Quyền tiếp cận thông tin KH&CN trong hoạt động nghiên cứu khoa học và đổi mới ở Việt Nam
Khoa học Xã hội và Nhân văn
Quyền tiếp cận thông tin KH&CN
trong hoạt động nghiên cứu khoa học
và đổi mới ở Việt Nam
Lê Tùng Sơn1*, Thạch Thị Hoàng Yến2, Trần Văn Hồng3
1Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
2Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
2Trung tâm Văn hóa quận 6, TP Hồ Chí Minh
Ngày nhận bài 30/12/2020; ngày chuyển phản biện 8/1/2021; ngày nhận phản biện 9/3/2021; ngày chấp nhận đăng 15/3/2021
Tóm tắt:
Thông tin khoa học và công nghệ (KH&CN) có vai trò quan trọng trong xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức. Tiếp
cận thông tin (TCTT) KH&CN phục vụ cho hoạt động nghiên cứu khoa học trở thành một nhu cầu thiết yếu và là
yếu tố tác động đến chất lượng của hoạt động nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo, từ đó đặt ra vấn đề thiết lập
khung pháp lý trong việc thừa nhận và bảo đảm thực thi quyền TCTT KH&CN. Nghiên cứu này, trên cơ sở nhận
diện và đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành về quyền TCTT KH&CN, đã đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn
thiện khung pháp lý bảo đảm cho việc thực thi quyền TCTT KH&CN ở Việt Nam.
Từ khóa: chính sách, pháp luật, thông tin KH&CN, tiếp cận thông tin.
Chỉ số phân loại: 5.8
nghiên cứu này, thông tin KH&CN được định nghĩa là các dữ
liệu, dữ kiện, số liệu, tin tức được tạo ra trong hoạt động khoa
học, công nghệ và đổi mới [1, 2]. Trong định nghĩa này, hoạt động
KH&CN được xác định bao gồm: hoạt động nghiên cứu và triển
khai (R&D), hoạt động phát triển công nghệ gồm: mở rộng công
nghệ, nâng cấp công nghệ, đổi mới công nghệ và hoạt động dịch
vụ KH&CN [3].
Mở đầu
Quyền TCTT KH&CN được nhận diện là một trong những
quyền cơ bản của công dân, cần được Nhà nước thừa nhận và bảo
đảm thực thi. Đặc biệt, trong bối cảnh xã hội thông tin và nền kinh
tế tri thức, với vị trí và vai trò quan trọng của KH&CN trong phát
triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia thì TCTT KH&CN trở thành
một nhu cầu thiết yếu đối với hoạt động nghiên cứu khoa học và
đổi mới, phục vụ học tập, sản xuất, kinh doanh. Trên bình diện
pháp luật Việt Nam, quyền TCTT KH&CN chịu sự điều chỉnh của
nhiều pháp luật khác nhau, trong đó có pháp luật về quyền TCTT
được quy định trong Hiến pháp năm 2013 và cụ thể hóa trong Luật
TCTT 2016, pháp luật chuyên ngành đó là pháp luật về hoạt động
thông tin KH&CN và pháp luật khác có liên quan.
Thuật ngữ nghiên cứu khoa học trong nghiên cứu này được
hiểu là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật
của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải
pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn1.
Theo OECD, hoạt động đổi mới (cũng có thể hiểu là “đổi
mới sáng tạo”) là “việc thực thi một sản phẩm (hàng hóa/dịch vụ)
hay một quy trình mới hoặc cải tiến đáng kể, một phương pháp
maketing mới hay một biện pháp mang tính tổ chức trong thực tiễn
hoạt động, trong tổ chức công việc hay trong quan hệ bên ngoài”.
Hoạt động đổi mới bao gồm: đổi mới sản phẩm, đổi mới quy trình,
đổi mới tiếp thị và đổi mới quản lý... [4].
Trong nghiên cứu này, trên cơ sở khái quát hóa những vấn đề
cơ bản về quyền TCTT KH&CN của công dân, chúng tôi sử dụng
phương pháp nghiên cứu các quy định của pháp luật kết hợp với
phân tích đánh giá, tổng hợp, so sánh các nguồn số liệu thống kê
thu thập được nhằm nhận diện hiện trạng pháp luật về quyền TCTT
KH&CN ở Việt Nam; từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ
thống pháp luật, đáp ứng nhu cầu TCTT KH&CN phục vụ nghiên
cứu khoa học và đổi mới của tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp.
Tại Việt Nam, Khoản 16 Điều 3 Luật KH&CN 2013 đã định
nghĩa: “Đổi mới sáng tạo là việc tạo ra, ứng dụng thành tựu, giải
pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý để nâng cao hiệu quả
phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị
gia tăng của sản phẩm, hàng hóa”.
Cơ sở khoa học về quyền TCTT KH&CN phục vụ nghiên cứu khoa học
và đổi mới
Thông tin KH&CN phục vụ nghiên cứu khoa học và đổi mới
Có nhiều định nghĩa khác nhau về thông tin KH&CN, trong
* Tác giả liên hệ: Email: [email protected]
1Luật KH&CN 2013, Khoản 4 Điều 3.
63(4) 4.2021
50
Khoa học Xã hội và Nhân văn
vụ từ các thiết chế cung cấp thông tin trên nguyên tắc tự do, bình
đẳng trong tiếp cận [8-11].
Right to access science and technology
information in scientific research
and innovation activities in Vietnam
Thông qua việc nhận diện khái niệm quyền TCTT, có thể xác
định quyền TCTT KH&CN phục vụ nghiên cứu khoa học và đổi
mới sáng tạo như sau:
Quyền TCTT KH&CN là một bộ phận trong quyền TCTT của
công dân; được xác định là quyền công dân được tạo ra, tìm kiếm,
tiếp nhận, phổ biến, trao đổi và sử dụng thông tin KH&CN; quyền
được sử dụng các sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN trong
các thiết chế cung ứng thông tin KH&CN trên nguyên tắc tự do,
bình đẳng trong tiếp cận để phục vụ cho hoạt động nghiên cứu
khoa học và đổi mới [11-14].
Tung Son Le1*, Thi Hoang Yen Thach2, Van Hong Tran3
1Ministry of Culture, Sports and Tourism
2University of Social Sciences and Humanities, VNU Hanoi
3Cultural Center of District 6, Ho Chi Minh city
Received 30 December 2020; accepted 15 March 2021
Abstract:
Giới hạn của quyền TCTT KH&CN: quyền TCTT KH&CN
cũng có những giới hạn. Trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt
Nam đều định ra những giới hạn trong việc thực hiện quyền này.
Cụ thể:
Science and technology information has been an
important driving force in the information society and
knowledgeeconomy.Accesstoscientificandtechnological
information for scientific research becomes an essential
need and a factor affecting the quality of scientific
research and innovation, thereby posing a problem
to establish a legal framework for recognising and
enforcing the right to access scientific and technological
information. Based on identifying and evaluating the
current legal status on the right to access to science and
technology information, this study proposes solutions to
improve the legal framework to ensure the enforcement
of the right to access science and technology information
in Vietnam.
Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị đã khẳng
định: “Việc thực hiện quyền quy định tại khoản 2 của Điều này
(quyền tự do thông tin) đi kèm với những nghĩa vụ trách nhiệm đặc
biệt. Do đó, có thể dẫn đến một số hạn chế nhất định, tuy nhiên
những hạn chế này phải được pháp luật quy định và cần thiết để:
(a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; (b) Bảo vệ an
ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của
công chúng” [15, 16].
Pháp luật Việt Nam cũng xác định: “Việc thực hiện quyền con
người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia,
dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, quyền con
người, quyền của công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định
của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh
quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội và sức khỏe của cộng
đồng”2.
Keywords: access to information, laws, policies, science
and technology information.
Classification number: 5.8
Ngoài ra, do đặc trưng của thông tin KH&CN là sản phẩm của
trí tuệ con người tạo ra, nên việc TCTT KH&CN phải tuân thủ
pháp luật về sở hữu trí tuệ. Từ đây có thể nhận diện quyền tự do,
bình đẳng trong TCTT KH&CN không được vượt quá các giới hạn
nêu trên. Việc xác định giới hạn này có ý nghĩa quan trọng trong
việc xác định và bảo đảm quyền TCTT KH&CN của tổ chức, cá
nhân. Từ đó đặt ra yêu cầu trong việc hoàn thiện khung pháp lý
trong vấn đề bảo đảm quyền TCTT KH&CN của Nhà nước.
Quyền TCTT KH&CN
Định nghĩa quyền TCTT KH&CN: để nhận diện quyền TCTT
KH&CN, trước tiên cần nhận diện nội hàm của quyền TCTT.
Quyền TCTT được thừa nhận trong 2 văn kiện quốc tế là Tuyên
ngôn thế giới về nhân quyền của Liên hợp quốc năm 1948 [5] và
Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 [6]
và các văn kiện quốc tế khác như: Công ước của Liên hợp quốc
về phòng, chống tham nhũng năm 2003, Tuyên bố Rio về môi
trường và phát triển năm 1992, Công ước UNECE về TCTT môi
trường... [7].
Cơ sở pháp lý và thực thi việc bảo đảm quyền TCTT KH&CN ở Việt
Nam
Thừa nhận quyền TCTT KH&CN
Trên bình diện pháp luật chung về quyền TCTT, Điều 25 của
Hiến pháp đã thừa nhận quyền TCTT như một quyền cơ bản của
công dân: “Công dân có quyền tự do TCTT. Việc thực hiện quyền
này do pháp luật quy định”. Ngoài ra, quyền TCTT còn được thừa
nhận tại Luật TCTT. Theo đó, Điều 8 của Luật đã quy định: “Công
dân có quyền được cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời;
Trong nghiên cứu về “Nguyên tắc bảo đảm quyền TCTT theo
tinh thần của Luật TCTT năm 2016”, Phí Thị Thanh Tuyền đã chỉ
ra nội hàm của quyền TCTT bao gồm: quyền tiếp nhận thông tin,
quyền tìm kiếm thông tin, quyền phổ biến thông tin [8].
Trong nghiên cứu này, quyền TCTT được hiểu là quyền công
dân được tạo ra thông tin, tìm kiếm, tiếp nhận, phổ biến, trao đổi
và sử dụng thông tin; quyền được sử dụng các sản phẩm và dịch
2Hiến pháp năm 2013, Khoản 2 Điều 14 và Khoản 4 Điều 15.
51
63(4) 4.2021
Khoa học Xã hội và Nhân văn
khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về TCTT”.
tin KH&CN quốc gia; b) Tổ chức thực hiện chức năng đầu mối
thông tin KH&CN cấp bộ; c) Tổ chức thực hiện chức năng đầu mối
thông tin KH&CN cấp tỉnh; d) Tổ chức thực hiện chức năng thông
tin KH&CN công lập khác; và e) Các tổ chức thực hiện chức năng
thông tin KH&CN do tổ chức, doanh nghiệp ngoài nhà nước và
các tổ chức khác thành lập.
Trên bình diện pháp luật chuyên ngành về hoạt động thông tin
KH&CN, quyền TCTT KH&CN được điều chỉnh bởi Nghị định
11/2014/NĐ-CP ngày 18/2/2014 về hoạt động thông tin KH&CN
(Nghị định 11). Nội dung này được quy định tại Điều 32, theo đó,
tổ chức, cá nhân khai thác thông tin KH&CN: (1) Được yêu cầu
cung cấp thông tin KH&CN nhằm phục vụ nhu cầu hợp pháp của
mình; (2) Được TCTT KH&CN tạo ra bằng ngân sách nhà nước
phù hợp với quy định của pháp luật.
Để cụ thể hóa địa vị pháp lý của các tổ chức này, Nghị định 11
đã xác định vai trò, chức năng, nhiệm vụ cơ bản của tổ chức thông
tin KH&CN được quy định tại các Điều 25, 26, 27 và 28, đồng thời
người đứng đầu các bộ, cơ quan ngang bộ đã ban hành văn bản
quy phạm pháp luật và các quyết định hành chính cá biệt nhằm xác
định địa vị pháp lý cho các tổ chức thông tin KH&CN như: Thông
tư liên tịch số 29/2014/TTLT-BKHCN-BNV ngày 15/10/2014
giữa Bộ KH&CN và Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn về KH&CN
thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện (Thông tư liên tịch số 29);
Quyết định số 1785/QĐ-BKHCN ngày 28/6/2018 của Bộ trưởng
Bộ KH&CN về việc ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của
Cục Thông tin KH&CN quốc gia; các quyết định về tổ chức thực
hiện chức năng đầu mối thông tin KH&CN cấp bộ (do người đứng
đầu bộ, thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành).
Bảo đảm quyền TCTT KH&CN
Tương ứng với việc thừa nhận quyền TCTT đó là nghĩa vụ của
Nhà nước trong bảo đảm quyền TCTT KH&CN thông qua các quy
định của pháp luật về thiết lập nguyên tắc TCTT cũng như việc
xây dựng và hoàn thiện các thiết chế cung cấp thông tin KH&CN.
Trên bình diện pháp luật chung về quyền TCTT, Điều 3 của
Luật TCTT đã xác định những nguyên tắc cơ bản trong bảo đảm
quyền TCTT, và trong toàn bộ nội dung của Luật TCTT đã có
những quy định tạo hành lang pháp lý cho việc bảo đảm quyền
TCTT của công dân bao gồm: xác định chủ thể thực hiện quyền
TCTT (Điều 4), xác định phạm vi TCTT (Điều 5, 6 và 7), phạm vi
trách nhiệm cung cấp thông tin (Điều 9), cách thức TCTT (Điều
10) và xác định các biện pháp về công khai thông tin, cung cấp
thông tin theo yêu cầu và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức có liên
quan trong bảo đảm thực hiện quyền TCTT của công dân. Các quy
định này tạo ra những nền tảng cơ bản trong việc hoàn thiện các
chế định pháp luật về quyền TCTT KH&CN.
Trên cơ sở các quy định này, mạng lưới tổ chức thông tin
KH&CN đã được hình thành với 1 tổ chức thực hiện chức năng
đầu mối thông tin KH&CN quốc gia (Cục Thông tin KH&CN quốc
gia); 30 tổ chức thực hiện chức năng đầu mối thông tin KH&CN
cấp bộ [17], 63 tổ chức thực hiện chức năng đầu mối thông tin
KH&CN cấp tỉnh, trên 400 tổ chức thông tin KH&CN trong các
trường đại học. Ngoài ra, còn có các tổ chức thông tin KH&CN
thuộc các viện nghiên cứu và các cơ quan, tổ chức xã hội khác. Các
tổ chức thông tin KH&CN này tồn tại dưới các mô hình khác nhau
bao gồm: mô hình cục, vụ trực thuộc bộ; một bộ phận thuộc cơ
quan tham mưu về KH&CN thuộc UBND cấp tỉnh; một bộ phận
thuộc viện nghiên cứu; mô hình là một đơn vị sự nghiệp công lập
như trung tâm thông tin/trung tâm thông tin thống kê KH&CN/
trung tâm ứng dụng tin học KH&CN.
Trên bình diện pháp luật chuyên ngành, Nghị định 11 cùng các
văn bản có liên quan đến lĩnh vực KH&CN đã cụ thể hóa các biện
pháp nhằm bảo đảm quyền TCTT KH&CN thông qua các quy định
hướng đến 3 mục tiêu: i) Chuẩn hóa hoạt động thông tin KH&CN;
ii) Thiết lập mạng lưới tổ chức thông tin KH&CN; và iii) Bảo đảm
các nguồn lực cho hoạt động thông tin KH&CN.
Xác định loại hình, địa vị pháp lý và vai trò của từng loại
hình trong mạng lưới tổ chức thông tin KH&CN
Bảo đảm về nhân lực
Khoản 4 Điều 3 Nghị định 11 đã xác định tổ chức thực hiện
chức năng thông tin KH&CN là tổ chức triển khai thực hiện các
hoạt động thông tin KH&CN; xây dựng, phát triển, vận hành và
khai thác hạ tầng thông tin, cơ sở dữ liệu về KH&CN. Ở đây, các
nhà làm luật sử dụng thuật ngữ “tổ chức thực hiện chức năng đầu
mối thông tin KH&CN” và “tổ chức thực hiện chức năng thông tin
Điều 29 Nghị định 11 đã xác định cá nhân hoạt động thông
tin KH&CN bao gồm: công chức, viên chức, người lao động hoạt
động và cung cấp dịch vụ thông tin KH&CN, phục vụ quản lý nhà
nước, công tác nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ và các
hoạt động khác có liên quan. Trên cơ sở đó, Nghị định 11 đã có
những quy định nhằm thu hút nguồn nhân lực thông qua các quy
định về quyền của cá nhân hoạt động thông tin KH&CN gắn với
quyền của cá nhân hoạt động KH&CN quy định tại Điều 20 của
Luật KH&CN 2013. Từ các quy định này, nguồn nhân lực cho hoạt
động thông tin KH&CN bước đầu được bảo đảm.
3, tuy nhiên thuật ngữ này chưa thực sự chính xác, bởi
KH&CN”
lẽ nó chưa điều chỉnh được toàn bộ mạng lưới tổ chức thông tin
KH&CN, vì ngoài tổ chức thực hiện chức năng thông tin KH&CN
còn có các tổ chức thực hiện hoạt động thông tin KH&CN (nội
dung này sẽ được phân tích cụ thể ở phần sau).
Do mô hình hoạt động trong các tổ chức thông tin KH&CN
khác nhau, nên việc phân bổ nguồn nhân lực thông tin KH&CN
cũng có sự khác nhau. Trong đó, số nhân lực làm việc trong các tổ
chức đầu mối thông tin KH&CN cấp bộ chủ yếu hoạt động kiêm
nhiệm, không chuyên. Tại một số bộ, ngành tổ chức theo mô hình
đơn vị sự nghiệp công lập như: Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Trung tâm
Trên cơ sở xác định này, Khoản 1 Điều 22 của Nghị định 11
đã xác định mạng lưới của tổ chức thông tin KH&CN bao gồm 5
loại hình cơ bản: a) Tổ chức thực hiện chức năng đầu mối thông
3Điều 22 Nghị định 11/2014/NĐ-CP ngày 18/12/2014.
63(4) 4.2021
52
Khoa học Xã hội và Nhân văn
Central, ACS, Web of Science...
Thông tin và Dự báo kinh tế xã hội quốc gia), Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn (Trung tâm Tin học và Thống kê), Viện Hàn
lâm KH&CN Việt Nam và Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt
Nam có các đơn vị sự nghiệp chuyên trách.
Song song với đó, hạ tầng công nghệ thông tin nói chung và
mạng thông tin nghiên cứu đào tạo nói riêng đã có bước phát triển,
trong đó phải kể đến sự ra đời của Mạng nghiên cứu và đào tạo Việt
Nam (VinaREN) do Cục Thông tin KH&CN quốc gia phát triển.
Các ứng dụng đã được triển khai trên mạng VinaREN bao gồm:
VinaREN với dịch vụ Eduroam, VinaREN với dịch vụ E-Culture,
VinaREN với dịch vụ E-Learning...
Tại Cục Thông tin KH&CN quốc gia có tổng số khoảng 160
người, bao gồm cả công chức, viên chức và người lao động (hợp
đồng) hoạt động trong các phòng, ban hành chính và các đơn vị sự
nghiệp trực thuộc Cục [18].
Tại địa phương, nguồn nhân lực làm công tác thông tin KH&CN
tại các Sở KH&CN và các bộ phận trực thuộc Sở KH&CN (bao
gồm cả thông tin và thống kê) là 594 người (năm 2017) [18].
Bảo đảm về tài chính
Đây là một “điểm sáng” thể hiện sự hoàn thiện trong hệ thống
pháp luật về bảo đảm thực thi quyền TCTT KH&CN đối với việc
bảo đảm nguồn lực tài chính cho các thiết chế cung ứng thông tin
KH&CN. Điều 20 của Nghị định 11 đã xác định nguồn kinh phí
cho hoạt động thông tin KH&CN bao gồm: từ ngân sách nhà nước,
nguồn thu từ hoạt động dịch vụ thông tin KH&CN và nguồn tài trợ
của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài. Cùng với đó, Nghị
định 11 đã quy định về nội dung chi ngân sách nhà nước cho hoạt
động thông tin KH&CN, đồng thời xác định, ngân sách cho hoạt
động thông tin KH&CN được ghi thành một mục chi riêng trong
mục lục ngân sách nhà nước hàng năm cho KH&CN của bộ, ngành
và địa phương.
Tại các trường đại học, nguồn nhân lực thông tin KH&CN tập
trung chủ yếu trong các thư viện, trung tâm thông tin thư viện của
trường. Theo số liệu báo cáo phục vụ xây dựng Quy hoạch tổng
thể ngành thư viện đến năm 2025 định hướng đến năm 2030 (được
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng năm 2015, cập nhật
số liệu năm 2017), cả nước có khoảng 7.000 người, bình quân 17
người/1 thư viện [19].
Bảo đảm về cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ thông tin
Nghị định 11 đã có những quy định cụ thể về hạ tầng thông tin
quốc gia về KH&CN bao gồm: (1) Cơ sở dữ liệu quốc gia về thông
tin KH&CN; các cơ sở dữ liệu về thông tin KH&CN; (2) Hệ thống
trang thiết bị xử lý kỹ thuật để xử lý, truyền tải và lưu giữ thông
tin KH&CN, các mạng thông tin KH&CN kết nối khu vực và trên
thế giới. Cũng tại Nghị định 11, đã quy định các biện pháp về đầu
tư, duy trì phát triển cơ sở dữ liệu quốc gia về KH&CN, khai thác
và sử dụng cơ sở dữ liệu quốc gia về KH&CN và duy trì phát triển
mạng thông tin nghiên cứu đào tạo quốc gia. Các quy định này có
ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc thiết lập hạ tầng thông tin
KH&CN quốc gia phục vụ hoạt động nghiên cứu khoa học và đổi
mới của tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp.
Ngoài ra, tại Điểm c Khoản 1 và Điểm i Khoản 2 Điều 4 Nghị định
95/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014 của Chính phủ quy định về đầu
tư và cơ chế tài chính đối với hoạt động KH&CN (Nghị định 95)
đã xác định việc xây dựng hạ tầng thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia
và thống kê về KH&CN; tuyên truyền, phổ biến kiến thức, truyền
thông, hoạt động thông tin KH&CN là những nội dung chi ngân
sách nhà nước cho KH&CN.
Đánh giá pháp luật hiện hành về quyền TCTT KH&CN
Những điểm mạnh
Pháp luật hiện hành về quyền TCTT KH&CN được xây dựng
dựa trên nền tảng pháp lý cao nhất đó là Hiến pháp 2013 trên cơ
sở thừa nhận và bảo đảm thực thi quyền TCTT như một quyền cơ
bản của công dân phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam
là thành viên. Hệ thống pháp luật về vấn đề này tương đối đầy đủ,
bao gồm pháp luật chứa đựng nội dung chung (về quyền TCTT)
và pháp luật chuyên ngành (về hoạt động thông tin KH&CN), loại
Các quy định này đã tạo nền tảng cho việc bảo đảm về cơ
sở vật chất, hạ tầng công nghệ thông tin, trong đó phải kể đến:
2 cơ sở dữ liệu nòng cốt là cơ sở dữ liệu công bố KH&CN Việt
Nam và cơ sở dữ liệu nhiệm vụ KH&CN. Trong đó: i) Cơ sở dữ
liệu nhiệm vụ KH&CN là tập hợp báo cáo kết quả của các đề tài
nghiên cứu khoa học các cấp trên toàn quốc, tính đến năm 2018 có
27.890 kết quả nghiên cứu được mô tả thư mục, tóm tắt và số hóa
toàn văn; ii) Cơ sở dữ liệu công bố KH&CN Việt Nam được Cục hình văn bản phong phú, bao gồm: luật và các văn bản dưới luật
Thông tin KH&CN quốc gia bắt đầu triển khai từ năm 1987. Đến hướng dẫn thi hành bảo đảm sự vững chắc cho việc thực thi các
nay, cơ sở dữ liệu này đã phát triển với 255.550 biểu ghi, trong đó quy định của pháp luật về quyền TCTT KH&CN.
có khoảng 180.000 biểu ghi toàn văn, với số lượng bài bổ sung
khoảng 19.000 biểu ghi/năm bao quát hầu hết các lĩnh vực khoa
Những điểm yếu
Pháp luật về quyền TCTT KH&CN ở Việt Nam còn dàn trải,
thiếu tính đồng bộ, thống nhất, nội dung các quy phạm pháp luật
còn chồng chéo, mâu thuẫn, một số quy định còn chưa phù hợp với
thực tiễn hoạt động thông tin KH&CN, dẫn đến khó khăn trong
quá trình triển khai thực thi pháp luật. Cụ thể:
học, công nghệ và các ngành kinh tế - kỹ thuật [20].
Nhằm bảo đảm thông tin phục vụ hoạt động nghiên cứu khoa
học và đổi mới, Bộ KH&CN đã đầu tư bổ sung nguồn tin quốc
tế trên hầu hết các lĩnh vực KH&CN, đặc biệt là những lĩnh vực
mũi nhọn, ưu tiên đầu tư phát triển. Trong năm 2018, đã bổ sung
20.000 tạp chí KH&CN, với 40 triệu biểu ghi toàn văn, nguồn tin
Thứ nhất, pháp luật về quyền TCTT KH&CN trong việc bảo đảm
KH&CN quốc tế bao gồm các cơ sở dữ liệu hàng đầu thế giới như: thực thi quyền TCTT còn dài trải, thiếu tính thống nhất. Pháp luật về
ScienceDirect và Scopus, Springer Nature, IEE Xplore, Proquest
quyền TCTT KH&CN được quy định tại nhiều văn bản khác nhau,
53
63(4) 4.2021
Khoa học Xã hội và Nhân văn
bao gồm cả pháp luật chung và pháp luật chuyên ngành, dẫn đến
việc vận dụng, áp dụng còn gặp nhiều khó khăn do tính đặc thù
trong hoạt động thông tin KH&CN. Cụ thể, có thể nhận diện một
số trường hợp:
thế nào là “thông tin có nội dung quan trọng”. Hơn nữa, Khoản 1
Điều 6 Nghị định 13/2018/NĐ-CP ngày 23/1/2018 của Chính phủ
quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật TCTT (Nghị định 13)
quy định về việc lập danh mục, phân loại, cập nhật thông tin lại
quy định về việc lập danh mục thông tin phải được công khai, và
danh mục tiếp cận có điều kiện thay vì lập danh mục thông tin
không được tiếp cận, điều này đã làm thu hẹp phạm vi tiếp cận
và không thể xác định được giới hạn việc TCTT KH&CN của tổ
chức, cá nhân; việc tiếp cận này phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước
trong việc xác định thông tin nào phải được công khai và thông tin
tiếp cận có điều kiện. Nội dung này hoàn toàn mâu thuẫn với quy
định tại Khoản 1 và 2 Điều 32 Nghị định 11. Cần nói thêm rằng,
thông tin KH&CN được tạo ra bằng ngân sách nhà nước hoàn toàn
thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật TCTT.
Các quy định của pháp luật về chuẩn hóa hoạt động thông tin
KH&CN được quy định tập trung tại Chương II (từ Điều 5 đến
Điều 12) của Nghị định 11, tuy nhiên nhiều nội dung hoạt động
được nêu trong Nghị định lại chưa có văn bản hướng dẫn thi hành
cụ thể đối với từng hoạt động nghiệp vụ, dẫn đến khó khăn trong
vấn đề chuẩn hóa.
Các quy định về thiết lập mạng lưới tổ chức thông tin KH&CN
ngoài chịu sự điều chỉnh của pháp luật chuyên ngành về hoạt động
thông tin KH&CN về mặt loại hình tổ chức (quy định tại Nghị định
11), còn chịu sự điều chỉnh về mặt mô hình tổ chức theo các văn
bản chuyên ngành chung (về KH&CN), văn bản chuyên ngành về
nội vụ như Thông tư liên tịch 29; điều chỉnh về mặt cơ chế hoạt
động (cơ chế tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp công lập) theo
quy định tại Nghị định 54/2016/NĐ-CP ngày 14/6/2016 của Chính
phủ quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Đặc
biệt, quy định về cơ chế tự chủ theo Nghị định 54 lại không phù
hợp với đặc thù của hoạt động thông tin KH&CN hiện nay, dẫn
đến sự biến đổi trong tính chất hoạt động của các tổ chức thông
tin KH&CN.
Thứ ba, nội dung quy định về quyền TCTT KH&CN và những
biện pháp bảo đảm thực thi được quy định tại pháp luật chuyên
ngành còn nhiều điểm bất cập, dẫn đến khó khăn trong thực hiện.
Pháp luật chuyên ngành về quyền TCTT được ban hành dưới hình
thức nghị định (Nghị định 11), nhưng lại có các quy định về quyền
và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân (quy định tại Điều 31, 32, 33 của
Nghị định 11) dẫn đến hiệu lực của văn bản không cao, bởi quyền,
nghĩa vụ của công dân thông thường được thừa nhận và ban hành
dưới dạng văn bản là luật. Hơn nữa, do tồn tại dưới hình thức văn
bản là nghị định, nên không có các quy định về những hành vi bị
cấm - một trong những chế định quan trọng để giới hạn các quyền
của tổ chức, cá nhân, bởi lẽ, theo quy định của Hiến pháp, quyền
Các quy định về bảo đảm các nguồn lực cho hoạt động thông
tin KH&CN với 3 nguồn lực cơ bản đó là: nguồn nhân lực, nguồn
lực về cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin, và nguồn lực con người, quyền của công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định
tài chính được quy định tản mát tại nhiều văn bản khác nhau, bao
gồm chuyên ngành KH&CN và chuyên ngành liên quan đến nhân
của luật. Chính vì vậy, xét trên bình diện pháp luật chuyên ngành,
quyền TCTT KH&CN của tổ chức, cá nhân lại chưa thực sự được
lực hoặc tài chính; chưa có quy định đặc thù cho chuyên ngành thừa nhận một cách vững chắc.
thông tin KH&CN. Đơn cử, vấn đề về nhân lực, chủ yếu chịu sự
Đề xuất hoàn thiện pháp luật về quyền TCTT KH&CN
điều chỉnh của pháp luật chuyên ngành về nội vụ (với các quy định
về tiêu chuẩn chức danh chung trong lĩnh vực KH&CN, mà chưa
có quy định về tiêu chuẩn chức danh viên chức hoạt động thông
tin KH&CN); vấn đề về cơ chế tài chính, chủ yếu được điều chỉnh
bởi quy định về cơ chế tài chính cho hoạt động KH&CN nói chung
(quy định tại Nghị định 95) mà chưa có tính đặc thù cho hoạt động
thông tin KH&CN.
Những yêu cầu trong hoàn thiện hệ thống pháp luật về
quyền TCTT KH&CN
Thứ nhất, việc hoàn thiện pháp luật về quyền TCTT KH&CN
phải gắn với việc tích hợp các quy phạm pháp luật trong hệ thống
pháp luật chuyên ngành về thông tin KH&CN, đồng thời việc thừa
nhận quyền TCTT KH&CN phải được thừa nhận và bảo đảm thực
thi tại văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao (đó là
luật).
Thứ hai, pháp luật về quyền TCTT KH&CN có sự mâu thuẫn,
chồng chéo giữa các hệ thống văn bản pháp luật, giữa việc thừa
nhận với bảo đảm quyền TCTT KH&CN. Sự mâu thuẫn, chồng
chéo này được thể hiện trong các quy định của pháp luật về việc
thừa nhận quyền TCTT KH&CN của tổ chức, cá nhân, đó là sự
mâu thuẫn giữa quy định của pháp luật chung (được quy định tại
Luật TCTT) và pháp luật chuyên ngành (quy định tại Nghị định
11). Cụ thể: theo quy định tại Khoản 1 và 2 Điều 32 Nghị định 11,
tổ chức, cá nhân khai thác thông tin KH&CN “(1) Được yêu cầu
cung cấp thông tin KH&CN nhằm phục vụ nhu cầu hợp pháp của
mình; (2) Được TCTT KH&CN tạo ra bằng ngân sách nhà nước
phù hợp với quy định của pháp luật”. Tuy nhiên, Khoản 1 Điều 6
Thứ hai, việc hoàn thiện pháp luật về quyền TCTT KH&CN
phải bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ giữa hệ thống pháp luật
chung và pháp luật chuyên ngành, trong đó chế định về quyền
TCTT và những biện pháp bảo đảm quyền TCTT phải thống nhất,
tương thích và gắn với việc thừa nhận, bảo đảm quyền TCTT
KH&CN trong pháp luật chuyên ngành.
Thứ ba, các quy định về thừa nhận và bảo đảm quyền TCTT
KH&CN phải gắn với việc xác định giới hạn quyền. Theo đó,
quyền TCTT KH&CN chỉ bị giới hạn bởi lý do quốc phòng, an
của Luật TCTT quy định về thông tin công dân không được tiếp ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội và sức khỏe
cận lại bao gồm “thông tin có nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực
KH&CN” nhưng lại không quy định cụ thể tiêu chí để xác định
cộng đồng. Ngoài ra, quyền này được quy định cụ thể hơn trong
pháp luật về sở hữu trí tuệ. Các quy định về chuẩn hóa hoạt động
63(4) 4.2021
54
Khoa học Xã hội và Nhân văn
thông tin KH&CN, thiết lập mạng lưới tổ chức thông tin KH&CN,
bảo đảm các nguồn lực cho hoạt động thông tin KH&CN được xây
dựng dựa trên nền tảng bảo đảm quyền TCTT của tổ chức cá nhân.
Do hạn chế về khuôn khổ của một bài báo và tính phức tạp
trong nội dung của pháp luật hiện hành về quyền TCTT KH&CN,
vì vậy bài viết chưa đi sâu phân tích hiện trạng thực thi pháp luật
về quyền TCTT KH&CN của tổ chức, cá nhân.
Khuyến nghị
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Chính phủ (2014), Nghị định 11/2014/NĐ-CP ngày 18/2/2014 của Chính phủ
quy định về hoạt động thông tin KH&CN.
Xuất phát từ yêu cầu trong hoàn thiện hệ thống pháp luật về
quyền TCTT KH&CN được nêu ở trên, chúng tôi đưa ra khuyến
nghị cần sửa đổi và bổ sung các quy định về pháp luật bảo đảm
quyền TCTT KH&CN. Việc sửa đổi và bổ sung các quy định được
thực hiện theo hướng:
[2] Đoàn Phan Tân (2006), Thông tin học, giáo trình dành cho sinh viên ngành
thông tin - thư viện và quản trị thông tin, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
Thứ nhất, mở rộng phạm vi điều chỉnh trong quan hệ pháp luật
về TCTT. Theo đó, luật không chỉ điều chỉnh mối quan hệ giữa
công dân với cơ quan nhà nước, mà cần điều chỉnh quan hệ giữa
công dân với các thiết chế cung ứng thông tin với vai trò là các
đơn vị sự nghiệp công lập; giữa công dân với các dịch vụ cung ứng
thông tin ngoài công lập; trong đó Nhà nước không chỉ giữ vai trò
là một thiết chế cung ứng thông tin đặc biệt, mà còn giữ vai trò
điều tiết, bảo đảm quyền TCTT thông qua các quy định của pháp
luật chuyên ngành về hoạt động của các thiết chế cung ứng dịch vụ
hỗ trợ người dân TCTT.
[3] Vũ Cao Đàm (2009), Tuyển tập các công trình công bố: lý luận và phương
pháp nghiên cứu khoa học, Tập 1, Nhà xuất bản Thế giới.
[4] OECD (2005), Handbook on Economic Globalisation Indicators.
[5] Liên hợp quốc (1948), Điều 19 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền.
[6] Liên hợp quốc (1966), Điều 19 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và
chính trị.
nghien-cuu-trao-doi/201505/phap-luat-quoc-te-ve-quyen-tiep-can-thong-tin-297557/
(truy cập ngày 15/6/2020).
[8] Phí Thị Thanh Tuyền (2019), “Nguyên tắc bảo đảm quyền TCTT theo tinh thần
của Luật TCTT năm 2016”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, 17, tr.12-16.
Thứ hai, sửa đổi các quy định về trình tự, thủ tục quyền TCTT
của công dân; bổ sung các quy định cụ thể nhằm xác định giới hạn
trong quyền TCTT, và việc cung ứng thông tin phải dựa trên những
giới hạn này, thay vì chỉ cung ứng các thông tin được phép công
khai, hoặc tiếp cận có điều kiện như theo pháp luật hiện hành, từ
đó tạo ra sự tương thích giữa hệ thống pháp luật chung và pháp
luật chuyên ngành trong việc thừa nhận và bảo đảm thực thi quyền
TCTT KH&CN.
[9] Tường Duy Kiên, Hoàng Mai Hương, Chu Thúy Hằng (2006), “Tìm hiểu pháp
luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền TCTT”, Hội thảo “Tiếp cận thông
tin - quy định quốc tế, kinh nghiệm Việt Nam và Đan Mạch”.
[10] Nguyễn Quỳnh Liên (2009), “Quyền TCTT trong các văn kiện quốc tế”, Tạp
chí Nghiên cứu Lập pháp, 17, tr.9-13.
[11] Nguyễn Minh Thuyết (2016), Báo cáo đề tài Những vấn đề lý luận và thực
tiễn về quyền TCTT ở nước ta hiện nay thuộc Chương trình KH&CN trọng điểm cấp
nhà nước KX.03/11-15.
Thứ ba, xác định nội dung về quyền TCTT KH&CN, bảo đảm
sự tương thích với quyền TCTT được quy định tại pháp luật chung,
đồng thời xác định những giới hạn trong TCTT KH&CN theo
hướng: quyền TCTT KH&CN chỉ bị giới hạn vì lý do quốc phòng,
an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội và sức khỏe
cộng đồng; ngoài ra, việc TCTT KH&CN phải tuân thủ pháp luật
về sở hữu trí tuệ và pháp luật khác có liên quan.
[12] Chính sách thông tin quốc gia (1999), Tài liệu hướng dẫn của UNESCO về
việc xây dựng, phê duyệt, thực hiện và vận hành chính sách thông tin quốc gia.
[13] Adrian Rozengardt, Alenjandra Davidziuk, Daniel Finquelievich (2009),
National information soiety policy: a template, UNESCO Information for All
Programme.
[14] Mercedes Caridad Sebastian, Eva Maria Mendez Rodriguez, David Rodriguez
Mateos (2001), “Information policies in Spain: towards the new information society”,
Libri, 51, pp.49-60.
Thứ tư, ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm cụ thể
hóa các quy định về các biện pháp bảo đảm quyền TCTT KH&CN
như: chuẩn hóa hoạt động thông tin KH&CN, thiết lập mạng lưới
tổ chức thông tin KH&CN và bảo đảm các nguồn lực cho hoạt
động thông tin KH&CN.
[15] Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2011), Giới thiệu các văn kiện quốc tế
về quyền con người, Nhà xuất bản Lao động - Xã hội.
[16] Ủy ban nhân quyền (1995), Các nguyên tắc Johannesburg về an ninh quốc
gia, tự do biểu đạt và TCTT.
Kết luận
nang-dau-moi-thong-tin-khoa-hoc-va-cong-nghe-2.html (truy cập ngày 23/5/2020).
Trên cơ sở đưa ra những khái luận cơ bản về quyền TCTT
KH&CN phục vụ nghiên cứu khoa học và đổi mới, bài viết đã đi
sâu phân tích pháp luật hiện hành về quyền TCTT KH&CN ở Việt
Nam trên hai bình diện: hệ thống pháp luật chung và pháp luật
chuyên ngành về quyền TCTT KH&CN, từ đó nhận diện và đánh
giá nội dung, tính thống nhất, sự tương thích giữa các hệ thống
pháp luật, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện
pháp luật về quyền TCTT KH&CN phục vụ các tổ chức, cá nhân
và doanh nghiệp trong hoạt động nghiên cứu khoa học và đổi mới.
[18] Cục Thông tin KH&CN quốc gia (2017), “Tổng quan về hiện trạng và định
hướng hoạt động thông tin, thống kê KH&CN”, Kỷ yếu Hội nghị toàn quốc về hoạt
động thông tin, thống kê KH&CN.
[19] Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2015-2018), Báo cáo tổng hợp Quy hoạch
phát triển ngành thư viện Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030.
[20] Bộ KH&CN (2018), Sách KH&CN năm 2018, Nhà xuất bản Khoa học và
Kỹ thuật.
55
63(4) 4.2021
Bạn đang xem tài liệu "Quyền tiếp cận thông tin KH&CN trong hoạt động nghiên cứu khoa học và đổi mới ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
quyen_tiep_can_thong_tin_khcn_trong_hoat_dong_nghien_cuu_kho.pdf

