Đồng bằng sông Cửu Long với chiến lược phát triển “8g”
diễn đàn khoa học và công nghệ
đồng bằng sông Cửu Long với chiến lược phát triển “8g”
Đẩy mạnh đầu tư cho khoa học và công nghệ (KH&CN), tăng cường liên kết vùng, tạo sự kết nối các
tiểu vùng, liên vùng… đặc biệt, chiến lược tiếp cận mới đối với Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)
thông qua 8 chữ “G” là những chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại Hội nghị sơ
kết 3 năm thực hiện Nghị quyết 120/NQ-CP về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí
hậu (BĐKH) vừa được tổ chức tại TP Cần Thơ vào trung tuần tháng 3/2021.
ứng với BĐKH, ứng dụng thành
sản, trái cây”. Kết quả, trước khi
bước chuyển mình mạnh mẽ
tựu KH&CN, tổ chức sản xuất Nghị quyết 120 ra đời, trong 3,2
theo chuỗi giá trị… Điển hình phải triệu ha đất nông nghiệp có 1,82
kể đến những chuyển biến tích triệu ha đất lúa, 860.000 ha thủy
cực trong lĩnh vực nông nghiệp và sản, 385.000 ha cây ăn trái. Sau
Ngày 17/11/2017, Chính phủ
đã ban hành Nghị quyết 120 (còn
được gọi là Nghị quyết “thuận
thiên”) đưa ra tầm nhìn đến năm
2100, phát triển ĐBSCL bền
vững, an toàn, thịnh vượng trên
cơ sở phát triển phù hợp nông
nghiệp hàng hóa chất lượng cao,
kết hợp với dịch vụ, du lịch sinh
thái, công nghiệp mà trọng tâm là
công nghiệp chế biến, nâng cao
giá trị và sức cạnh tranh của sản
phẩm nông nghiệp.
giao thông vận tải.
khi có Nghị quyết 120, diện tích
trồng trái cây đã tăng lên 450.000
ha, thủy sản trên 900.000 ha, diện
tích lúa giảm còn 1,7 triệu ha.
Theo nhiệm vụ được giao tại
Nghị quyết 120, Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn đã ưu
tiên tập trung tổ chức triển khai 4
lĩnh vực then chốt: 1) Xây dựng
chương trình tổng thể phát triển
nông nghiệp bền vững thích ứng
với BĐKH gắn với xây dựng nông
thôn mới vùng ĐBSCL; 2) Phát
triển thủy lợi vùng; 3) Phòng
chống xói lở bờ sông, bờ biển,
phòng chống thiên tai; 4) Nghiên
cứu, chọn tạo giống cây trồng, vật
nuôi thủy sản thích ứng với BĐKH
của vùng. Chỉ riêng từ năm 2018
đến nay, Bộ đã phối hợp cùng các
bộ/ngành trình Chính phủ hỗ trợ
các tỉnh/thành phố vùng ĐBSCL
hơn 6.622 tỷ đồng để xử lý sạt lở,
góp phần ổn định đời sống kinh
tế - xã hội cho người dân. Đối với
nghiên cứu giống cũng có những
kết quả khích lệ khi hiện nay toàn
vùng ĐBSCL sử dụng giống lúa
xác nhận lên đến 75%, dự kiến
năm 2025 tăng lên 90% và năm
2030 là 100%, góp phần tích cực
nâng chất lượng hạt gạo và tăng
cao về giá trị xuất khẩu. Điểm
thay đổi tích cực là cơ cấu nông
nghiệp ở ĐBSCL đã chuyển dịch
đúng hướng “thủy sản, trái cây,
lúa gạo” thay cho “lúa gạo, thủy
Trong lĩnh vực giao thông vận
tải, giai đoạn 2016-2021, Bộ Giao
thông Vận tải đã triển khai đầu tư
31 dự án, công trình giao thông
ở ĐBSCL với tổng số vốn 88.963
tỷ đồng. Đến nay đã có 14 dự
án hoàn thành nâng cấp và xây
mới 281 km đường quốc lộ, cùng
những cây cầu lớn như Cổ Chiên,
Cao Lãnh, Vàm Cống, Hòa Trung,
Mỹ Lợi… Hoàn thiện 46,5 km luồng
tàu biển trọng tải lớn vào sông Hậu
giai đoạn 1, nạo vét 28 km kênh
Chợ Gạo giai đoạn 1. Hiện có 14
dự án đang thực hiện như cầu Mỹ
Thuận 2, cầu Rạch Miễu 2, cầu
Đại Ngãi, hoàn chỉnh luồng tàu
biển trọng tải lớn vào sông Hậu,
tiếp tục nâng cấp kênh Chợ Gạo
với tổng vốn 40.494 tỷ đồng... Có
thể khẳng định, các dự án được
đầu tư và đưa vào khai thác đã
thực sự phát huy hiệu quả, đều là
những dự án động lực, quan trọng
góp phần thúc đẩy phát triển kinh
tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc
phòng của vùng và đất nước…
Sau hơn 3 năm triển khai thực
hiện Nghị quyết, vùng ĐBSCL đã
có những thay đổi, chuyển mình
mạnh mẽ theo hướng “thuận
thiên”, bền vững; kinh tế - xã hội
có bước phát triển nhanh; sinh kế,
đời sống của nhân dân từng bước
đượccảithiện. Mộtsốcơchếchính
sách đã được rà soát, bổ sung;
quy hoạch tổng thể phát triển bền
vững vùng ĐBSCL đang được
khẩn trương hoàn thành. Thực tế
cho thấy đã có nhiều chính sách
được nghiên cứu, đề xuất hoàn
thiện nhằm khuyến khích đầu tư
phục vụ cho phát triển ĐBSCL,
trong đó ưu tiên các lĩnh vực như
năng lượng tái tạo, hạ tầng kỹ
thuật, môi trường, nuôi trồng thủy
sản, chế biến thực phẩm, dịch vụ
vận tải… Đặc biệt, các cấp chính
quyền các địa phương, người dân
đã thay đổi tư duy sản xuất nông
nghiệp, chuyển đổi mô hình thích
Khó khăn và giải pháp vượt qua
Mặc dù đã đạt được những kết
4
Số 4 năm 2021
Diễn đàn khoa học và công nghệ
quả đáng khích lệ, nhưng ĐBSCL
vẫn phải đối mặt với nhiều khó
khăn, thách thức. Một số cơ chế,
chính sách chậm đi vào thực tiễn,
nhất là cơ chế điều phối liên kết
vùng; nguồn vốn đầu tư công cho
các công trình có tính chất kết nối
vùng chưa đáp ứng yêu cầu. Luật
Quy hoạch 2017 được ban hành
với các yêu cầu và nội dung mới
dẫn đến một số lúng túng trong
quá trình rà soát, xây dựng quy
hoạch, nhất là việc xây dựng quy
hoạch tổng thể vùng ĐBSCL theo
hướng tích hợp giữa quy hoạch địa
phương vào quy hoạch chung của
vùng. Bên cạnh đó, thách thức
lớn nhất của vùng là BĐKH, thiên
tai đang ngày càng diễn ra nhanh,
phức tạp và sẽ tiếp tục khó lường,
khó dự báo do tính thất thường,
cực đoan, đặc biệt là những tác
động ngắn hạn. Các hoạt động
khai thác, sử dụng nước ở phía
thượng nguồn, đặc biệt là các dự
án thủy điện trên dòng chính sông
MêKông ngày càng phức tạp hơn,
trong khi cơ chế điều phối tiểu
vùng đã cho thấy những bất cập,
khó phát huy tối đa hiệu quả...
hạn chế. Đồng tình với quan điểm dân cư ven sông, ven biển. Hạ
trên, Bí thư Tỉnh ủy Kiên Giang Đỗ tầng giao thông vẫn còn là “điểm
Thanh Bình cho rằng, ĐBSCL đã nghẽn” trong phát triển của vùng;
và đang phải đối mặt với nguy cơ dịch vụ logistics để phục vụ xuất
tác động ngày càng gia tăng do khẩu nông - thủy sản còn rất hạn
BĐKH cực đoan, khó lường; tình chế, toàn vùng vẫn chưa có trung
trạng sụt lún đất, xói lở bờ sông, tâm logistics được công nhận…
bờ biển, xâm nhập mặn, thiếu
Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị,
nước ngọt ngày càng nghiêm
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn
trọng, tác động tiêu cực đến toàn
Xuân Phúc khẳng định, vùng
vùng… Cơ chế liên kết vùng vẫn
ĐBSCL có vai trò, vị trí rất quan
còn bất cập, trong đó Hội đồng
trọng đối với đất nước. Những kết
vùng đã được thành lập, tuy nhiên
quả đạt được sau 3 năm thực hiện
thể chế hoạt động của Hội đồng
Nghị quyết 120 chỉ là bước đầu,
chưa được đề cập trong văn bản
trách nhiệm của Chính phủ, các
quy phạm pháp luật, nên rất khó
bộ/ngành là rất lớn.
Chủ tịch UBND tỉnh An Giang
Nguyễn Thanh Bình chia sẻ,
trước khi có Nghị quyết 120, hoạt
động ứng phó với BĐKH trên địa
bàn tỉnh An Giang nói riêng và
các tỉnh ĐBSCL nói chung còn
mang tính cục bộ, giới hạn bởi địa
giới hành chính, thiếu liên kết và
đồng bộ. Nguồn lực đầu tư cho
công tác ứng phó với BĐKH chủ
yếu là các giải pháp công trình
như xây dựng các kè chống sạt
lở, các đập, hồ chứa. Bên cạnh
đó, để phát triển sản xuất quy mô
lớn thì cả doanh nghiệp và người
dân gặp khó khăn để chuyển đổi
do hạn mức nhận chuyển nhượng
thực hiện các chủ trương của Hội
Để phát triển ĐBSCL trong
thời gian tới, Thủ tướng yêu cầu
các bộ/ngành, địa phương cần tạo
lập môi trường kinh doanh bình
đẳng cho các thành phần kinh tế,
để các doanh nghiệp, các hợp tác
xã tạo ra việc làm, thu nhập cho
người dân trong vùng; phát triển
đồng bộ các thị trường lao động,
thị trường đất đai phục vụ cho sản
xuất lớn; tăng cường đầu tư cho
KH&CN, đặc biệt là công nghệ
đồng vùng. Việc huy động các
nguồn lực cho đầu tư các công
trình hạ tầng thích ứng với BĐKH
còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu
cầu cấp bách trong giai đoạn hiện
nay và thời gian tới. Chưa có cơ
chế, chính sách thật sự mang
tính đột phá để thu hút nguồn lực
ngoài ngân sách. Chúng ta bước
đầu đã giải quyết có hiệu quả bài
toán “thích ứng” nhưng bài toán
“chủ động” vẫn còn nhiều khó
quyền sử dụng đất; nguồn ngân khăn phía trước; sạt lở bờ sông, sinh học, công nghệ mới thích
sách đầu tư công của tỉnh còn bờ biển là vấn đề cấp bách nhưng ứng với BĐKH; tạo lập và hình
khó khăn, các nguồn đầu tư từ mới chỉ xử lý cục bộ, chưa có giải thành các quỹ đầu tư, có cơ chế
tư nhân trong lĩnh vực BĐKH còn pháp tổng thể gắn với sắp xếp lại huy động vốn cho phát triển vùng,
5
Số 4 năm 2021
Diễn đàn Khoa học và Công nghệ
tranh của nền kinh tế và mỗi địa
phương.
của mô thức “giáo dục, giáo dục
các dự án phát triển thích ứng với
BĐKH; ưu tiên nguồn lực từ ngân
sách đầu tư nhiều hơn nữa cho
vùng ĐBSCL, đặc biệt là các dự
án trọng điểm đã xác định trong
5 đến 10 năm tới; chú trọng các
biện pháp công trình và phi công
trình trong thích ứng với BĐKH.
và giáo dục”. Cụ thể là giáo dục
cơ bản, đảm bảo tất cả mọi người,
đặc biệt là trẻ em cần phải được
học hết bậc phổ thông, không
được phép để một trẻ em nào
không được đến trường vì không
có điều kiện tài chính. Thứ hai
là giáo dục nghề, đảm bảo cho
người dân có cơ hội tiếp cận việc
làm cơ bản. Thứ ba là giáo dục
trình độ cao, là cơ sở để chuyển
đổi lên bậc nấc cao hơn về năng
suất và thu nhập, bắt kịp nhóm
thu nhập cao của cả nước.
Thứ sáu là giỏi: tích cực thu hút
những người tài năng, đóng góp
chất xám, trí tuệ cho sự phát triển
ĐBSCL. Do đó, cần có chính sách
chung thu hút giới tài năng trở về
hoặc đến đóng góp vì sự phát
triển của vùng đất “Chín Rồng”.
Vấn đề này vẫn chưa được đề cập
trong Nghị quyết 120, đây là một
thiếu sót, cần phải phát huy vai
trò, thu hút tốt hơn nữa những tài
năng đến với ĐBSCL.
Thủ tướng đề nghị, các địa
phương cần có nguồn ngân sách
chi cho ứng phó với BĐKH; tăng
cường liên kết vùng, tạo sự kết
nối các tiểu vùng, liên vùng và
liên kết giữa TP Hồ Chí Minh với
ĐBSCL, đồng thời phát huy vai
trò Hội đồng vùng trong phân bổ
ngân sách, dự án đầu tư. Quy
hoạch phát triển đô thị ven biển,
ven sông cần thích ứng với BĐKH;
tăng cường hợp tác quốc tế để có
được sự hỗ trợ về khoa học và
nguồn lực đáp ứng yêu cầu phát
triển vùng; có chương trình hỗ trợ
các đối tượng dễ bị tổn thương do
BĐKH như: người già, phụ nữ, trẻ
em; quan tâm bảo vệ môi trường,
giảm rác thải và khí nhà kính…
Đặc biệt, Thủ tướng nhấn mạnh
“8G” mà ĐBSCL cần phải triển
khai sớm nhất có thể, gồm:
Thứ bảy là già: ĐBSCL có mức
độ dân số già hóa cao hơn bình
quân cả nước. Đây là nhóm đối
tượng dễ bị tổn thương về mặt
kinh tế - xã hội lẫn môi trường.
Do đó, ĐBSCL cần có chính sách
chủ động cho vấn đề dân số già
hóa và hình thành mạng lưới an
sinh xã hội tốt hơn để nâng đỡ
phúc lợi cho người già và những
người yếu thế.
Thứ ba là giang, tức sông: kinh
tế và sinh kế của người dân nơi
đây gắn liền với các con sông
như Tiền, Hậu và nhiều con sông
khác. Chiến lược phát triển cần
tận dụng được lợi thế, phát huy
vai trò của các con sông để phát
triển kinh tế nông nghiệp, lúa
gạo, trái cây, thủy sản, giao thông
và đặc biệt là hệ thống logistic
đường sông thì mới thành công.
Không có dòng sông, con rạch
không phải là văn hóa của miền
Tây. “Nhất cận thị, nhị cận giang,
tam cận lộ”, vai trò của các con
sông là yếu tố không thể không
nói tới khi nhắc về ĐBSCL.
Thứ tám là giới: phải thúc đẩy
bình đẳng giới, tiếp cận cơ hội
việc làm và phát huy vai trò, vị
trí của người phụ nữ, tạo công ăn
việc làm, đảm bảo họ được tiếp
cận đầy đủ những tiến bộ của xã
hội…
Thứ nhất là giao, tức giao
thông: phải dành nguồn lực và tập
trung ưu tiên phát triển hệ thống
giao thông, thủy lợi và cơ sở hạ
tầng gắn với tầm nhìn chung của
toàn vùng ĐBSCL, nhất là hệ
thống đường cao tốc, tạo sự kết
nối thuận tiện, chi phí thấp, thúc
đẩy giao thương, mở mang kinh
tế cho người dân, làm cơ sở ứng
phó hiệu quả với thách thức của
BĐKH.
Thứ tư là gắn: đó là gắn kết
giữa Trung ương với địa phương,
nhà nước với thị trường, người
dân và doanh nghiệp, giữa trong
nước và tổ chức, nhà đầu tư quốc
tế, đặc biệt là gắn liên kết vùng
ĐBSCL để cùng phát triển bền
vững.
Thủ tướng khẳng định, phát
triển ĐBSCL theo hướng thuận
thiên nhưng không phải là cam
chịu mà có các giải pháp thích ứng
phù hợp với phát triển của vùng
về sản xuất, đời sống. Đảng, Nhà
nước, Chính phủ, các bộ/ngành,
địa phương quyết tâm thực hiện
Nghị quyết quan trọng này để
ĐBSCL phát triển bền vững ?
Thứ năm là giàu: tích cực thu
hút được những người giàu, người
khá giả, doanh nghiệp có tiềm
lực đến đầu tư phát triển kinh
tế địa phương. Để có nguồn lực
phát triển cần phải “xây tổ đón
đại bàng”. Muốn vậy cần phải
cải thiện môi trường đầu tư kinh
doanh, cải cách thủ tục hành
chính, nâng cao năng lực cạnh
Thứ hai là giáo, đó là giáo dục
và phát triển nguồn nhân lực: có
thể nói giáo dục là chìa khóa vàng
của phát triển bền vững. Đối với
ĐBSCL, giáo dục là đáp án cho
bài toán phát triển ngắn hạn lẫn
dài hạn. Hệ thống giáo dục của
ĐBSCL cần chú trọng nội hàm
Hoàng Oanh
6
Số 4 năm 2021
Bạn đang xem tài liệu "Đồng bằng sông Cửu Long với chiến lược phát triển “8g”", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
dong_bang_song_cuu_long_voi_chien_luoc_phat_trien_8g.pdf

