậy, để tăng cường nguồn thu  
vào các địa phương có nguồn thu thấp nhằm  
giảm áp lực cân đối ngân sách đối với NSTƯ,  
cần đưa ra các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng  
kinh tế ở các địa phương, giảm sự phụ thuộc  
vào sản xuất nông nghiệp và tăng cường thu hút  
vốn đầu tư nước ngoài.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Ministry of Finance, Circular No. 342/2016/TT-BTC  
dated 30/12/2016 guiding a number of articles of  
the Government's Decree No. 163/2016/ND-CP  
dated 21 December 2016, stipulating the  
implementation of a number of state budget law’s  
articles, 2016 (in Vietnamese).  
[2] Ministry of Finance, Appendix No.02/CKTC-NSNN  
on Final Account of Central budget and Local  
budget  
balance  
from  
2009-2018  
(in Vietnamese).  
[3] Ministry of Finance, Appendix No.09/CKTC-NSNN  
on Final Account of budget revenue and  
expenditure of cities and provinces under central  
authority from 2009-2018 (in Vietnamese).  
[4] Ministry of Finance, Appendix No.02/CKTC-NSNN  
on Plan of Central budget and Local budget from  
2009-2018 (in Vietnamese).  
[5] Dinh Thi Nga, “The relationship between Central  
budget and Local budget: Current situation and  
some recommendations”, Journal of Finance.  
(accessed  
30  
November 2020) (in Vietnamese).  
5. Kết luận  
[6] National Asembly, State Budget Law No.  
83/2015/QH13 on June 25/ 2015 (in Vietnamese).  
[7] National Asembly, Appendix issued accompanies  
with Resolution No. 29/2016/NQ-QH dated on  
Novembenr 14, 2016 on the allocation of central  
government budget for 2017 (in Vietnamese).  
Bài viết đã thực hiện phân tích thực trạng  
thu NSĐP ở Việt Nam trong giai đoạn  
2009-2018 thông qua các chỉ tiêu như: Quy mô  
thu NSĐP; Tỷ lệ thu ngân sách quyết toán/dự  
toán; Cơ cấu thu NSĐP. Bên cạnh những kết  
quả đạt được như Quy mô thu NSĐP đều tăng  
[8] General  
Statistics  
Office,  
Report  
on  
socio-economic situation from 2009-2018  
(in Vietnamese).  
pdf 9 trang Thùy Anh 13980 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tăng cường thu ngân sách địa phương ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftang_cuong_thu_ngan_sach_dia_phuong_o_viet_nam.pdf