Tổ chức xã hội trong quản trị công: Cơ sở lý luận và con đường
Tổ chức xã hội trong quản trị công:
Cơ sở lý luận và con đường
Nguyễn Thị Ngọc Anh(*)
Nguyễn Trọng Bình(**)
Tóm tắt: Gần đây, thuật ngữ “quản trị công”, “quản trị quốc gia” dần được sử dụng
ở Việt Nam. Nói đến quản trị công không thể không nói đến vai trò của tổ chức xã hội
(TCXH) (hay khu vực thứ ba). Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn thiếu vắng các nghiên cứu
mang tính cơ sở lý luận cũng như con đường phát huy vai trò của TCXH trong quản
trị công. Bài viết tập trung phân tích cơ sở lý luận về vai trò của TCXH trong quản trị
công, đồng thời chỉ ra có ba con đường để phát huy vai trò của xã hội và TCXH trong
quản trị công, đó là: hợp tác giữa nhà nước và xã hội, sự tham gia của xã hội và tự
quản xã hội.
Từ khóa: Tổ chức xã hội, Quản trị công, Cơ sở lý luận
Abstract: The terms “public governance” and “national governance” have recently been
used in Vietnam. When it comes to public governance, the role of social organizations (or
the third sector) could not be ignored. However, at present, there is a dearth of theoretical
research as well as methods in promoting their part in the public governance. The article
focuses on analyzing the theoretical basis of how social organizations function in the
public governance, and indicates three paths in promoting the roles of the society and
social organizations, namely, cooperation between the state and the society, social
participation and social self-management.
Keywords: Social Organization, Public Governance, Theoretical Basis
1. Mở đầu12
quả và một hệ thống các TCXH có tính tự
Tính hiệu quả trong quản trị của xã hội chủ và đầy sức sống là những bộ phận cấu
hiện đại có được dựa trên cơ sở quan hệ thành không thể thiếu của quản trị quốc gia.
hợp tác và tương tác có hiệu quả giữa ba Hội nghị Trung ương 5 khóa XII của Đảng
khu vực: nhà nước, thị trường và xã hội. Cộng sản Việt Nam đã lần đầu đề cập đến
Một nhà nước có năng lực và trách nhiệm, vị trí, vai trò của “xã hội” trong nền kinh
hệ thống doanh nghiệp hoạt động có hiệu tế thị trường cũng như trong quản trị công
khi chỉ rõ: “Xác định rõ và thực hiện đúng
vị trí, vai trò, chức năng và mối quan hệ
giữa Nhà nước, thị trường và xã hội phù
hợp với kinh tế thị trường” (Đảng Cộng sản
(*) ThS., Học viện Chính trị khu vực IV;
(**) TS., Học viện Chính trị khu vực IV;
Email: [email protected]
Thông tin Khoa học xã hội, số 12.2020
12
Việt Nam, 2017). Như vậy, nói đến quản trị chủ nghĩa Marx-Lenin về vai trò quyết định
công là nói đến ba chủ thể hay khu vực chủ của xã hội đối với nhà nước đòi hỏi chúng
yếu: (i) khu vực nhà nước (khu vực công); ta phải dựa trên mối quan hệ giữa cơ sở hạ
(ii) khu vực thị trường (doanh nghiệp); (iii) tầng và kiến trúc thượng tầng để phân tích
khu vực xã hội (các đoàn thể xã hội…). mối quan hệ giữa xã hội và nhà nước; đồng
Vậy tại sao cần phát huy vai trò của TCXH thời phải dựa trên quan điểm của chủ nghĩa
trong quản trị công? Có những con đường Marx-Lenin về vai trò của quần chúng nhân
nào để phát huy vai trò của TCXH trong dân trong lịch sử để nắm rõ thực chất và
quản trị công? Bài viết nhằm luận giải hai ý nghĩa của việc phát huy vai trò của các
vấn đề cơ bản nói trên.
TCXH trong quản trị công.
2. Cơ sở lý luận về vai trò của tổ chức xã
hội trong quản trị công
(ii) Xã hội tham gia quản lý nhà nước.
Xuất phát từ góc độ nguồn gốc của quyền
Chủ nghĩa Marx-Lenin cũng như một lực nhà nước, chủ nghĩa Marx-Lenin cho
số lý thuyết ở phương Tây đã chỉ rõ sự cần rằng, việc xã hội và các TCXH tham gia
thiết của việc phát huy vai trò của TCXH quản lý nhà nước và quản lý xã hội là yêu
trong quản trị công.
cầu bản chất của dân chủ và cũng là một
Thứ nhất, chủ nghĩa Marx-Lenin về trong những nguyên tắc quan trọng của
mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội đã chính trị dân chủ. Chủ nghĩa Marx-Lenin
khẳng định tính tất yếu của việc phát huy khẳng định nguyên tắc “chủ quyền nhân
vai trò của TCXH trong quản trị công. Chủ dân” trong chế độ dân chủ và chế độ nhà
nghĩa Marx-Lenin về mối quan hệ giữa nhà nước khi cho rằng: “Trong chế độ quân
nước và xã hội có nội dung phong phú, chủ, chúng ta có nhân dân của chế độ nhà
trong đó đã luận chứng những nội dung chủ nước; trong chế độ dân chủ, chúng ta có
yếu như:
chế độ nhà nước của nhân dân” (C. Mác và
(i) Xã hội quyết định nhà nước, nhà Ph. Ăngghen, 1995, Tập 4: 365). Do trong
nước sinh ra từ xã hội. Trong cuộc đấu tranh chế độ dân chủ, quyền lực nhà nước thuộc
với chủ nghĩa duy tâm lịch sử, K. Marx và F. về nhân dân nên sự tham gia của xã hội đối
Engels đã phê phán các quan điểm duy tâm với nhà nước cả về độ rộng và độ sâu là yếu
lịch sử, nhất là quan điểm duy tâm về nhà tố quan trọng phản ánh mức độ phát triển
nước. Marx và Engels cho rằng, chính xã của dân chủ cũng như mức độ chế ước của
hội sinh ra nhà nước; nhà nước không phải xã hội đối với nhà nước. Chủ nghĩa Marx-
là “sản phẩm của ý niệm tuyệt đối”. Trong Lenin về sự tham gia của xã hội đối với
tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của chế công việc nhà nước không chỉ đặt cơ sở
độ tư hữu và của nhà nước, Engels chỉ rõ: lý luận nhằm khẳng định tính chính đáng
“Nhà nước chỉ ra đời ở một giai đoạn lịch sử của việc phát huy vai trò của TCXH trong
nhất định của xã hội trên cơ sở xuất hiện chế quản trị công, mà còn có ý nghĩa chỉ đạo
độ tư hữu và gắn liền với nó là sự phân chia quan trọng đối với việc tăng cường vai trò
xã hội thành các giai cấp đối kháng” (Ph. của TCXH trong giám sát sự vận hành của
Ăngghen, 1972). Chủ nghĩa Marx-Lenin quyền lực công, quyền lực nhà nước.
cũng chỉ rõ các quan hệ kinh tế và quan hệ
(iii) Xã hội chế ước nhà nước. Chủ
xã hội ảnh hưởng, chế ước đối với tổ chức nghĩa Marx-Lenin cho rằng, để ngăn ngừa
và hoạt động của nhà nước. Quan điểm của nhà nước và cơ quan nhà nước từ “công
Tổ chức xã hội…
13
bộc của xã hội” trở thành “chủ nhân của xã hội cho rằng, ở trạng thái tự nhiên, con
xã hội”, không chỉ cần sự tham gia rộng rãi người đều bình đẳng và tự do, họ có những
của xã hội đối với hoạt động của nhà nước, quyền tự nhiên (bao gồm quyền sống,
mà còn cần phải có sự chế ước và giám sát quyền tự do, quyền tài sản…). Tuy nhiên,
có hiệu quả của xã hội đối với nhà nước, do bản tính của con người là “tự tư tự lợi”
cần “làm cho tất cả mọi người đều có thể và xu thế theo đuổi dục vọng không giới
thực hiện chức năng kiểm tra và giám sát” hạn nên rất dễ dẫn đến việc người này xâm
(V.I. Lênin, 1972, Tập 3: 266).
hại lợi ích và tự do của người khác, từ đó
(iv) Nhà nước trở về với xã hội. Quyền làm cho các quyền tự nhiên của con người.
lực nhà nước bắt nguồn từ xã hội, đến từ rất khó được đảm bảo. Trong bối cảnh
nhân dân cho nên điểm dừng chân sau cùng này, rất cần tiêu chuẩn chung (pháp luật)
của nó tất yếu là trở về với xã hội, trở về để điều chỉnh mối quan hệ của các thành
với nhân dân. Đây là một kết luận được chủ viên trong xã hội cũng như rất cần quyền
nghĩa Marx-Lenin đưa ra sau khi khảo sát lực công (nhà nước) để đảm bảo việc thực
và phân tích sự phát triển của nhà nước và hiện những tiêu chuẩn chung này. Như vậy,
xã hội. Theo chủ nghĩa Marx-Lenin, yêu theo tư tưởng về khế ước xã hội, nhà nước
cầu cơ bản của chế độ dân chủ mới chính là ra đời là nhằm đảm bảo các quyền tự nhiên
sự thống nhất giữa nhà nước và xã hội. “Sự của con người.
thống nhất này vừa có nghĩa là sự thống
(ii) Chủ quyền nhân dân. Tư tưởng khế
nhất giữa chính quyền nhà nước với lợi ích ước xã hội cho rằng, nhà nước là kết quả
phổ biến của toàn xã hội và nhà nước với từ ý chí của người dân cũng như từ sự ủy
tư cách là người đại diện thật sự của toàn quyền của người dân. Tuy nhiên, nguồn
xã hội; vừa có nghĩa là xu thế trở về xã hội gốc quyền lực là ở người dân hoặc quyền
của quyền lực nhà nước” (Rong jian, Yang lực thuộc về nhân dân. Rousseau (1997)
Feng-chun, 1989: 170). Quan điểm của chủ cho rằng, chủ quyền của nhà nước thuộc
nghĩa Marx-Lenin về sự trở về xã hội của về toàn thể nhân dân, đồng thời nhà nước
nhà nước hàm ý: một mặt, cần phải thông lấy ý chí công làm phương châm chỉ đạo
qua con đường dân chủ hóa, tức thông qua cho hành động của mình. Ý chí công tồn
việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tại một cách khách quan, nó là ý chí của
mở rộng tự quản xã hội để làm cho toàn thể nhân dân, nó “mãi mãi là công lý”. Từ việc
xã hội tham gia một cách phổ biến, rộng rãi khẳng định tầm quan trọng của ý chí công,
vào đời sống chính trị nhà nước, từ đó tạo Rousseau phản đối chế độ đại nghị lấy bầu
điều kiện cho quyền lực nhà nước trở về cử đại biểu làm đặc trưng chủ yếu. Bởi vì
với xã hội; mặt khác, cần thông qua việc chủ quyền về bản chất là do ý chí công cấu
thúc đẩy sự phát triển của sức sản xuất, tạo thành nên, còn ý chí lại là cái không thể
cơ sở kinh tế cho sự tiêu vong của nhà nước đại diện; nó chỉ là ý chí thống nhất hoặc
và sự trở về xã hội của quyền lực nhà nước. là ý chí khác, mà tuyệt không thể có thứ gì
Thứ hai, lý luận khế ước xã hội. Tư trung gian khác. Lý luận chủ quyền nhân
tưởng về khế ước xã hội chủ yếu gồm một dân của Rousseau đồng nghĩa với việc
số điểm sau (Xem thêm: Rousseau, 1997): khẳng định tính tất yếu của việc thực hiện
(i) Luận giải về trạng thái tự nhiên và dân chủ trực tiếp cũng như tăng cường sự
nguồn gốc của nhà nước. Tư tưởng khế ước tham gia của xã hội trong quản trị công.
Thông tin Khoa học xã hội, số 12.2020
14
Tư tưởng khế ước xã hội cho rằng, để ngăn sát không cao và xu hướng “lấy bản thân
ngừa sự xâm phạm của quyền lực nhà nước làm trung tâm” nên việc cung cấp dịch vụ
đối với các quyền tự nhiên của con người, công của nhà nước khó đáp ứng được nhu
cần giới hạn quyền lực nhà nước trong lĩnh cầu, yêu cầu của xã hội… (Theo: Nguyễn
vực đời sống chính trị; thông qua hiến pháp Trọng Bình, 2019). Theo lý luận về “con
và pháp luật để hạn chế và chế ước quyền đường thứ ba”, do thị trường có sự thất bại
lực nhà nước.
của thị trường, nhà nước có sự thất bại của
(iii) Tinh thần pháp quyền. Tư tưởng nhà nước nên phương thức quan trọng để
khế ước xã hội cho rằng, pháp quyền là hạn chế sự thất bại của cả thị trường và nhà
công cụ để đảm bảo mọi người tuân thủ nước chính là coi trọng việc phát huy đúng
chuẩn tắc chung (pháp luật), tức cần phải mức vai trò của TCXH trong quản trị công.
thông qua pháp quyền để điều chỉnh mối Lý luận này cho rằng, cần thông qua cơ chế
quan hệ giữa nhà nước và xã hội.
hợp tác giữa nhà nước, thị trường (doanh
Thứ ba, lý luận về “con đường thứ nghiệp) và xã hội (các đoàn thể xã hội) để
ba”. Nhìn từ lịch sử phát triển, cho đến nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia và quản
nay, nhân loại đã từng vận dụng nhiều mô trị địa phương.
thức phát triển khác nhau, trong đó điển
Thứ tư, lý luận về “chủ nghĩa đa
hình là các mô hình: (i) nhấn mạnh hoặc nguyên” và “chủ nghĩa nghiệp đoàn”. Chủ
tuyệt đối hóa vai trò độc tôn của nhà nước nghĩa đa nguyên và chủ nghĩa nghiệp đoàn
trong quản lý xã hội (“con đường thứ nhất”, là hai trường phái lý luận lớn ở phương
tức nhấn mạnh vai trò nhà nước); (ii) nhấn Tây tập trung phân tích mối quan hệ giữa
mạnh hoặc tuyệt đối hóa vai trò độc tôn của nhà nước và xã hội. Chủ nghĩa đa nguyên
thị trường (“con đường thứ hai”, tức nhấn phổ biến ở Mỹ, còn chủ nghĩa nghiệp đoàn
mạnh vai trò của thị trường). Tuy nhiên, phổ biến ở các nước châu Âu.
thực tiễn đã cho thấy, cả “con đường thứ
Chủ nghĩa đa nguyên cho rằng, với tính
nhất” và “con đường thứ hai” đều không tự chủ và tự quản, TCXH là thực thể ngăn
mang lại thành công. Chính vì vậy, nhiều ngừa sự xâm phạm đối với tự do xã hội;
nhà khoa học đã đề xuất lý thuyết về “con đồng thời thông qua sự quan tâm và tham
đường thứ ba”, tức nhấn mạnh vai trò của gia của mình đối với các vấn đề chung,
TCXH trong quản trị công.
TCXH hình thành nên lực lượng giám sát
Lý luận về “con đường thứ ba” cho đối với nhà nước. Có người cho rằng, cốt
rằng, “do thị trường có sự thất bại của nó” lõi của lý luận về chủ nghĩa đa nguyên là
nên đòi hỏi sự can thiệp của nhà nước, khẳng định “vai trò trung tâm của xã hội”,
nhưng bản thân “nhà nước cũng có sự thất nó chủ trương thông qua việc thực hiện
bại”. Vì vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào để quyền công dân, quyền của xã hội để hạn
khắc phục được sự thất bại của cả nhà nước chế sự can thiệp của nhà nước (Wang Dong-
và thị trường. Sự thất bại của nhà nước thể li, 2003: 350). Nếu ở Hoa Kỳ chủ nghĩa đa
hiện trên nhiều mặt, trong đó điển hình là nguyên được nhấn mạnh, thì ở các nước
do thiếu thông tin và sự “tự tư tự lợi” nên thuộc khu vực châu Âu lại là chủ nghĩa
nhà nước khó đề ra được chính sách chất nghiệp đoàn (corporatism). Chủ nghĩa
lượng cao, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả nghiệp đoàn là một trường phái tư tưởng
quản trị; do tham nhũng, hiệu quả giám chính trị nhấn mạnh việc các thành viên và
Tổ chức xã hội…
15
cá nhân hoạt động trong các lĩnh vực khác coi trọng việc mở rộng đoàn kết, tập hợp
nhau như nông nghiệp, khoa học,… thành thành viên của các TCXH. Còn theo chủ
lập các hiệp hội nhằm bảo vệ lợi ích chung nghĩa nghiệp đoàn, trong quá trình hoàn
của mình (Wiarda, 1997). Chủ nghĩa nghiệp thiện mối quan hệ giữa nhà nước và xã
đoàn cho rằng: (i) Tuy nhà nước có vai trò hội, vừa không được coi nhẹ vai trò hướng
quan trọng, nhưng TCXH cũng có vai trò dẫn, thúc đẩy của nhà nước, vừa không
quan trọng của nó; nhiệm vụ trung tâm của được coi nhẹ tính chất công và hoạt động
TCXH chính là tích hợp, tập trung và phản vì lợi ích công của TCXH (Zhang Zhong-
ánh nhu cầu, lợi ích và nguyện vọng của ru, 2009).
các thành viên do mình đại diện đối với quá
Thứ năm, lý luận về “quản trị của
trình hoạch định thể chế, chính sách của nhiều trung tâm”. Người đầu tiên nêu lên
nhà nước; (ii) Những đoàn thể được sự thừa lý luận này là Karl Polanyi (1886-1964).
nhận về mặt luật pháp cần thực hiện trách Sau này, Vincent Ostrom (1919-2012) và
nhiệm kiến nghị, tư vấn đối với những Eleanor Ostrom (1933-2012) đã phát triển
vấn đề công; đồng thời nhà nước cũng cần lý luận này lên một bước mới. “Quản trị
thực hiện sự kiểm soát đối với các TCXH; của nhiều trung tâm” có nghĩa là cơ chế
(iii) Quan hệ giữa các TCXH không phải phục vụ công với sự tham gia của nhiều
là quan hệ cạnh tranh, chức năng của mỗi chủ thể, trong đó các chủ thể này vừa độc
TCXH là đại diện cho các thành viên trong lập, vừa tương tác với nhau. Nói cách
lĩnh vực ngành nghề của mình, phản ánh khác, lý luận này nhấn mạnh sự tham gia
tới nhà nước các nhu cầu, nguyện vọng của của nhiều chủ thể trong giải quyết các vấn
các thành viên trong tổ chức mình (Zhang đề xã hội, những chủ thể này chủ yếu gồm
Zhong-ru, 2009).
nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức phi lợi
Giữa chủ nghĩa đa nguyên và chủ nhuận, TCXH, tổ chức quốc tế,...; đồng
nghĩa nghiệp đoàn có nhiều điểm khác thời nhấn mạnh sự phối hợp, hợp tác giữa
nhau: (i) Về định nghĩa TCXH, chủ nghĩa các chủ thể, qua đó nhằm hình thành nên
đa nguyên cho rằng, TCXH không chỉ ra “mạng lưới quản trị”. Lý luận “quản trị
đời trước nhà nước, mà sức mạnh kiểm của nhiều trung tâm” cho rằng, mục tiêu
soát của nó thậm chí còn cao hơn nhà nước. của việc phát huy sự tham gia của nhiều
Trong khi đó, chủ nghĩa nghiệp đoàn cho chủ thể trong giải quyết các vấn đề xã hội
rằng, TCXH là những tổ chức trung gian chính là nhằm tối đa hóa lợi ích của công
nối liền cá nhân với nhà nước; (ii) Về vai dân và đáp ứng nhu cầu đa dạng của công
trò và hình thức tổ chức của TCXH, nếu dân. Lý luận này đặc biệt nhấn mạnh vai
chủ nghĩa đa nguyên cho rằng TCXH tập trò của TCXH trong quản trị quốc gia. Lý
hợp lợi ích phân tán của cá thể thành lợi luận “quản trị của nhiều trung tâm” cho
ích nhóm, từ đó tạo nên đơn vị hành động rằng, với tính tự trị và tự quản, TCXH có
chủ yếu trong quá trình chính trị, gây áp lợi cho sự tham gia của người dân cũng
lực chính trị, thì chủ nghĩa nghiệp đoàn như thể hiện nhu cầu, lợi ích của người
lại cho rằng TCXH không chỉ nêu yêu cầu dân. Sự phát triển và sự tham gia của các
đối với nhà nước, mà còn đảm nhận những TCXH góp phần cải thiện chất lượng phục
trách nhiệm xã hội cần thiết. Chủ nghĩa vụ công của nhà nước, cũng như góp phần
đa nguyên gợi mở cho chúng ta rằng, cần khắc phục “sự thất bại của nhà nước” và
Thông tin Khoa học xã hội, số 12.2020
16
“sự thất bại của thị trường”. Các TCXH (doanh nghiệp), mà còn bao gồm quan hệ
là những tổ chức gần với cơ sở, có tính hợp tác giữa nhà nước và khu vực xã hội
linh hoạt và năng lực đáp ứng tốt, do đó (các TCXH) cũng như quan hệ hợp tác giữa
có thể đáp ứng một cách kịp thời nhu cầu nhà nước, khu vực tư nhân và khu vực thứ
của người dân ở cơ sở. Lý luận “quản trị ba. Mục đích của quan hệ hợp tác công -
của nhiều trung tâm” gợi mở cho chúng ta tư chính là thông qua cơ chế và phương
rằng, nhà nước cần xác định rõ phạm vi và thức quản lý xã hội linh hoạt hơn và có sự
ranh giới hoạt động của mình, nên dành tham gia của nhiều chủ thể để có thể giải
cho xã hội quyền tự chủ, tự trị lớn hơn. quyết các vấn đề xã hội. Với tư cách một
Nhà nước cần bồi dưỡng sự phát triển của phương thức quản trị có hiệu quả, tác dụng
TCXH, hỗ trợ các TCXH cũng như thúc và ý nghĩa của hợp tác công - tư thể hiện ở
đẩy sự hợp tác giữa nhà nước và xã hội.
3. Con đường phát huy vai trò của tổ chức về nguồn lực của nhà nước; phát huy sức
xã hội trong quản trị công mạnh của nhiều bên nhằm thúc đẩy việc
chỗ: nó góp phần bổ sung cho sự thiếu hụt
Do điều kiện của từng quốc gia nên con giải quyết nhanh và hiệu quả các vấn đề xã
đường để phát huy vai trò của TCXH trong hội; giảm thiểu chi tiêu công của nhà nước;
quản trị công có thể khác nhau. Mặc dù cung ứng dịch vụ công nhanh hơn; giảm
vậy, đến nay, có thể thấy giới nghiên cứu lý thiểu vai trò xã hội của nhà nước, thúc đẩy
luận đã khái quát ba con đường hay phương năng lực tự quản, tự trị của xã hội; nâng cao
thức sau đây để phát huy vai trò của TCXH chất lượng dịch vụ công.
trong quản trị công.
Với tư cách một phương diện quan
Một là, con đường quan hệ hợp tác trọng của hợp tác công - tư, quan hệ hợp tác
giữa nhà nước và TCXH. Từ sau thập niên giữa nhà nước và các TCXH (“khu vực xã
80 của thế kỷ XX đến nay, cùng với quá hội”) vừa góp phần khắc phục “sự thất bại
trình chuyển đổi mô hình quản trị quốc gia, của thị trường”, vừa góp phần khắc phục
nhiều nước đã thông qua những phương “sự thất bại của nhà nước”. Từ thực tiễn
thức khác nhau nhằm tăng cường mối quan Hoa Kỳ, các nước châu Âu và các vùng
hệ hợp tác giữa khu vực công và khu vực lãnh thổ như Hồng Kông, Đài Loan..., có
tư, còn gọi là hợp tác công - tư (public- thể thấy, nhà nước và các TCXH có thể
private partnerships), trong đó có mối quan thông qua các hình thức sau để thực hiện
hệ giữa nhà nước và các TCXH trong giải mối quan hệ hợp tác: (i) Ký kết hợp đồng,
quyết các vấn đề xã hội và cung ứng dịch tức nhà nước cung cấp kinh phí để TCXH
vụ công. Thực chất của hợp tác công - tư nào đó cung ứng dịch vụ công (chẳng hạn,
là khu vực công, khu vực tư nhân (doanh chính quyền địa phương có thể cung cấp
nghiệp) và “khu vực xã hội” (cốt lõi là kinh phí để TCXH nào đó thực hiện việc
các TCXH) cùng thực thi quyền lực công, thu gom rác thải); (ii) Nhà nước hỗ trợ cho
đảm nhận trách nhiệm công, phối hợp đầu các TCXH, tức nhà nước có thể trợ cấp
tư nguồn lực, cùng gánh vác rủi ro và chia và thực hiện các ưu đãi cho các TCXH
sẻ lợi ích nhằm sản xuất, cung ứng hàng trong quá trình các TCXH thực hiện các
hóa công và dịch vụ công. Vì vậy, quan hệ hoạt động công ích; (iii) Nhà nước mua
hợp tác công - tư không chỉ là quan hệ hợp sắm dịch vụ công từ các TCXH, tức nhà
tác giữa khu vực công và khu vực tư nhân nước trả kinh phí để các TCXH đảm nhận
Tổ chức xã hội…
17
việc sản xuất và cung ứng dịch vụ công (ở nghĩa quan trọng góp phần ổn định và phát
châu Âu, Hồng Kông và Hoa Kỳ, nguồn triển xã hội cũng như thúc đẩy việc thực
thu của các TCXH là từ nguồn kinh phí hiện công bằng xã hội; nâng cao tính trách
mua sắm dịch vụ công của nhà nước, nhiệm, tính đại diện và tính đáp ứng của
chiếm tỷ lệ lần lượt là 40-70%, 70-80% và các cơ quan nhà nước; nâng cao hiệu quả
31%) (Jia Xi-jin, 2009); (iv) Chế độ chứng và chất lượng hoạt động của các cơ quan
từ, tức nhà nước cung cấp chứng từ cho nhà nước; phát huy tính công dân, tinh thần
những đối tượng phù hợp nhằm đảm bảo công dân, vốn xã hội; thúc đẩy năng lực tự
để những đối tượng này được thụ hưởng quản của xã hội.
dịch vụ công nhất định, như y tế, giáo dục,
bảo hiểm, nhà ở...
Với tư cách là một phương thức không
thể thiếu trong quản trị nhà nước hiện đại,
Hai là, con đường tham gia của người sự tham gia của xã hội trong quản trị công
dân và TCXH trong quản trị công. Sự tham được thực hiện thông qua nhiều hình thức
gia của người dân và các TCXH là phương khác nhau. Có thể phân loại sự tham gia
thức thứ hai để phát huy vai trò của xã hội của xã hội trong quản trị công như sau:
trong quản trị công. Sự tham gia của xã (i) Hình thức tham gia của xã hội lấy tiếp
hội trong quản trị công được hiểu là tất cả nhận thông tin cho quá trình xây dựng,
hành vi và hoạt động của người dân (gồm thực hiện chính sách làm mục đích, gồm
cá nhân và các đoàn thể chính trị - xã hội, thăm dò ý kiến của người dân; chính phủ
TCXH với tư cách tổ chức đại diện của tiếp xúc với đại diện của người dân và các
người dân) thông qua thể chế, cơ chế nhất TCXH; người dân và các TCXH chủ động
định để gây ảnh hưởng đối với quá trình tiếp xúc với chính phủ; trưng cầu ý kiến
chính sách công. Nhiều nghiên cứu đã chỉ theo chuyên đề đối với nhóm nhỏ; tham
rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của việc tăng gia qua mạng Internet và chính phủ điện
cường sự tham gia của xã hội trong quản trị tử; công khai thông tin của chính phủ;
nhà nước. Nghiên cứu của B. Carroll cho (ii) Các hình thức tham gia của xã hội lấy
rằng, sự tham gia của xã hội có ý nghĩa: (i) tăng cường sự ủng hộ c ủa xã hội, người
Nâng cao tính đại diện và năng lực đáp ứng dân đối với chính sách công làm mục đích,
của các cơ quan nhà nước; (ii) Tăng cường gồm hội nghị công dân; tham vấn và lắng
sự hiểu biết và tin tưởng lẫn nhau giữa nhà nghe ý kiến; ủy ban tư vấn do người dân
nước và công dân; (iii) Củng cố s ự đồng thành lập; (iii) Các hình thức tham gia lấy
thuận chính trị và tích hợp nguồn lực của phát triển và tăng cường năng lực tự trị,
xã hội; (iv) Nâng cao chất lượng chính sách tự quản của xã hội làm mục đích, gồm
và tăng cường mức độ tiếp nhận chính sách hoạt động giám sát của các tổ chức do
của người dân; (v) Góp phần phát triển năng người dân thành lập nên; nêu sáng kiến
lực tham gia và nâng cao văn hóa dân chủ và phúc quyết; diễn đàn công dân (Citizen
của công dân (Dẫn theo: Carroll, Terrance, Forum)... (Nguyễn Trọng Bình, 2019).
1999). Có thể thấy, ý nghĩa của việc tăng
Ba là, con đường tự trị, tự quản xã hội.
cường sự tham gia của xã hội trong quản Có ý kiến cho rằng, một nhà nước tốt không
trị công thể hiện ở chỗ nó đã góp phần thực hẳn là một nhà nước phải đáp ứng tất cả các
hiện quyền của mỗi cá nhân và phát huy yêu cầu của công dân, mà là một nhà nước
năng lực của cá nhân; đồng thời nó còn có ý tạo ra cơ hội đầy đủ để người dân và xã hội
Thông tin Khoa học xã hội, số 12.2020
18
có thể tự mình giải quyết được những vấn quản trị công chính là con đường hợp tác
đề trong khả năng của mình (Zhang Cheng- giữa nhà nước với xã hội, con đường mở
fu, 2014). Tự quản xã hội là một phương rộng sự tham gia của xã hội và con đường
thức bảo đảm để mọi người học tập quản trị, tăng cường tự quản xã hội. Cả ba con đường
cùng nhau tạo ra lợi ích chung và nâng cao này có mối quan hệ thúc đẩy lẫn nhau, việc
mức độ văn minh của xã hội, cũng là con thực hiện có hiệu quả ba con đường này
đường và cơ sở quan trọng để chuyển đổi liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau, nhất
mô hình quản trị nhà nước theo hướng dân là vai trò và trách nhiệm của nhà nước cũng
chủ và “mở”. Tự quản xã hội nhấn mạnh như việc chuyển đổi mô hình quản trị nhà
hình thái quản trị lấy công dân và TCXH nước từ truyền thống sang hiện đại, với đặc
làm trung tâm, ở đó trong phạm vi tổ chức trưng cơ bản là tính “mở” (dân chủ) và tính
và khu vực nhất định, người dân và TCXH pháp quyền
tự mình tiến hành quản lý đối với các vấn
đề chung. Nhìn từ góc độ mối quan hệ giữa Tài liệu tham khảo
nhà nước và xã hội, tự quản xã hội có nghĩa 1. Ph. Ăngghen (1972), Nguồn gốc của
là sự trở về xã hội của quyền lực nhà nước.
Dưới điều kiện tự quản xã hội, quan hệ giữa
gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà
nước, Nxb. Sự thật, Hà Nội.
nhà nước và TCXH không phải là quan hệ 2. Nguyễn Trọng Bình (2017), “Lý thuyết
quyền lực chỉ huy - phục tùng, mà là quan
hệ tương tác dựa trên sự tôn trọng và hợp tác
lẫn nhau; vai trò của nhà nước không còn
là người phân phối nguồn lực, mà là người
lựa chọn công - một sự phân tích đối với
sự thất bại của nhân tố ‘phi thị trường’”,
Tạp chí Thông tin Khoa học chính trị,
số tháng 11.
sáng tạo nguồn lực. Cơ sở của tự quản xã 3. Nguyễn Trọng Bình (2019), “Sự tham
hội chính là sự phát triển lành mạnh, sự độc
lập, tự chủ và sức sống của TCXH. Trách
nhiệm của nhà nước chính là tích cực thúc
đẩy và phát triển các TCXH, khắc phục
gia của người dân trong hành chính
công - ý nghĩa và các hình thức chủ
yếu”, Tạp chí Nhân lực Khoa học xã
hội, số 4 (71).
tính “hành chính hóa” của TCXH; đồng 4. Carroll, B., Terrance, C. (1999), “Civic
thời, các TCXH hiện có cũng cần xác lập rõ
trách nhiệm xã hội của mình, tích cực tham
gia và thúc đẩy việc giải quyết các vấn đề
networks, legitimacy and the policy
process”, Governance, Vol.12, Issue 1,
p.1-28.
công, thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng 5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2017), Nghị
và xã hội. Hình thức để tăng cường tự quản
xã hội gồm: (i) Tự quản ở cơ sở và khu dân
cư; (ii) Tự quản thông qua các phong trào,
mô hình do các TCXH tổ chức cũng như
hoạt động tình nguyện của người dân và
các TCXH.
quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XII
về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, https://
dangcongsan.vn/xay-dung-dang/nghi-
quyet-hoi-nghi-trung-uong-5-khoa-xii-
ve-hoan-thien-the-che-kinh-te-thi-truong-
dinh-huong-xa-hoi-chu-nghia-440462.
html, truy cập ngày 02/10/2020.
4. Kết luận
Nhiều lý luận đã chỉ rõ vai trò của xã
hội, TCXH trong quản trị công. Con đường 6. Jia Xi-jin (2009), Báo cáo cuối kỳ
cơ bản để phát huy vai trò của xã hội trong nghiên cứu về mua sắm dịch vụ công
Tổ chức xã hội…
19
của Chính phủ Trung Quốc, tháng 6
(tiếng Trung).
chính trị phương Tây, tập 5, Nxb. Nhân
dânThiênTân, Trung Quốc (tiếngTrung).
7. V.I. Lênin (1972), Toàn tập, Nxb. Sự 12. Wiarda, Howard J. (1997), Corporatism
thật, Hà Nội.
and comparative politics: the other great
“ism”, Armonk, M.E. Sharpe, NY.
13. Zhang Cheng-fu (2014), “On Open
Governance”, Journal of Renmin
University of China (5).
14. Zhang Zhong-ru (2009), “Nghiên cứu
mối quan hệ tương tác giữa nhà nước
và tổ chức xã hội từ góc nhìn chủ nghĩa
nghiệp đoàn”, Tạp chí Xã hội học Trung
Quốc, số 4 (tiếng Trung).
8. C. Mác và Ph. Ăngghen (1995), Toàn
tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
9. Rong jian, Yang Feng-chun (1989), Bàn
về dân chủ, Nxb. Nhân dân Thượng
Hải, Trung Quốc (tiếng Trung).
10. Rousseau, Jean-Jacques (1997), Bàn về
khế ước xã hội, Nhà in sách Thương Vụ,
Bắc Kinh, Trung Quốc (tiếng Trung).
11. Wang Dong-li (2003), Lịch sử tư tưởng
(tiếp theo trang 26)
đổi mô hình phân công lao động nội
trợ trong gia đình nông thôn”, Tạp chí
Nghiên cứu Gia đình và giới, quyển 20
số 2, tr. 32-45.
7. Nguyễn Thị Hà (2012), Quan hệ giới
trong gia đình dân tộc thiểu số vùng núi
phía Bắc Việt Nam hiện nay, Luận án 12. Raj, Stacey and Raval, Vaishali (2013),
tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị -
Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
“Parenting and family socialization
within cultural context”, In:
a
8. Nguyễn Xuân Nghĩa (2000), Quá trình
xã hội hóa về giới ở trẻ em, Nxb. Đại
học Mở bán công Tp. Hồ Chí Minh.
Anderson, E. L., Thomas, S. (Eds.),
Socialization: Theories, processes
and impact (pp. 57-78), Nova Science
Publishers, New York.
9. Nguyễn Xuân Thắng (2018), Xu hướng
biến đổi của đặc điểm gia đình Việt 13. Trần Thị Hồng (2007), “Khuôn mẫu
Nam trong quá trình hội nhập quốc tế,
Báo cáo đề tài cấp Bộ, Viện Hàn lâm
Khoa học xã hội Việt Nam.
giới trong gia đình hiện nay”, Tạp chí
Nghiên cứu gia đình và giới, số 4,
quyển 17, tr. 31-37.
10. Oakley, Ann (1972), Sex, Gender 14. Trương Trần Hoàng Phúc (2010), “Vai
and Society, Maurice Temple Smith
Limited.
11. Phùng Thị Kim Anh (2010), “Biến
trò của người phụ nữ trong gia đình”,
Tạp chí Nghiên cứu gia đình và giới, số
4, quyển 20, tr. 39-49.
Bạn đang xem tài liệu "Tổ chức xã hội trong quản trị công: Cơ sở lý luận và con đường", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
to_chuc_xa_hoi_trong_quan_tri_cong_co_so_ly_luan_va_con_duon.pdf

