Quyền tiếp cận thông tin KH&CN trong hoạt động nghiên cứu khoa học và đổi mới ở Việt Nam

Khoa học Xã hội và Nhân văn  
Quyền tiếp cận thông tin KH&CN  
trong hoạt động nghiên cứu khoa học  
và đổi mới ở Việt Nam  
Lê Tùng Sơn1*, Thạch Thị Hoàng Yến2, Trần Văn Hồng3  
1Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch  
2Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội  
2Trung tâm Văn hóa quận 6, TP Hồ Chí Minh  
Ngày nhận bài 30/12/2020; ngày chuyển phản biện 8/1/2021; ngày nhận phản biện 9/3/2021; ngày chấp nhận đăng 15/3/2021  
Tóm tắt:  
Thông tin khoa học và công nghệ (KH&CN) có vai trò quan trọng trong xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức. Tiếp  
cận thông tin (TCTT) KH&CN phục vụ cho hoạt động nghiên cứu khoa học trở thành một nhu cầu thiết yếu và là  
yếu tố tác động đến chất lượng của hoạt động nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo, từ đó đặt ra vấn đề thiết lập  
khung pháp lý trong việc thừa nhận và bảo đảm thực thi quyền TCTT KH&CN. Nghiên cứu này, trên cơ sở nhận  
diện và đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành về quyền TCTT KH&CN, đã đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn  
thiện khung pháp lý bảo đảm cho việc thực thi quyền TCTT KH&CN ở Việt Nam.  
Từ khóa: chính sách, pháp luật, thông tin KH&CN, tiếp cận thông tin.  
Chỉ số phân loại: 5.8  
nghiên cứu này, thông tin KH&CN được định nghĩa là các dữ  
liệu, dữ kiện, số liệu, tin tức được tạo ra trong hoạt động khoa  
học, công nghệ và đổi mới [1, 2]. Trong định nghĩa này, hoạt động  
KH&CN được xác định bao gồm: hoạt động nghiên cứu và triển  
khai (R&D), hoạt động phát triển công nghệ gồm: mở rộng công  
nghệ, nâng cấp công nghệ, đổi mới công nghệ và hoạt động dịch  
vụ KH&CN [3].  
Mở đầu  
Quyền TCTT KH&CN được nhận diện là một trong những  
quyền cơ bản của công dân, cần được Nhà nước thừa nhận và bảo  
đảm thực thi. Đặc biệt, trong bối cảnh xã hội thông tin và nền kinh  
tế tri thức, với vị trí và vai trò quan trọng của KH&CN trong phát  
triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia thì TCTT KH&CN trở thành  
một nhu cầu thiết yếu đối với hoạt động nghiên cứu khoa học và  
đổi mới, phục vụ học tập, sản xuất, kinh doanh. Trên bình diện  
pháp luật Việt Nam, quyền TCTT KH&CN chịu sự điều chỉnh của  
nhiều pháp luật khác nhau, trong đó có pháp luật về quyền TCTT  
được quy định trong Hiến pháp năm 2013 và cụ thể hóa trong Luật  
TCTT 2016, pháp luật chuyên ngành đó là pháp luật về hoạt động  
thông tin KH&CN và pháp luật khác có liên quan.  
Thuật ngữ nghiên cứu khoa học trong nghiên cứu này được  
hiểu là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật  
của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải  
pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn1.  
Theo OECD, hoạt động đổi mới (cũng có thể hiểu là “đổi  
mới sáng tạo”) là “việc thực thi một sản phẩm (hàng hóa/dịch vụ)  
hay một quy trình mới hoặc cải tiến đáng kể, một phương pháp  
maketing mới hay một biện pháp mang tính tổ chức trong thực tiễn  
hoạt động, trong tổ chức công việc hay trong quan hệ bên ngoài”.  
Hoạt động đổi mới bao gồm: đổi mới sản phẩm, đổi mới quy trình,  
đổi mới tiếp thị và đổi mới quản lý... [4].  
Trong nghiên cứu này, trên cơ sở khái quát hóa những vấn đề  
cơ bản về quyền TCTT KH&CN của công dân, chúng tôi sử dụng  
phương pháp nghiên cứu các quy định của pháp luật kết hợp với  
phân tích đánh giá, tổng hợp, so sánh các nguồn số liệu thống kê  
thu thập được nhằm nhận diện hiện trạng pháp luật về quyền TCTT  
KH&CN ở Việt Nam; từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ  
thống pháp luật, đáp ứng nhu cầu TCTT KH&CN phục vụ nghiên  
cứu khoa học và đổi mới của tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp.  
Tại Việt Nam, Khoản 16 Điều 3 Luật KH&CN 2013 đã định  
nghĩa: “Đổi mới sáng tạo là việc tạo ra, ứng dụng thành tựu, giải  
pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý để nâng cao hiệu quả  
phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị  
gia tăng của sản phẩm, hàng hóa”.  
Cơ sở khoa học về quyền TCTT KH&CN phục vụ nghiên cứu khoa học  
và đổi mới  
Thông tin KH&CN phục vụ nghiên cứu khoa học và đổi mới  
Có nhiều định nghĩa khác nhau về thông tin KH&CN, trong  
* Tác giả liên hệ: Email: [email protected]  
1Luật KH&CN 2013, Khoản 4 Điều 3.  
63(4) 4.2021  
50  
Khoa học Xã hội và Nhân văn  
vụ từ các thiết chế cung cấp thông tin trên nguyên tắc tự do, bình  
đẳng trong tiếp cận [8-11].  
Right to access science and technology  
information in scientific research  
and innovation activities in Vietnam  
Thông qua việc nhận diện khái niệm quyền TCTT, có thể xác  
định quyền TCTT KH&CN phục vụ nghiên cứu khoa học và đổi  
mới sáng tạo như sau:  
Quyền TCTT KH&CN là một bộ phận trong quyền TCTT của  
công dân; được xác định là quyền công dân được tạo ra, tìm kiếm,  
tiếp nhận, phổ biến, trao đổi và sử dụng thông tin KH&CN; quyền  
được sử dụng các sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN trong  
các thiết chế cung ứng thông tin KH&CN trên nguyên tắc tự do,  
bình đẳng trong tiếp cận để phục vụ cho hoạt động nghiên cứu  
khoa học và đổi mới [11-14].  
Tung Son Le1*, Thi Hoang Yen Thach2, Van Hong Tran3  
1Ministry of Culture, Sports and Tourism  
2University of Social Sciences and Humanities, VNU Hanoi  
3Cultural Center of District 6, Ho Chi Minh city  
Received 30 December 2020; accepted 15 March 2021  
Abstract:  
Giới hạn của quyền TCTT KH&CN: quyền TCTT KH&CN  
cũng có những giới hạn. Trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt  
Nam đều định ra những giới hạn trong việc thực hiện quyền này.  
Cụ thể:  
Science and technology information has been an  
important driving force in the information society and  
knowledgeeconomy.Accesstoscientificandtechnological  
information for scientific research becomes an essential  
need and a factor affecting the quality of scientific  
research and innovation, thereby posing a problem  
to establish a legal framework for recognising and  
enforcing the right to access scientific and technological  
information. Based on identifying and evaluating the  
current legal status on the right to access to science and  
technology information, this study proposes solutions to  
improve the legal framework to ensure the enforcement  
of the right to access science and technology information  
in Vietnam.  
Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị đã khẳng  
định: “Việc thực hiện quyền quy định tại khoản 2 của Điều này  
(quyền tự do thông tin) đi kèm với những nghĩa vụ trách nhiệm đặc  
biệt. Do đó, có thể dẫn đến một số hạn chế nhất định, tuy nhiên  
những hạn chế này phải được pháp luật quy định và cần thiết để:  
(a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; (b) Bảo vệ an  
ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của  
công chúng” [15, 16].  
Pháp luật Việt Nam cũng xác định: “Việc thực hiện quyền con  
người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia,  
dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, quyền con  
người, quyền của công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định  
của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh  
quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội và sức khỏe của cộng  
đồng”2.  
Keywords: access to information, laws, policies, science  
and technology information.  
Classification number: 5.8  
Ngoài ra, do đặc trưng của thông tin KH&CN là sản phẩm của  
trí tuệ con người tạo ra, nên việc TCTT KH&CN phải tuân thủ  
pháp luật về sở hữu trí tuệ. Từ đây có thể nhận diện quyền tự do,  
bình đẳng trong TCTT KH&CN không được vượt quá các giới hạn  
nêu trên. Việc xác định giới hạn này có ý nghĩa quan trọng trong  
việc xác định và bảo đảm quyền TCTT KH&CN của tổ chức, cá  
nhân. Từ đó đặt ra yêu cầu trong việc hoàn thiện khung pháp lý  
trong vấn đề bảo đảm quyền TCTT KH&CN của Nhà nước.  
Quyền TCTT KH&CN  
Định nghĩa quyền TCTT KH&CN: để nhận diện quyền TCTT  
KH&CN, trước tiên cần nhận diện nội hàm của quyền TCTT.  
Quyền TCTT được thừa nhận trong 2 văn kiện quốc tế là Tuyên  
ngôn thế giới về nhân quyền của Liên hợp quốc năm 1948 [5] và  
Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 [6]  
và các văn kiện quốc tế khác như: Công ước của Liên hợp quốc  
về phòng, chống tham nhũng năm 2003, Tuyên bố Rio về môi  
trường và phát triển năm 1992, Công ước UNECE về TCTT môi  
trường... [7].  
Cơ sở pháp lý và thực thi việc bảo đảm quyền TCTT KH&CN ở Việt  
Nam  
Thừa nhận quyền TCTT KH&CN  
Trên bình diện pháp luật chung về quyền TCTT, Điều 25 của  
Hiến pháp đã thừa nhận quyền TCTT như một quyền cơ bản của  
công dân: “Công dân có quyền tự do TCTT. Việc thực hiện quyền  
này do pháp luật quy định”. Ngoài ra, quyền TCTT còn được thừa  
nhận tại Luật TCTT. Theo đó, Điều 8 của Luật đã quy định: “Công  
dân có quyền được cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời;  
Trong nghiên cứu về “Nguyên tắc bảo đảm quyền TCTT theo  
tinh thần của Luật TCTT năm 2016”, Phí Thị Thanh Tuyền đã chỉ  
ra nội hàm của quyền TCTT bao gồm: quyền tiếp nhận thông tin,  
quyền tìm kiếm thông tin, quyền phổ biến thông tin [8].  
Trong nghiên cứu này, quyền TCTT được hiểu là quyền công  
dân được tạo ra thông tin, tìm kiếm, tiếp nhận, phổ biến, trao đổi  
và sử dụng thông tin; quyền được sử dụng các sản phẩm và dịch  
2Hiến pháp năm 2013, Khoản 2 Điều 14 và Khoản 4 Điều 15.  
51  
63(4) 4.2021  
Khoa học Xã hội và Nhân văn  
khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về TCTT”.  
tin KH&CN quốc gia; b) Tổ chức thực hiện chức năng đầu mối  
thông tin KH&CN cấp bộ; c) Tổ chức thực hiện chức năng đầu mối  
thông tin KH&CN cấp tỉnh; d) Tổ chức thực hiện chức năng thông  
tin KH&CN công lập khác; và e) Các tổ chức thực hiện chức năng  
thông tin KH&CN do tổ chức, doanh nghiệp ngoài nhà nước và  
các tổ chức khác thành lập.  
Trên bình diện pháp luật chuyên ngành về hoạt động thông tin  
KH&CN, quyền TCTT KH&CN được điều chỉnh bởi Nghị định  
11/2014/NĐ-CP ngày 18/2/2014 về hoạt động thông tin KH&CN  
(Nghị định 11). Nội dung này được quy định tại Điều 32, theo đó,  
tổ chức, cá nhân khai thác thông tin KH&CN: (1) Được yêu cầu  
cung cấp thông tin KH&CN nhằm phục vụ nhu cầu hợp pháp của  
mình; (2) Được TCTT KH&CN tạo ra bằng ngân sách nhà nước  
phù hợp với quy định của pháp luật.  
Để cụ thể hóa địa vị pháp lý của các tổ chức này, Nghị định 11  
đã xác định vai trò, chức năng, nhiệm vụ cơ bản của tổ chức thông  
tin KH&CN được quy định tại các Điều 25, 26, 27 và 28, đồng thời  
người đứng đầu các bộ, cơ quan ngang bộ đã ban hành văn bản  
quy phạm pháp luật và các quyết định hành chính cá biệt nhằm xác  
định địa vị pháp lý cho các tổ chức thông tin KH&CN như: Thông  
tư liên tịch số 29/2014/TTLT-BKHCN-BNV ngày 15/10/2014  
giữa Bộ KH&CN và Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ,  
quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn về KH&CN  
thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện (Thông tư liên tịch số 29);  
Quyết định số 1785/QĐ-BKHCN ngày 28/6/2018 của Bộ trưởng  
Bộ KH&CN về việc ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của  
Cục Thông tin KH&CN quốc gia; các quyết định về tổ chức thực  
hiện chức năng đầu mối thông tin KH&CN cấp bộ (do người đứng  
đầu bộ, thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành).  
Bảo đảm quyền TCTT KH&CN  
Tương ứng với việc thừa nhận quyền TCTT đó là nghĩa vụ của  
Nhà nước trong bảo đảm quyền TCTT KH&CN thông qua các quy  
định của pháp luật về thiết lập nguyên tắc TCTT cũng như việc  
xây dựng và hoàn thiện các thiết chế cung cấp thông tin KH&CN.  
Trên bình diện pháp luật chung về quyền TCTT, Điều 3 của  
Luật TCTT đã xác định những nguyên tắc cơ bản trong bảo đảm  
quyền TCTT, và trong toàn bộ nội dung của Luật TCTT đã có  
những quy định tạo hành lang pháp lý cho việc bảo đảm quyền  
TCTT của công dân bao gồm: xác định chủ thể thực hiện quyền  
TCTT (Điều 4), xác định phạm vi TCTT (Điều 5, 6 và 7), phạm vi  
trách nhiệm cung cấp thông tin (Điều 9), cách thức TCTT (Điều  
10) và xác định các biện pháp về công khai thông tin, cung cấp  
thông tin theo yêu cầu và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức có liên  
quan trong bảo đảm thực hiện quyền TCTT của công dân. Các quy  
định này tạo ra những nền tảng cơ bản trong việc hoàn thiện các  
chế định pháp luật về quyền TCTT KH&CN.  
Trên cơ sở các quy định này, mạng lưới tổ chức thông tin  
KH&CN đã được hình thành với 1 tổ chức thực hiện chức năng  
đầu mối thông tin KH&CN quốc gia (Cục Thông tin KH&CN quốc  
gia); 30 tổ chức thực hiện chức năng đầu mối thông tin KH&CN  
cấp bộ [17], 63 tổ chức thực hiện chức năng đầu mối thông tin  
KH&CN cấp tỉnh, trên 400 tổ chức thông tin KH&CN trong các  
trường đại học. Ngoài ra, còn có các tổ chức thông tin KH&CN  
thuộc các viện nghiên cứu và các cơ quan, tổ chức xã hội khác. Các  
tổ chức thông tin KH&CN này tồn tại dưới các mô hình khác nhau  
bao gồm: mô hình cục, vụ trực thuộc bộ; một bộ phận thuộc cơ  
quan tham mưu về KH&CN thuộc UBND cấp tỉnh; một bộ phận  
thuộc viện nghiên cứu; mô hình là một đơn vị sự nghiệp công lập  
như trung tâm thông tin/trung tâm thông tin thống kê KH&CN/  
trung tâm ứng dụng tin học KH&CN.  
Trên bình diện pháp luật chuyên ngành, Nghị định 11 cùng các  
văn bản có liên quan đến lĩnh vực KH&CN đã cụ thể hóa các biện  
pháp nhằm bảo đảm quyền TCTT KH&CN thông qua các quy định  
hướng đến 3 mục tiêu: i) Chuẩn hóa hoạt động thông tin KH&CN;  
ii) Thiết lập mạng lưới tổ chức thông tin KH&CN; và iii) Bảo đảm  
các nguồn lực cho hoạt động thông tin KH&CN.  
Xác định loại hình, địa vị pháp lý và vai trò của từng loại  
hình trong mạng lưới tổ chức thông tin KH&CN  
Bảo đảm về nhân lực  
Khoản 4 Điều 3 Nghị định 11 đã xác định tổ chức thực hiện  
chức năng thông tin KH&CN là tổ chức triển khai thực hiện các  
hoạt động thông tin KH&CN; xây dựng, phát triển, vận hành và  
khai thác hạ tầng thông tin, cơ sở dữ liệu về KH&CN. Ở đây, các  
nhà làm luật sử dụng thuật ngữ “tổ chức thực hiện chức năng đầu  
mối thông tin KH&CN” và “tổ chức thực hiện chức năng thông tin  
Điều 29 Nghị định 11 đã xác định cá nhân hoạt động thông  
tin KH&CN bao gồm: công chức, viên chức, người lao động hoạt  
động và cung cấp dịch vụ thông tin KH&CN, phục vụ quản lý nhà  
nước, công tác nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ và các  
hoạt động khác có liên quan. Trên cơ sở đó, Nghị định 11 đã có  
những quy định nhằm thu hút nguồn nhân lực thông qua các quy  
định về quyền của cá nhân hoạt động thông tin KH&CN gắn với  
quyền của cá nhân hoạt động KH&CN quy định tại Điều 20 của  
Luật KH&CN 2013. Từ các quy định này, nguồn nhân lực cho hoạt  
động thông tin KH&CN bước đầu được bảo đảm.  
3, tuy nhiên thuật ngữ này chưa thực sự chính xác, bởi  
KH&CN”  
lẽ nó chưa điều chỉnh được toàn bộ mạng lưới tổ chức thông tin  
KH&CN, vì ngoài tổ chức thực hiện chức năng thông tin KH&CN  
còn có các tổ chức thực hiện hoạt động thông tin KH&CN (nội  
dung này sẽ được phân tích cụ thể ở phần sau).  
Do mô hình hoạt động trong các tổ chức thông tin KH&CN  
khác nhau, nên việc phân bổ nguồn nhân lực thông tin KH&CN  
cũng có sự khác nhau. Trong đó, số nhân lực làm việc trong các tổ  
chức đầu mối thông tin KH&CN cấp bộ chủ yếu hoạt động kiêm  
nhiệm, không chuyên. Tại một số bộ, ngành tổ chức theo mô hình  
đơn vị sự nghiệp công lập như: Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Trung tâm  
Trên cơ sở xác định này, Khoản 1 Điều 22 của Nghị định 11  
đã xác định mạng lưới của tổ chức thông tin KH&CN bao gồm 5  
loại hình cơ bản: a) Tổ chức thực hiện chức năng đầu mối thông  
3Điều 22 Nghị định 11/2014/NĐ-CP ngày 18/12/2014.  
63(4) 4.2021  
52  
Khoa học Xã hội và Nhân văn  
Central, ACS, Web of Science...  
Thông tin và Dự báo kinh tế xã hội quốc gia), Bộ Nông nghiệp và  
Phát triển nông thôn (Trung tâm Tin học và Thống kê), Viện Hàn  
lâm KH&CN Việt Nam và Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt  
Nam có các đơn vị sự nghiệp chuyên trách.  
Song song với đó, hạ tầng công nghệ thông tin nói chung và  
mạng thông tin nghiên cứu đào tạo nói riêng đã có bước phát triển,  
trong đó phải kể đến sự ra đời của Mạng nghiên cứu và đào tạo Việt  
Nam (VinaREN) do Cục Thông tin KH&CN quốc gia phát triển.  
Các ứng dụng đã được triển khai trên mạng VinaREN bao gồm:  
VinaREN với dịch vụ Eduroam, VinaREN với dịch vụ E-Culture,  
VinaREN với dịch vụ E-Learning...  
Tại Cục Thông tin KH&CN quốc gia có tổng số khoảng 160  
người, bao gồm cả công chức, viên chức và người lao động (hợp  
đồng) hoạt động trong các phòng, ban hành chính và các đơn vị sự  
nghiệp trực thuộc Cục [18].  
Tại địa phương, nguồn nhân lực làm công tác thông tin KH&CN  
tại các Sở KH&CN và các bộ phận trực thuộc Sở KH&CN (bao  
gồm cả thông tin và thống kê) là 594 người (năm 2017) [18].  
Bảo đảm về tài chính  
Đây là một “điểm sáng” thể hiện sự hoàn thiện trong hệ thống  
pháp luật về bảo đảm thực thi quyền TCTT KH&CN đối với việc  
bảo đảm nguồn lực tài chính cho các thiết chế cung ứng thông tin  
KH&CN. Điều 20 của Nghị định 11 đã xác định nguồn kinh phí  
cho hoạt động thông tin KH&CN bao gồm: từ ngân sách nhà nước,  
nguồn thu từ hoạt động dịch vụ thông tin KH&CN và nguồn tài trợ  
của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài. Cùng với đó, Nghị  
định 11 đã quy định về nội dung chi ngân sách nhà nước cho hoạt  
động thông tin KH&CN, đồng thời xác định, ngân sách cho hoạt  
động thông tin KH&CN được ghi thành một mục chi riêng trong  
mục lục ngân sách nhà nước hàng năm cho KH&CN của bộ, ngành  
và địa phương.  
Tại các trường đại học, nguồn nhân lực thông tin KH&CN tập  
trung chủ yếu trong các thư viện, trung tâm thông tin thư viện của  
trường. Theo số liệu báo cáo phục vụ xây dựng Quy hoạch tổng  
thể ngành thư viện đến năm 2025 định hướng đến năm 2030 (được  
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng năm 2015, cập nhật  
số liệu năm 2017), cả nước có khoảng 7.000 người, bình quân 17  
người/1 thư viện [19].  
Bảo đảm về cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ thông tin  
Nghị định 11 đã có những quy định cụ thể về hạ tầng thông tin  
quốc gia về KH&CN bao gồm: (1) Cơ sở dữ liệu quốc gia về thông  
tin KH&CN; các cơ sở dữ liệu về thông tin KH&CN; (2) Hệ thống  
trang thiết bị xử lý kỹ thuật để xử lý, truyền tải và lưu giữ thông  
tin KH&CN, các mạng thông tin KH&CN kết nối khu vực và trên  
thế giới. Cũng tại Nghị định 11, đã quy định các biện pháp về đầu  
tư, duy trì phát triển cơ sở dữ liệu quốc gia về KH&CN, khai thác  
và sử dụng cơ sở dữ liệu quốc gia về KH&CN và duy trì phát triển  
mạng thông tin nghiên cứu đào tạo quốc gia. Các quy định này có  
ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc thiết lập hạ tầng thông tin  
KH&CN quốc gia phục vụ hoạt động nghiên cứu khoa học và đổi  
mới của tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp.  
Ngoài ra, tại Điểm c Khoản 1 và Điểm i Khoản 2 Điều 4 Nghị định  
95/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014 của Chính phủ quy định về đầu  
tư và cơ chế tài chính đối với hoạt động KH&CN (Nghị định 95)  
đã xác định việc xây dựng hạ tầng thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia  
và thống kê về KH&CN; tuyên truyền, phổ biến kiến thức, truyền  
thông, hoạt động thông tin KH&CN là những nội dung chi ngân  
sách nhà nước cho KH&CN.  
Đánh giá pháp luật hiện hành về quyền TCTT KH&CN  
Những điểm mạnh  
Pháp luật hiện hành về quyền TCTT KH&CN được xây dựng  
dựa trên nền tảng pháp lý cao nhất đó là Hiến pháp 2013 trên cơ  
sở thừa nhận và bảo đảm thực thi quyền TCTT như một quyền cơ  
bản của công dân phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam  
là thành viên. Hệ thống pháp luật về vấn đề này tương đối đầy đủ,  
bao gồm pháp luật chứa đựng nội dung chung (về quyền TCTT)  
và pháp luật chuyên ngành (về hoạt động thông tin KH&CN), loại  
Các quy định này đã tạo nền tảng cho việc bảo đảm về cơ  
sở vật chất, hạ tầng công nghệ thông tin, trong đó phải kể đến:  
2 cơ sở dữ liệu nòng cốt là cơ sở dữ liệu công bố KH&CN Việt  
Nam và cơ sở dữ liệu nhiệm vụ KH&CN. Trong đó: i) Cơ sở dữ  
liệu nhiệm vụ KH&CN là tập hợp báo cáo kết quả của các đề tài  
nghiên cứu khoa học các cấp trên toàn quốc, tính đến năm 2018 có  
27.890 kết quả nghiên cứu được mô tả thư mục, tóm tắt và số hóa  
toàn văn; ii) Cơ sở dữ liệu công bố KH&CN Việt Nam được Cục hình văn bản phong phú, bao gồm: luật và các văn bản dưới luật  
Thông tin KH&CN quốc gia bắt đầu triển khai từ năm 1987. Đến hướng dẫn thi hành bảo đảm sự vững chắc cho việc thực thi các  
nay, cơ sở dữ liệu này đã phát triển với 255.550 biểu ghi, trong đó quy định của pháp luật về quyền TCTT KH&CN.  
có khoảng 180.000 biểu ghi toàn văn, với số lượng bài bổ sung  
khoảng 19.000 biểu ghi/năm bao quát hầu hết các lĩnh vực khoa  
Những điểm yếu  
Pháp luật về quyền TCTT KH&CN ở Việt Nam còn dàn trải,  
thiếu tính đồng bộ, thống nhất, nội dung các quy phạm pháp luật  
còn chồng chéo, mâu thuẫn, một số quy định còn chưa phù hợp với  
thực tiễn hoạt động thông tin KH&CN, dẫn đến khó khăn trong  
quá trình triển khai thực thi pháp luật. Cụ thể:  
học, công nghệ và các ngành kinh tế - kỹ thuật [20].  
Nhằm bảo đảm thông tin phục vụ hoạt động nghiên cứu khoa  
học và đổi mới, Bộ KH&CN đã đầu tư bổ sung nguồn tin quốc  
tế trên hầu hết các lĩnh vực KH&CN, đặc biệt là những lĩnh vực  
mũi nhọn, ưu tiên đầu tư phát triển. Trong năm 2018, đã bổ sung  
20.000 tạp chí KH&CN, với 40 triệu biểu ghi toàn văn, nguồn tin  
Thứ nhất, pháp luật về quyền TCTT KH&CN trong việc bảo đảm  
KH&CN quốc tế bao gồm các cơ sở dữ liệu hàng đầu thế giới như: thực thi quyền TCTT còn dài trải, thiếu tính thống nhất. Pháp luật về  
ScienceDirect và Scopus, Springer Nature, IEE Xplore, Proquest  
quyền TCTT KH&CN được quy định tại nhiều văn bản khác nhau,  
53  
63(4) 4.2021  
Khoa học Xã hội và Nhân văn  
bao gồm cả pháp luật chung và pháp luật chuyên ngành, dẫn đến  
việc vận dụng, áp dụng còn gặp nhiều khó khăn do tính đặc thù  
trong hoạt động thông tin KH&CN. Cụ thể, có thể nhận diện một  
số trường hợp:  
thế nào là “thông tin có nội dung quan trọng”. Hơn nữa, Khoản 1  
Điều 6 Nghị định 13/2018/NĐ-CP ngày 23/1/2018 của Chính phủ  
quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật TCTT (Nghị định 13)  
quy định về việc lập danh mục, phân loại, cập nhật thông tin lại  
quy định về việc lập danh mục thông tin phải được công khai, và  
danh mục tiếp cận có điều kiện thay vì lập danh mục thông tin  
không được tiếp cận, điều này đã làm thu hẹp phạm vi tiếp cận  
và không thể xác định được giới hạn việc TCTT KH&CN của tổ  
chức, cá nhân; việc tiếp cận này phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước  
trong việc xác định thông tin nào phải được công khai và thông tin  
tiếp cận có điều kiện. Nội dung này hoàn toàn mâu thuẫn với quy  
định tại Khoản 1 và 2 Điều 32 Nghị định 11. Cần nói thêm rằng,  
thông tin KH&CN được tạo ra bằng ngân sách nhà nước hoàn toàn  
thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật TCTT.  
Các quy định của pháp luật về chuẩn hóa hoạt động thông tin  
KH&CN được quy định tập trung tại Chương II (từ Điều 5 đến  
Điều 12) của Nghị định 11, tuy nhiên nhiều nội dung hoạt động  
được nêu trong Nghị định lại chưa có văn bản hướng dẫn thi hành  
cụ thể đối với từng hoạt động nghiệp vụ, dẫn đến khó khăn trong  
vấn đề chuẩn hóa.  
Các quy định về thiết lập mạng lưới tổ chức thông tin KH&CN  
ngoài chịu sự điều chỉnh của pháp luật chuyên ngành về hoạt động  
thông tin KH&CN về mặt loại hình tổ chức (quy định tại Nghị định  
11), còn chịu sự điều chỉnh về mặt mô hình tổ chức theo các văn  
bản chuyên ngành chung (về KH&CN), văn bản chuyên ngành về  
nội vụ như Thông tư liên tịch 29; điều chỉnh về mặt cơ chế hoạt  
động (cơ chế tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp công lập) theo  
quy định tại Nghị định 54/2016/NĐ-CP ngày 14/6/2016 của Chính  
phủ quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập. Đặc  
biệt, quy định về cơ chế tự chủ theo Nghị định 54 lại không phù  
hợp với đặc thù của hoạt động thông tin KH&CN hiện nay, dẫn  
đến sự biến đổi trong tính chất hoạt động của các tổ chức thông  
tin KH&CN.  
Thứ ba, nội dung quy định về quyền TCTT KH&CN và những  
biện pháp bảo đảm thực thi được quy định tại pháp luật chuyên  
ngành còn nhiều điểm bất cập, dẫn đến khó khăn trong thực hiện.  
Pháp luật chuyên ngành về quyền TCTT được ban hành dưới hình  
thức nghị định (Nghị định 11), nhưng lại có các quy định về quyền  
và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân (quy định tại Điều 31, 32, 33 của  
Nghị định 11) dẫn đến hiệu lực của văn bản không cao, bởi quyền,  
nghĩa vụ của công dân thông thường được thừa nhận và ban hành  
dưới dạng văn bản là luật. Hơn nữa, do tồn tại dưới hình thức văn  
bản là nghị định, nên không có các quy định về những hành vi bị  
cấm - một trong những chế định quan trọng để giới hạn các quyền  
của tổ chức, cá nhân, bởi lẽ, theo quy định của Hiến pháp, quyền  
Các quy định về bảo đảm các nguồn lực cho hoạt động thông  
tin KH&CN với 3 nguồn lực cơ bản đó là: nguồn nhân lực, nguồn  
lực về cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin, và nguồn lực con người, quyền của công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định  
tài chính được quy định tản mát tại nhiều văn bản khác nhau, bao  
gồm chuyên ngành KH&CN và chuyên ngành liên quan đến nhân  
của luật. Chính vì vậy, xét trên bình diện pháp luật chuyên ngành,  
quyền TCTT KH&CN của tổ chức, cá nhân lại chưa thực sự được  
lực hoặc tài chính; chưa có quy định đặc thù cho chuyên ngành thừa nhận một cách vững chắc.  
thông tin KH&CN. Đơn cử, vấn đề về nhân lực, chủ yếu chịu sự  
Đề xuất hoàn thiện pháp luật về quyền TCTT KH&CN  
điều chỉnh của pháp luật chuyên ngành về nội vụ (với các quy định  
về tiêu chuẩn chức danh chung trong lĩnh vực KH&CN, mà chưa  
có quy định về tiêu chuẩn chức danh viên chức hoạt động thông  
tin KH&CN); vấn đề về cơ chế tài chính, chủ yếu được điều chỉnh  
bởi quy định về cơ chế tài chính cho hoạt động KH&CN nói chung  
(quy định tại Nghị định 95) mà chưa có tính đặc thù cho hoạt động  
thông tin KH&CN.  
Những yêu cầu trong hoàn thiện hệ thống pháp luật về  
quyền TCTT KH&CN  
Thứ nhất, việc hoàn thiện pháp luật về quyền TCTT KH&CN  
phải gắn với việc tích hợp các quy phạm pháp luật trong hệ thống  
pháp luật chuyên ngành về thông tin KH&CN, đồng thời việc thừa  
nhận quyền TCTT KH&CN phải được thừa nhận và bảo đảm thực  
thi tại văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao (đó là  
luật).  
Thứ hai, pháp luật về quyền TCTT KH&CN có sự mâu thuẫn,  
chồng chéo giữa các hệ thống văn bản pháp luật, giữa việc thừa  
nhận với bảo đảm quyền TCTT KH&CN. Sự mâu thuẫn, chồng  
chéo này được thể hiện trong các quy định của pháp luật về việc  
thừa nhận quyền TCTT KH&CN của tổ chức, cá nhân, đó là sự  
mâu thuẫn giữa quy định của pháp luật chung (được quy định tại  
Luật TCTT) và pháp luật chuyên ngành (quy định tại Nghị định  
11). Cụ thể: theo quy định tại Khoản 1 và 2 Điều 32 Nghị định 11,  
tổ chức, cá nhân khai thác thông tin KH&CN “(1) Được yêu cầu  
cung cấp thông tin KH&CN nhằm phục vụ nhu cầu hợp pháp của  
mình; (2) Được TCTT KH&CN tạo ra bằng ngân sách nhà nước  
phù hợp với quy định của pháp luật”. Tuy nhiên, Khoản 1 Điều 6  
Thứ hai, việc hoàn thiện pháp luật về quyền TCTT KH&CN  
phải bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ giữa hệ thống pháp luật  
chung và pháp luật chuyên ngành, trong đó chế định về quyền  
TCTT và những biện pháp bảo đảm quyền TCTT phải thống nhất,  
tương thích và gắn với việc thừa nhận, bảo đảm quyền TCTT  
KH&CN trong pháp luật chuyên ngành.  
Thứ ba, các quy định về thừa nhận và bảo đảm quyền TCTT  
KH&CN phải gắn với việc xác định giới hạn quyền. Theo đó,  
quyền TCTT KH&CN chỉ bị giới hạn bởi lý do quốc phòng, an  
của Luật TCTT quy định về thông tin công dân không được tiếp ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội và sức khỏe  
cận lại bao gồm “thông tin có nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực  
KH&CN” nhưng lại không quy định cụ thể tiêu chí để xác định  
cộng đồng. Ngoài ra, quyền này được quy định cụ thể hơn trong  
pháp luật về sở hữu trí tuệ. Các quy định về chuẩn hóa hoạt động  
63(4) 4.2021  
54  
Khoa học Xã hội và Nhân văn  
thông tin KH&CN, thiết lập mạng lưới tổ chức thông tin KH&CN,  
bảo đảm các nguồn lực cho hoạt động thông tin KH&CN được xây  
dựng dựa trên nền tảng bảo đảm quyền TCTT của tổ chức cá nhân.  
Do hạn chế về khuôn khổ của một bài báo và tính phức tạp  
trong nội dung của pháp luật hiện hành về quyền TCTT KH&CN,  
vì vậy bài viết chưa đi sâu phân tích hiện trạng thực thi pháp luật  
về quyền TCTT KH&CN của tổ chức, cá nhân.  
Khuyến nghị  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Chính phủ (2014), Nghị định 11/2014/NĐ-CP ngày 18/2/2014 của Chính phủ  
quy định về hoạt động thông tin KH&CN.  
Xuất phát từ yêu cầu trong hoàn thiện hệ thống pháp luật về  
quyền TCTT KH&CN được nêu ở trên, chúng tôi đưa ra khuyến  
nghị cần sửa đổi và bổ sung các quy định về pháp luật bảo đảm  
quyền TCTT KH&CN. Việc sửa đổi và bổ sung các quy định được  
thực hiện theo hướng:  
[2] Đoàn Phan Tân (2006), Thông tin học, giáo trình dành cho sinh viên ngành  
thông tin - thư viện và quản trị thông tin, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.  
Thứ nhất, mở rộng phạm vi điều chỉnh trong quan hệ pháp luật  
về TCTT. Theo đó, luật không chỉ điều chỉnh mối quan hệ giữa  
công dân với cơ quan nhà nước, mà cần điều chỉnh quan hệ giữa  
công dân với các thiết chế cung ứng thông tin với vai trò là các  
đơn vị sự nghiệp công lập; giữa công dân với các dịch vụ cung ứng  
thông tin ngoài công lập; trong đó Nhà nước không chỉ giữ vai trò  
là một thiết chế cung ứng thông tin đặc biệt, mà còn giữ vai trò  
điều tiết, bảo đảm quyền TCTT thông qua các quy định của pháp  
luật chuyên ngành về hoạt động của các thiết chế cung ứng dịch vụ  
hỗ trợ người dân TCTT.  
[3] Vũ Cao Đàm (2009), Tuyển tập các công trình công bố: lý luận và phương  
pháp nghiên cứu khoa học, Tập 1, Nhà xuất bản Thế giới.  
[4] OECD (2005), Handbook on Economic Globalisation Indicators.  
[5] Liên hợp quốc (1948), Điều 19 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền.  
[6] Liên hợp quốc (1966), Điều 19 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và  
chính trị.  
[7] Thái Anh Hùng (2015), Pháp luật quốc tế về quyền TCTT, http://noichinh.vn/  
nghien-cuu-trao-doi/201505/phap-luat-quoc-te-ve-quyen-tiep-can-thong-tin-297557/  
(truy cập ngày 15/6/2020).  
[8] Phí Thị Thanh Tuyền (2019), “Nguyên tắc bảo đảm quyền TCTT theo tinh thần  
của Luật TCTT năm 2016”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, 17, tr.12-16.  
Thứ hai, sửa đổi các quy định về trình tự, thủ tục quyền TCTT  
của công dân; bổ sung các quy định cụ thể nhằm xác định giới hạn  
trong quyền TCTT, và việc cung ứng thông tin phải dựa trên những  
giới hạn này, thay vì chỉ cung ứng các thông tin được phép công  
khai, hoặc tiếp cận có điều kiện như theo pháp luật hiện hành, từ  
đó tạo ra sự tương thích giữa hệ thống pháp luật chung và pháp  
luật chuyên ngành trong việc thừa nhận và bảo đảm thực thi quyền  
TCTT KH&CN.  
[9] Tường Duy Kiên, Hoàng Mai Hương, Chu Thúy Hằng (2006), “Tìm hiểu pháp  
luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền TCTT”, Hội thảo “Tiếp cận thông  
tin - quy định quốc tế, kinh nghiệm Việt Nam và Đan Mạch”.  
[10] Nguyễn Quỳnh Liên (2009), “Quyền TCTT trong các văn kiện quốc tế”, Tạp  
chí Nghiên cứu Lập pháp, 17, tr.9-13.  
[11] Nguyễn Minh Thuyết (2016), Báo cáo đề tài Những vấn đề lý luận và thực  
tiễn về quyền TCTT ở nước ta hiện nay thuộc Chương trình KH&CN trọng điểm cấp  
nhà nước KX.03/11-15.  
Thứ ba, xác định nội dung về quyền TCTT KH&CN, bảo đảm  
sự tương thích với quyền TCTT được quy định tại pháp luật chung,  
đồng thời xác định những giới hạn trong TCTT KH&CN theo  
hướng: quyền TCTT KH&CN chỉ bị giới hạn vì lý do quốc phòng,  
an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội và sức khỏe  
cộng đồng; ngoài ra, việc TCTT KH&CN phải tuân thủ pháp luật  
về sở hữu trí tuệ và pháp luật khác có liên quan.  
[12] Chính sách thông tin quốc gia (1999), Tài liệu hướng dẫn của UNESCO về  
việc xây dựng, phê duyệt, thực hiện và vận hành chính sách thông tin quốc gia.  
[13] Adrian Rozengardt, Alenjandra Davidziuk, Daniel Finquelievich (2009),  
National information soiety policy: a template, UNESCO Information for All  
Programme.  
[14] Mercedes Caridad Sebastian, Eva Maria Mendez Rodriguez, David Rodriguez  
Mateos (2001), “Information policies in Spain: towards the new information society”,  
Libri, 51, pp.49-60.  
Thứ tư, ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm cụ thể  
hóa các quy định về các biện pháp bảo đảm quyền TCTT KH&CN  
như: chuẩn hóa hoạt động thông tin KH&CN, thiết lập mạng lưới  
tổ chức thông tin KH&CN và bảo đảm các nguồn lực cho hoạt  
động thông tin KH&CN.  
[15] Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2011), Giới thiệu các văn kiện quốc tế  
về quyền con người, Nhà xuất bản Lao động - Xã hội.  
[16] Ủy ban nhân quyền (1995), Các nguyên tắc Johannesburg về an ninh quốc  
gia, tự do biểu đạt và TCTT.  
Kết luận  
nang-dau-moi-thong-tin-khoa-hoc-va-cong-nghe-2.html (truy cập ngày 23/5/2020).  
Trên cơ sở đưa ra những khái luận cơ bản về quyền TCTT  
KH&CN phục vụ nghiên cứu khoa học và đổi mới, bài viết đã đi  
sâu phân tích pháp luật hiện hành về quyền TCTT KH&CN ở Việt  
Nam trên hai bình diện: hệ thống pháp luật chung và pháp luật  
chuyên ngành về quyền TCTT KH&CN, từ đó nhận diện và đánh  
giá nội dung, tính thống nhất, sự tương thích giữa các hệ thống  
pháp luật, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện  
pháp luật về quyền TCTT KH&CN phục vụ các tổ chức, cá nhân  
và doanh nghiệp trong hoạt động nghiên cứu khoa học và đổi mới.  
[18] Cục Thông tin KH&CN quốc gia (2017), “Tổng quan về hiện trạng và định  
hướng hoạt động thông tin, thống kê KH&CN”, Kỷ yếu Hội nghị toàn quốc về hoạt  
động thông tin, thống kê KH&CN.  
[19] Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2015-2018), Báo cáo tổng hợp Quy hoạch  
phát triển ngành thư viện Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030.  
[20] Bộ KH&CN (2018), Sách KH&CN năm 2018, Nhà xuất bản Khoa học và  
Kỹ thuật.  
55  
63(4) 4.2021  
pdf 6 trang Thùy Anh 24520 Free
Bạn đang xem tài liệu "Quyền tiếp cận thông tin KH&CN trong hoạt động nghiên cứu khoa học và đổi mới ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfquyen_tiep_can_thong_tin_khcn_trong_hoat_dong_nghien_cuu_kho.pdf