Chuyển đổi số trong dịch vụ công tại tỉnh Thái Nguyên: Đánh giá ban đầu về việc sử dụng dịch vụ công trực tuyến của người dân

226(12): 154 - 163  
TNU Journal of Science and Technology  
DIGITAL TRANSFORMATION OF PUBLIC SERVICE IN THAI NGUYEN  
PROVINCE: INITIAL ASSESSMENT OF E-PUBLIC SERVICE ADOPTION  
FROM CITIZEN-CENTRIC PERSPECTIVE  
Pham Thi Tuan Linh1*, Ha Trong Quynh1, Pham Quang Hieu2*  
1International School, Thái Nguyen University  
2Thai Nguyen Department of Information and Communication  
ARTICLE INFO  
ABSTRACT  
Construction of e-public service system is  
a key solution in  
Received:  
Revised:  
17/8/2021  
comprehensive digital transformation strategy of Vietnam, with a vision  
towards e-Government. In Thai Nguyen province, e-public service  
implementation has achieved positive results. However, local citizens still  
do not fully understand and hesitate to adopt e-public service. In order to  
effectively implement e-public service, developing citizen-centric  
administration and aiming to e-Government, research is required to  
provide feasible means which facilitate citizen positive awareness and  
adoption of e-public service. Based on information gained from related  
official reports and surveys with local citizens, this study offers initial  
assessment of e-public service adoption in Thai Nguyen province and  
proposes a research model about influential factors of e-public service  
adoption with scale items for study constructs incorporated in the model.  
Future works could further conduct qualitative and quantitative assessment  
of citizen e-public service adoption, providing comprehensive analytical  
findings and recommending solutions to enhance the effectiveness of e-  
pubic service implementation in Thai Nguyen province.  
09/9/2021  
09/9/2021  
Published:  
KEYWORDS  
Digital Transformation  
e-Public Service  
Citizen  
Interview  
Research Model  
CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG DỊCH VỤ CÔNG TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN:  
ĐÁNH GIÁ BAN ĐẦU VỀ VIỆC SỬ DỤNG DỊCH VỤ CÔNG TRỰC TUYẾN  
CỦA NGƯỜI DÂN  
Phạm Thị Tuấn Linh1*, Hà Trọng Quỳnh1, Phạm Quang Hiếu2  
1Khoa Quốc tế - Đại học Thái Nguyên  
2Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Thái Nguyên  
THÔNG TIN BÀI BÁO  
Ngày nhận bài: 17/8/2021  
Ngày hoàn thiện: 09/9/2021  
TÓM TẮT  
Xây dựng hệ thống dịch vụ công trực tuyến là bước đi cụ thể trong chiến  
lược chuyển đổi số toàn diện, hướng đến chính phủ điện tử. Tại tỉnh Thái  
Nguyên, công tác triển khai dịch vụ công trực tuyến đã đạt được một số  
kết quả tích cực. Tuy nhiên, người dân tại tỉnh Thái Nguyên chưa thực sự  
hiểu và mạnh dạn sử dụng dịch vụ công trực tuyến. Để triển khai hiệu quả  
dịch vụ công trực tuyến, từ đó xây dựng nền hành chính phục vụ và hướng  
đến mục tiêu xây dựng chính phủ số, cần có những nghiên cứu nhằm nâng  
cao ý thức và mức độ sử dụng của người dân đối với dịch vụ công trực  
tuyến. Dựa trên các thông tin báo cáo liên quan và quá trình phỏng vấn  
người dân địa phương, nghiên cứu này đưa ra những đánh giá ban đầu về  
hiệu quả sử dụng dịch vụ công trực tuyến tại tỉnh Thái Nguyên, đề xuất mô  
hình nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ công  
trực tuyến và bộ thang đo. Nghiên cứu tương lai có thể tiếp tục đánh giá  
định tính và định lượng về hoạt động sử dụng dịch vụ công trực tuyến của  
người dân, từ đó đưa ra kết quả đánh giá chuyên sâu và các giải pháp tăng  
cường hiệu quả sử dụng dịch vụ công trực tuyến tại tỉnh Thái Nguyên.  
Ngày đăng: 09/9/2021  
TỪ KHÓA  
Chuyển đổi số  
Dịch vụ công trực tuyến  
Người dân  
Phỏng vấn  
Mô hình nghiên cứu  
* Corresponding author. Email: [email protected]n  
154  
226(12): 154 - 163  
TNU Journal of Science and Technology  
1. Giới thiệu  
Chuyển đổi số (Digital transformation) là khái niệm ra đời trong bối cảnh bùng nổ Internet  
trên toàn cầu và ngày càng phổ biến trong thời gian gần đây, mô tả việc ứng dụng công nghệ số  
(digitalize) vào mọi lĩnh vực trong xã hội [1]-[2]. Sandkuhl và Lehmann [3] nhấn mạnh vai trò  
của chuyển đổi số như một xu hướng tổng thể (mega-trend) trong tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã  
hội. Chuyển đổi số được miêu tả như một sự dịch chuyển từ mô hình truyền thống (thường là mô  
hình hiện hữu – physical) bao gồm các hoạt động quản trị, điều hành đến sản xuất hàng hóa/dịch  
vụ và đưa hàng hóa/dịch vụ đến với khách hàng, sang một mô hình tổng thể ứng dụng công nghệ  
số hóa. Mô hình tổng thể ứng dụng công nghệ số hóa này sẽ giúp nâng cao chất lượng các hàng  
hóa/dịch vụ truyền thống hoặc thay thế các loại hình hàng hóa/dịch vụ truyền thống này bằng các  
loại hình hàng hóa/dịch vụ số hóa. Chuyển đổi số đem lại những tiềm năng về đổi mới sáng tạo  
khổng lồ và giúp đưa ra giải pháp vượt qua các rào cản trong mọi lĩnh vực như tự động hóa,  
logistics, dịch vụ y tế, giáo dục và dịch vụ công [3].  
Theo Nguyễn Phước Thọ [4], “dịch vụ công” là một khái niệm có nhiều cách tiếp cận và cách  
hiểu khác nhau, tuy nhiên đặt trong bối cảnh thực tiễn của Việt Nam, “dịch vụ công” có thể được  
định nghĩa với ba nội dung cơ bản như sau: (1) “Dịch vụ công là những hoạt động thuộc trách  
nhiệm của Nhà nước, do Nhà nước trực tiếp thực hiện hoặc uỷ quyền cho các chủ thể không phải  
là Nhà nước thực hiện”, (2) “Dịch vụ công là hoạt động được phân biệt với các hoạt động quản lý  
nhà nước, cũng như với các hoạt động thực thi công quyền nói chung”, và (3) “Dịch vụ công có  
sứ mệnh trước hết và quan trọng nhất là cung cấp những dịch vụ đáp ứng các nhu cầu thiết yếu,  
tối thiểu của xã hội, xuất phát từ mục tiêu nhằm xây dựng một xã hội công bằng, ổn định và phát  
triển hài hoà”. Dịch vụ công trực tuyến (DVCTT) là “dịch vụ hành chính công và các dịch vụ  
khác của cơ quan nhà nước được cung cấp cho các tổ chức, cá nhân trên môi trường mạng” [5],  
giúp tiết kiệm thời gian, chi phí và nâng cao hiệu quả phục vụ các nhu cầu về dịch vụ công của  
người dân [6]-[8].  
Xây dựng hệ thống dịch vụ công trực tuyến là một trong những bước đi và giải pháp cụ thể của  
Nhà nước trong chiến lược chuyển đổi số toàn diện, hướng đến chính phủ điện tử theo Nghị quyết  
số 17/NQ-CP ngày 07/3/2019 về “Một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển CPĐT giai  
đoạn 2019-2020, định hướng đến 2025” [9]. Cổng Dịch vụ công Quốc gia (CDVCQG) được khai  
trương ngày 9 tháng 12 năm 2019, website chính thức tại www.dichvucong.gov.vn. Tính đến cuối  
năm 2020, sau một năm vận hành, DVCQG đã tích hợp trên 2.500/6.798 thủ tục hành chính tại 4  
cấp chính quyền (đạt tỷ lệ 37%, vượt chỉ tiêu Chính phủ giao 5%), có hơn 92 triệu lượt truy cập,  
trên 390 nghìn tài khoản đăng ký, hơn 25 triệu hồ sơ đồng bộ trạng thái, và trên 612 nghìn hồ sơ  
thực hiện trực tuyến trên Cổng; chi phí xã hội tiết kiệm được khi thực hiện dịch vụ công trực tuyến  
trên Cổng Dịch vụ công quốc gia là hơn 6.700 tỷ đồng/năm [10].  
Tại Việt Nam, DVCTT được triển khai với bốn mức độ phát triển [5], bao gồm:  
- Mức độ 1: Cổng thông tin điện tử có đầy đủ thông tin về quy trình thủ tục thực hiện dịch vụ,  
các giấy tờ cần thiết, các bước tiến hành, thời gian thực hiện, chi phí thực hiện dịch vụ.  
- Mức độ 2: Ngoài thông tin đầy đủ như mức độ 1, cổng thông tin điện tử cho phép người sử  
dụng tải về các mẫu đơn, hồ sơ để người sử dụng có thể in ra giấy, hoặc điền vào các mẫu đơn.  
Việc nộp lại hồ sơ sau khi hoàn thành được thực hiện qua đường bưu điện hoặc người sử dụng  
trực tiếp mang đến cơ quan thụ lý hồ sơ.  
- Mức độ 3: Ngoài thông tin đầy đủ như ở mức độ 1 và các mẫu đơn, hồ sơ cho phép tải về  
như ở mức độ 2, cổng thông tin điện tử cho phép người sử dụng điền trực tuyến vào các mẫu đơn,  
hồ sơ và gửi lại trực tuyến các mẫu đơn, hồ sơ sau khi điền xong tới cơ quan và người thụ lý hồ  
sơ. Các giao dịch trong quá trình thụ lý hồ sơ và cung cấp dịch vụ được thực hiện qua mạng. Tuy  
nhiên, việc thanh toán chi phí và trả kết quả sẽ được thực hiện khi người sử dụng dịch vụ đến trực  
tiếp cơ quan cung cấp dịch vụ.  
- Mức độ 4: Ngoài thông tin đầy đủ như ở mức độ 1, các mẫu đơn, hồ sơ cho phép tải về như  
ở mức độ 2, gửi trực tuyến hồ sơ và thực hiện các giao dịch qua mạng như ở mức độ 3, việc  
155  
226(12): 154 - 163  
TNU Journal of Science and Technology  
thanh toán chi phí sẽ được thực hiện trực tuyến, việc trả kết quả có thể thực hiện trực tuyến hoặc  
gửi qua đường bưu điện.  
Tại tỉnh Thái Nguyên, hệ thống DVCTT đã được xây dựng và đưa vào sử dụng từ năm 2017.  
Từ khi được triển khai đến nay, hệ thống DVCTT của tỉnh đã đạt được một số kết quả nhất định,  
cụ thể đã tiếp nhận 587.418 hồ sơ và đã giải quyết 495.983 hồ sơ, trong đó có 99,79% hồ sơ được  
giải quyết đúng hạn (tháng 8/2021) [11]. Tuy nhiên, là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc với  
68% người dân sống ở nông thôn và khoảng 30% người dân là người dân tộc thiểu số [12], có thể  
nói rào cản lớn nhất đối với việc sử dụng hệ thống DVCTT nói riêng và xây dựng chính phủ điện  
tử tại địa phương nói chung đó là người dân chưa thực sự hiểu và mạnh dạn ứng dụng công nghệ  
thông tin khi cần được giải quyết thủ tục hành chính. Theo Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh  
Thái Nguyên, nguyên nhân bước đầu được xác định là do thói quen của người dân là phải đến cơ  
quan nhà nước khi có nhu cầu giải quyết thủ tục hành chính, tiếp đến là người dân sợ mất giấy tờ  
gốc khi sử dụng dịch vụ bưu chính; ngại tìm hiểu, khai thác các quy trình gửi hồ sơ trên mạng [13].  
Hình 1. Giao diện Cổng dịch vụ công trực tuyến tỉnh Thái Nguyên [11]  
Vì vậy, muốn nâng cao hiệu quả của việc sử dụng hệ thống DCVTT cần phải quan tâm đến  
nhận thức và thái độ của người dân đối với hệ thống DVCTT, từ đó đưa ra các giải pháp tăng  
cường nhận thức và thái độ của người dân, khuyến khích người dân chủ động hơn trong việc sử  
dụng DVCTT để tiết kiệm thời gian, chi phí, nâng cao hiệu quả quản lý dịch vụ công, hướng đến  
xây dựng chính phủ điện tử tại tỉnh Thái Nguyên.  
2. Phương pháp nghiên cứu  
2.1. Thông tin thứ cấp  
Các thông tin thứ cấp về hệ thống DVCTT tại tỉnh Thái Nguyên được thu thập từ các báo cáo  
liên quan của Bộ Thông tin và Truyền thông, Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Thái Nguyên,  
Trung tâm Hành chính công tỉnh Thái Nguyên và các sở, ban ngành liên quan. Ngoài ra, thông tin  
thứ cấp cũng được thu thập từ trang thông tin chính thức của các sở, ban ngành và các kết quả đã  
được công bố của các nghiên cứu liên quan đến dịch vụ công, dịch vụ công trực tuyến và chính  
phủ điện tử.  
2.2. Một số lý thuyết  
Nghiên cứu tham khảo một số lý thuyết được sử dụng phổ biến về ứng dụng công nghệ/hệ  
thống thông tin để xác định một số yếu tố có thể ảnh hưởng đến việc sử dụng hệ thống DVCTT,  
cụ thể là Lý thuyết Hành vi hoạch định (Theory of Planned Behavior – TPB) [14], Mô hình Chấp  
nhận công nghệ (Technology Acceptance Model - TAM) [15], Lý thuyết Khuếch tán đổi mới  
(Diffusion of Innovation Theory – DOI) [16], Mô hình Sử dụng máy tính (Model of Personal  
Computer Utilization – MPCU) [17], Lý thuyết nhận thức xã hội (Social Cognitive Theory –  
SCT) [18].  
156  
226(12): 154 - 163  
TNU Journal of Science and Technology  
Bảng 1. Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng công nghệ và hệ thống thông tin  
Lý thuyết/Mô hình Các yếu tố ảnh hưởng  
STT  
1
2
Lý thuyết Hành vi hoạch định Chuẩn chủ quan, Kiểm soát hành vi, Thái độ sử dụng [14]  
Mô hình Chấp nhận công nghệ Sự hữu ích cảm nhận, Sự dễ sử dụng cảm nhận, Thái độ sử dụng [15]  
Mức độ dễ nhận biết, Sự thuận lợi tương đối, Sự phù hợp, Mức độ dễ  
3
Lý thuyết Khuếch tán đổi mới dàng thử nghiệm, Sự dễ sử dụng, Kênh thông tin, Ý kiến người dẫn  
dắt, Yếu tố nhân khẩu học [16]  
Yếu tố xã hội, Mức độ phức tạp, Sự phù hợp với công việc, Hiệu quả  
lâu dài, Điều kiện hỗ trợ [17]  
4
5
Mô hình Sử dụng máy tính  
Sự tự tin vào năng lực bản thân, Kì vọng kết quả, Sự ưa thích, Hỗ trợ  
Lý thuyết Nhận thức xã hội  
xã hội, Cản trở xã hội [18]  
(Nguồn: Tác giả tổng hợp năm 2021) [14]-[18]  
2.3. Thông tin sơ cấp  
Sau khi tổng hợp một số yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng hệ thống DVCTT, nghiên cứu sử  
dụng phương pháp phỏng vấn sâu bán cấu trúc đối với người dân/đại diện doanh nghiệp để thu  
hẹp phạm vi các yếu tố ảnh hưởng tại bối cảnh tỉnh Thái Nguyên và tìm hiểu những thông tin sâu  
định tính về việc sử dụng hệ thống dịch vụ công trực tuyến. Phương pháp phỏng vấn sâu bán cấu  
trúc được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu xã hội và đặc biệt là nghiên cứu về dịch vụ công,  
chính phủ điện tử [14]. Nghiên cứu tiến hành phỏng vấn sâu bán cấu trúc áp dụng phương pháp  
chọn mẫu có chủ đích với 50 người dân/đại diện doanh nghiệp về việc sử dụng DVCTT. Nhóm  
nghiên cứu tiếp cận người dân/doanh nghiệp, miêu tả khái quát về nghiên cứu, hướng dẫn người  
được phỏng vấn điền các thông tin xác nhận tham gia phỏng vấn và tiến hành phỏng vấn. Các  
bước này đảm bảo vấn đề đạo đức của nghiên cứu. Các cuộc phỏng vấn được ghi lại bằng hai  
hình thức là (1) Ghi chép và (2) Sử dụng máy ghi âm. Nội dung phỏng vấn sau đó được gỡ băng,  
tổng hợp và phân tích bằng phương pháp phân tích theo chủ đề (Thematic analysis). Đây là  
phương pháp phân tích được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu liên quan.  
Dựa trên kết quả phỏng vấn và kết quả của các nghiên cứu trước đó [6]-[8], [14]-[19], một mô  
hình nghiên cứu được đề xuất để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng và mối quan hệ giữa các yếu tố  
ảnh hưởng đến việc sử dụng DCVTT tại tỉnh Thái Nguyên. Thang đo được đề xuất để đo lường  
các biến trong mô hình nghiên cứu, xây dựng bảng hỏi và tiến hành nghiên cứu sơ bộ (Pilot  
study) để đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA).  
Cỡ mẫu 50 là phù hợp để sử dụng phương pháp EFA trong nghiên cứu sơ bộ [20].  
3. Kết quả và bàn luận  
3.1. Kết quả sử dụng dịch vụ công trực tuyến tại tỉnh Thái Nguyên  
Hình 2. Thống kê tình hình xử lý hồ sơ 12 tháng gần nhất (9/2020 – 8/2021)  
trên Cổng dịch vụ công trực tuyến tỉnh Thái Nguyên [11]  
Từ hình 2 có thể thấy, trong 12 tháng gần nhất từ tháng 9/2020 đến tháng 8/2021, tỉ lệ hồ sơ xử  
lý đúng hạn tăng và tiệm cận 100% (99,97%), cho thấy hiệu quả xử lý hồ sơ của hệ thống DVCTT  
157  
226(12): 154 - 163  
TNU Journal of Science and Technology  
là rất cao. Tính đến tháng 2/2021, DCVTT của tỉnh đã được triển khai đồng bộ, thống nhất, liên  
thông đến 100% cơ quan Nhà nước từ cấp tỉnh đến cấp huyện, xã [13]. Cổng dịch vụ công của tỉnh  
cung cấp trực tuyến 100% thủ tục hành chính công từ mức độ 2 đến mức độ 4 với tỷ lệ giải quyết  
hồ sơ đúng hạn đạt hơn 99% [13]. Tuy nhiên, người dân chưa hình thành thói quen sử dụng dịch vụ  
công trực tuyến khiến tỷ lệ hồ sơ phát sinh trực tuyến mức độ 3, 4 của tỉnh chưa cao (trong năm  
2020 mới có gần 600 thủ tục hành được giải quyết ở mức độ 3, mức độ 4) [13].  
3.2. Kết quả phỏng vấn  
Bảng 2. Đặc điểm nhân khẩu học của người được phỏng vấn  
Đặc điểm  
Độ tuổi  
Phân loại  
18 – 30  
31 – 40  
41 – 50  
>50  
Số lượng  
13  
Tỷ lệ (%)  
26  
30  
24  
20  
64  
36  
20  
36  
44  
56  
8
15  
12  
10  
32  
18  
10  
18  
22  
Nam  
Nữ  
Giới tính  
Phổ thông  
Đại học  
Sau đại học  
TP. Thái Nguyên  
TP. Sông Công  
Huyện/Thị  
Trình độ học vấn  
28  
4
18  
Địa phương  
36  
(Nguồn: Tác giả tổng hợp năm 2021)  
Bảng 2 thể hiện một số đặc điểm nhân khẩu học của người được phỏng vấn, theo đó có 50  
người dân/đại diện doanh nghiệp được phỏng vấn về việc sử dụng hệ thống DVCTT, trong đó độ  
tuổi phân bố là 18 – 30 (26%), 31 – 40 (30%), 41 – 50 (24%), trên 50 (20%); về giới tính, 64%  
người được phỏng vấn là nam và 36% người được phỏng vấn là nữ; về trình độ học vấn, 20%  
người được phỏng vấn có trình độ phổ thông, 36% có trình độ đại học, 44% có trình độ sau đại  
học; về địa phương, 64% người được phỏng vấn cư trú tại thành phố (Thái Nguyên, Sông Công)  
và 36% cư trú tại các huyện, thị của tỉnh Thái Nguyên.  
Một số thông tin sâu trong quá trình phỏng vấn như sau:  
Anh Trần Văn A (TP. Thái Nguyên – người dân) cho biết: “...Ở cơ quan tôi, lãnh đạo tìm  
hiểu và nắm bắt được các thông tin về hệ thống DVCTT, tại các cuộc họp cơ quan, lãnh đạo  
động viên và khuyến khích cán bộ trong cơ quan thử sử dụng DVCTT để thấy được sự thuận tiện  
của dịch vụ này…”  
Bác Nguyễn Văn B (huyện Phú Bình – người dân) cho biết: “…Người dân chúng tôi ở tại địa  
phương cũng chưa nắm được thông tin về DVCTT nên chưa sử dụng lần nào, tôi lại cao tuổi nên  
những vấn đề về sử dụng công nghệ thông tin tôi không biết và cũng không dám sử dụng, sợ làm  
sai hoặc mất giấy tờ…”  
Chị Trần Thị C (TP. Sông Công – đại diện doanh nghiệp) cho biết: “…Doanh nghiệp chúng  
tôi cũng đã nắm được thông tin về DVCTT và đã sử dụng dịch vụ này cho một số hoạt động, tuy  
nhiên không phải tất cả, chúng tôi nhận thấy ở một số thủ tục nếu thực hiện giao dịch bằng  
DVCTT vẫn còn nhiều bất cập, đến tận nơi sẽ hiệu quả hơn…”.  
Như vậy có thể thấy rằng, việc sử dụng DVCTT tuy đã được người dân biết và áp dụng, tuy  
nhiên, thông tin về DVCTT, chất lượng về DVCTT theo cảm nhận của người dân còn nhiều bất  
cập, dẫn đến việc người dân chưa sử dụng rộng rãi và triệt để DVCTT, điều này đòi hỏi phải có  
các nghiên cứu tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả của việc sử dụng DVCTT.  
3.3. Mô hình nghiên cứu đề xuất  
Dựa trên kết quả phỏng vấn ban đầu với 50 người dân/đại diện doanh nghiệp về việc sử dụng  
hệ thống DVCTT tại tỉnh Thái Nguyên, kết hợp đối chiếu với các nghiên cứu liên quan [6]-[8],  
158  
226(12): 154 - 163  
TNU Journal of Science and Technology  
[14]-[19], [21]-[24], có thể nhận thấy một số yếu tố ban đầu có thể ảnh hưởng đến việc sử dụng  
DVCTT của người dân trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Nhóm tác giả đề xuất một mô hình nghiên  
cứu (Hình 3) về Ý định sử dụng DVCTT (biến phụ thuộc), với tác động của các yếu tố ảnh hưởng  
về Sự hữu ích cảm nhận, Sự dễ sử dụng cảm nhận, Mức độ bảo mật, Sự tự tin vào năng lực bản  
thân, Ý kiến người đứng đầu (biến độc lập), Thái độ sử dụng (biến trung gian), Kênh thông tin và  
Điều kiện hỗ trợ (biến điều tiết). Mô hình nghiên cứu đề xuất các Biến kiểm soát bao gồm: Độ  
tuổi, Giới tính, Trình độ học vấn, Địa phương (thành phố/huyện, thị).  
Mô hình nghiên cứu bao gồm 9 biến nghiên cứu (không tính các biến kiểm soát), và 12 giả  
thuyết nghiên cứu đề xuất mối quan hệ giữa các biến trong mô hình. Nội dung cụ thể của các giả  
thuyết được trình bày tại Bảng 3. Theo đó, các mối quan hệ được biểu diễn thông qua các giả  
thuyết đều là thuận chiều.  
Hình 3. Mô hình nghiên cứu đề xuất  
Bảng 3. Tổng hợp Giả thuyết của Mô hình nghiên cứu đề xuất  
Giả  
thuyết  
Nội dung Giả thuyết  
Chiều của  
Giả thuyết  
Thuận chiều  
Thuận chiều  
Thuận chiều  
Thuận chiều  
Thuận chiều  
H1 Sự hữu ích cảm nhận ảnh hưởng đến Thái độ sử dụng DVCTT  
H2 Sự dễ sử dụng cảm nhận ảnh hưởng đến Thái độ sử dụng DVCTT  
H3 Mức độ bảo mật ảnh hưởng đến Thái độ sử dụng DVCTT  
H4 Sự tự tin vào năng lực bản thân ảnh hưởng đến Thái độ sử dụng DVCTT  
H5 Ý kiến người đứng đầu ảnh hưởng đến Thái độ sử dụng DVCTT  
H6a Kênh thông tin điều tiết quan hệ giữa Sự hữu ích cảm nhận và Thái độ sử dụng DVCTT Thuận chiều  
H6b Kênh thông tin điều tiết quan hệ giữa Sự dễ sử dụng cảm nhận và Thái độ sử dụng DVCTT Thuận chiều  
H6c Kênh thông tin điều tiết quan hệ giữa Mức độ bảo mật và Thái độ sử dụng DVCTT  
Thuận chiều  
Điều kiện hỗ trợ điều tiết quan hệ giữa Sự tự tin vào năng lực bản thân và Thái độ sử  
dụng DVCTT  
H7a  
Thuận chiều  
H7b Điều kiện hỗ trợ điều tiết quan hệ giữa Ý kiến người đứng đầu và Thái độ sử dụng DVCTT Thuận chiều  
H8 Thái độ sử dụng DVCTT ảnh hưởng đến Ý định sử dụng DVCTT  
H9 Điều kiện hỗ trợ điều tiết quan hệ giữa Thái độ và Ý định sử dụng DVCTT  
Thuận chiều  
Thuận chiều  
(Nguồn: Tổng hợp của Tác giả năm 2021)  
3.4. Thang đo đề xuất  
Bảng 4 trình bày định nghĩa và thang đo đề xuất của các biến nghiên cứu. Các định nghĩa và  
thang đo này được tham khảo và điều chỉnh từ các nghiên cứu liên quan trước đó và được tác giả  
tự xây dựng (đối với thang đo của biến Kênh thông tin). Việc đề xuất các thang đo này cung cấp  
phương pháp đo lường các biến để giúp các nghiên cứu tương lai thực hiện việc đo lường và ước  
lượng mối quan hệ giữa các biến như được đề xuất trong mô hình nghiên cứu.  
159  
226(12): 154 - 163  
TNU Journal of Science and Technology  
Bảng 4. Thang đo đề xuất  
Nguồn  
tham khảo  
Biến  
Định nghĩa  
Đo lường  
(PU1) Sử dụng DVCTT giúp thực hiện công việc nhanh hơn.  
(PU2) Sử dụng DVCTT giúp giảm chi phí đi lại.  
Mức độ người sử dụng  
Sự hữu ích cảm nhận về việc sử dụng  
cảm nhận (PU) DVCTT sẽ làm tăng hiệu  
quả công việc  
(PU3) Sử dụng DVCTT giúp giảm thời gian đi lại và xếp hàng.  
(PU4) Sử dụng DVCTT giúp thực hiện các thủ tục hành  
chính linh hoạt và không bị giới hạn bởi giờ hành chính.  
(PEOU1) Tôi có thể dễ dàng truy cập hệ thống DVCTT.  
(PEOU2) Tôi có thể dễ dàng tìm kiếm thông tin cần thiết  
[15]  
Sự dễ sử Mức độ dễ dàng mà người từ hệ thống DVCTT.  
dụng cảm sử dụng cảm nhận về việc (PEOU3) Tôi có thể dễ dàng hoàn thành giao dịch thông  
nhận (PEOU) sử dụng hệ thống DVCTT qua hệ thống DVCTT.  
(PEOU4) Cấu trúc và cách tổ chức của hệ thống DVCTT  
dễ theo dõi.  
[15]  
[21]  
(PS1) Hệ thống DVCTT là một công cụ an toàn để nhập  
các thông tin cá nhân.  
(PS2) Tôi cảm thấy nhập các thông tin cá nhân trên hệ  
thống DVCTT là tuyệt đối an toàn.  
(PS3) Nhìn chung, hệ thống DVCTT là nơi an toàn để  
truyền đạt thông tin.  
Mức độ mà người sử dụng  
DVCTT tin rằng chia sẻ  
các thông tin nhạy cảm/  
thông tin cá nhân trên hệ  
thống DVCTT là an toàn  
Mức độ bảo  
mật (PS)  
(CSE1) Tôi tự tin vào khả năng của bản thân trong việc sử  
Tự tin vào Cảm nhận của người sử dụng DVCTT.  
năng lực bản dụng về khả năng mà bản (CSE2) Tôi tự tin vào khả năng của bản thân trong việc  
thân (CSE) thân có thể thực hiện tốt khắc phục sự cố khi sử dụng DVCTT.  
công việc sử dụng DVCTT (CSE3) Tôi tự tin vào khả năng sử dụng DVCTT mà mình  
chưa từng sử dụng trước đó.  
[18]  
[22]  
Suy nghĩ/cảm nhận của (LO1) Người đứng đầu hiểu biết về việc sử dụng DVCTT.  
những người đứng đầu cơ (LO2) Người đứng đầu thường xuyên chia sẻ trải nghiệm  
đứng đầu (LO)  
Ý kiến người  
quan/nhóm/nơi cư trú về việc tích cực về sử dụng DVCTT.  
sử dụng hệ thống DVCTT (LO3) Người đứng đầu khuyến khích sử dụng DVCTT.  
(COC1) Tôi được tiếp cận thông tin về việc sử dụng  
Mức độ tiếp cận thông tin DVCTT qua truyền hình.  
về việc sử dụng DVCTT (COC2) Tôi được tiếp cận thông tin về việc sử dụng Tác giả  
thông qua các phương tiện DVCTT qua các tài liệu được phổ biến tại cơ quan.  
Kênh thông  
tin (COC)  
đề xuất  
truyền thông  
(COC3) Tôi được tiếp cận thông tin về việc sử dụng  
DVCTT qua các tài liệu được phổ biến tại nơi cư trú.  
(FC1) Các chính sách của địa phương/cơ quan thúc đẩy  
việc sử dụng DVCTT.  
(FC2) Có các quy định pháp lý điều chỉnh và bảo vệ việc  
sử dụng DVCTT.  
Loại hình và mức độ hỗ trợ  
sẵn có cho người sử dụng  
DVCTT  
Điều kiện hỗ  
trợ (FC)  
[17]  
(FC3) Hệ thống DVCTT có sẵn các công cụ hộ trợ người  
sử dụng.  
(FC4) Hệ thống DVCTT có sẵn các hướng dẫn chi tiết  
(ATT1) Việc sử dụng DVCTT sẽ mang đến cho tôi nhiều  
Thái độ  
(ATT)  
Thái độ của người sử dụng thuận lợi hơn là bất lợi.  
đối với việc sử dụng DVCTT (ATT2) Việc sử dụng DVCTT sẽ làm cho tôi thấy hài lòng.  
(ATT3) Tôi ủng hộ việc sử dụng DVCTT.  
[14]  
[24]  
(INT1) Trong tương lai tôi sẽ không ngại ngần sử dụng  
DVCTT.  
(INT2) Trong tương lai tôi sẽ ưu tiên sử dụng DVCTT khi  
cần giao dịch.  
Ý định sử Xu hướng sử dụng  
dụng (INT) DVCTT trong tương lai  
(INT3) Trong tương lai tôi sẽ tăng cường sử dụng DVCTT.  
Từ thang đo đề xuất, bảng hỏi khảo sát được xây dựng. Nghiên cứu tiến hành khảo sát 50  
người dân/đại diện doanh nghiệp về việc sử dụng DVCTT, đây là nghiên cứu sơ bộ nhằm đánh  
giá độ tin cậy của thang đo. Kết quả phân tích cho thấy hệ số KMO = 0,746 (0,5 < KMO < 1),  
160  
226(12): 154 - 163  
TNU Journal of Science and Technology  
kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê (sig < 0,05), các nhân tố đều có Trị số Eigenvalue > 1 và  
Phần trăm phương sai trích > 50%, đảm bảo đủ điều kiện để thực hiện phân tích EFA. Kết quả  
phân tích EFA được thể hiện tại Bảng 5. Theo đó, hệ số Cronbach alpha của các nhân tố đều lớn  
hơn 0,75, đảm bảo độ tin cậy của thang đo trong phân tích nhân tố với kích thước mẫu là 50 [20].  
Như vây, thang đo đề xuất phù hợp và có thể được sử dụng để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến  
việc sử dụng DVCTT.  
Bảng 5. Kết quả phân tích nhân tố EFA  
Hệ số  
Biến quan sát  
1
2
3
4
5
6
7
8
9
PU1  
PU2  
PU3  
.758  
.776  
.752  
.756  
PU4  
PEOU1  
PEOU2  
PEOU3  
PEOU4  
PS1  
.851  
.818  
.823  
.807  
.793  
.753  
.762  
PS2  
PS3  
CSE1  
CSE2  
CSE3  
LO1  
LO2  
LO3  
.787  
.750  
.791  
.768  
.780  
.781  
COC1  
COC2  
COC3  
FC1  
FC2  
FC3  
.863  
.837  
.844  
.779  
.764  
.772  
.778  
FC4  
ATT1  
ATT2  
ATT3  
INT1  
INT2  
INT3  
.812  
.887  
.858  
.786  
.773  
.789  
4. Kết luận  
Tại tỉnh Thái Nguyên, hệ thống DVCTT đã được xây dựng, giới thiệu, đưa vào sử dụng và đã  
đạt được một số thành quả nhất định. Tuy nhiên, nhiều người dân trên địa bàn tỉnh còn chưa nắm  
được thông tin và e ngại về việc sử dụng DVCTT. Nghiên cứu đã thu thập một số thông tin ban  
đầu về kết quả triển khai DVCTT tại Thái Nguyên, thực hiện một số phỏng vấn chuyên sâu với  
người dân địa phương để tìm hiểu về các vấn đề người dân lo ngại trong quá trình sử dụng  
DVCTT. Nghiên cứu đề xuất một mô hình biểu diễn mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng và ý  
định sử dụng DVCTT của người dân và bộ thang đo của các biến nghiên cứu trong mô hình.  
Nghiên cứu sơ bộ được thực hiện với kết quả cho thấy thang đo đề xuất là phù hợp. Các nghiên  
cứu tương lai có thể tham khảo các thông tin được trình bày trong nghiên cứu này để tiếp tục  
đánh giá định tính và định lượng về hoạt động sử dụng DVCTT của người dân trên địa bàn tỉnh  
Thái Nguyên, từ đó đưa ra các kết quả đánh giá chuyên sâu và các giải pháp tăng cường hiệu quả  
sử dụng DVCTT tại tỉnh Thái Nguyên.  
161  
226(12): 154 - 163  
TNU Journal of Science and Technology  
TÀI LIỆU THAM KHẢO/ REFERENCES  
[1] C. Matt, T. Hess, and A. Benlian, “Digital transformation strategies,” Business and Information  
Systems Engineering, vol. 57, no. 5, pp. 339-343, 2015.  
[2] Vietnam Ministry of Information and Communication, “Handbook for Digital Transformation,” (in  
Vietnamese), 2020. [Online], Available: https://dx.mic.gov.vn/doc-truc-tuyen/cam-nang-chuyen-doi-  
so/pdf/cam-nang-chuyen-doi-so.pdf. [Accessed Aug. 15, 2021].  
[3] K. Sandkuhl and H. Lehmann, “Digital transformation in higher education – The role of enterprise  
architectures and portals,” in Digital Enterprise Computing, A. Rossmann and A. Zimmermann, eds.,  
Gesellschaft  
für  
Informatik,  
Bonn,  
2017,  
pp.  
49-60.  
[Online].  
Available:  
[4] P. T. Nguyen, “Conception and practice of public service in Vietnam,” (in Vietnamese), Journal of  
Legislative Studies, vol. 9, pp. 23-30, 2003. [Online]. Available: http://www.lapphap.vn/Pages/tintuc/  
tinchitiet.aspx?tintucid=209062. [Accessed Aug. 14, 2021].  
[5] Vietnam Government, “Decree No. 43/2011/ND-CP dated June 13, 2011 of the Government on  
provision of online information and public services on websites or web portals of state agencies,”  
=1&mode=detail&document_id=101050. [Accessed Aug. 14, 2021].  
[6] G. Hu, W. Zhong, and S. Mei, “Electronic public service (EPS) and its implementation in Chinese local  
governments,” International Journal of Electronic Governance, vol. 1, no. 2, pp. 118-138, 2008.  
[7] D. M. Aritonang, “The impact of e-government system on public service quality in  
Indonesia,” European Scientific Journal, vol. 13, no. 35, pp. 99-111, 2017.  
[8] J. Becker, B. Niehaves, P. Bergener, and M. Räckers, “Inclusive Electronic Public Service Delivery–A  
Quantitative Analysis,” Electronic Markets, vol. 18, no. 4, 315-323, 2008.  
[9] Vietnam Government, “Resolution No. 17/NQ-CP dated March 7, 2019 of the Government regarding  
certain key tasks and measures of development of the Electronic Government for the Period 2019 –  
2020 with vision towards 2025”, 2019. [Online]. Available: https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-  
[10] H. Gia and A. Hoang, “National public service portal: Effective channel for administrative formalities  
modernization,” (in Vietnamese). [Online]. Available: http://egov.chinhphu.vn/cong-dich-vu-cong-quoc-  
[11] Thai Nguyen province, “Thai Nguyen province e-public service portal,” (in Vietnamese). [Online].  
Available: https://dichvucong.thainguyen.gov.vn/. [Accessed Aug. 14, 2021].  
[12] Thai Nguyen News, “Introduction about Thai Nguyen province,” (in Vietnamese). [Online].  
Available:  
277235-154.html. [Accessed Aug. 14, 2021].  
[13] Thai Nguyen News, “Digital citizens for succesgul digital transformation,” (in Vietnamese). [Online].  
[Accessed Aug. 14, 2021].  
[14] I. Ajzen, “The theory of planned behavior,” Organizational behavior and human decision processes,  
vol. 50, no. 2, pp. 179-211, 1991.  
[15] F. D. Davis, “Perceived usefulness, perceived ease of use, and user acceptance of information  
technology,” MIS Quarterly, vol. 4, no. 4, pp. 319-340, 1989.  
[16] E. M. Rogers, “A prospective and retrospective look at the diffusion model,” Journal of Health  
Communication, vol. 9, no. 1, pp. 13-19, 2004.  
[17] R. L. Thompson, C. A. Higgins, and J. M. Howell, “Personal computing: Toward a conceptual model  
of utilization,” MIS Quarterly, vol. 15, no. 1, pp. 125-143, 1991.  
[18] A. Bandura, “The assessment and predictive generality of self-percepts of efficacy,” Journal of  
Behavior Therapy and Experimental Psychiatry, vol. 13, no. 3, pp. 195-199, 1982.  
[19] M. Al-Shboul, O. Rababah, R. Ghnemat, and S. Al-Saqqa, “Challenges and factors affecting the  
implementation of e-government in Jordan,” Journal of Software Engineering and Applications, vol. 7,  
no. 13, Article 1111, 2014.  
[20] J. F. Hair, W. C. Black, B. J. Babin, and R. E. Anderson, Multivariate Data Analysis: A Global  
Perspective. 7th ed. Upper Saddle River: Prentice Hall, 2009.  
162  
226(12): 154 - 163  
TNU Journal of Science and Technology  
[21] W. D. Salisbury, R. A. Pearson, A. W. Pearson, and D. W. Miller, “Perceived security and World Wide  
Web purchase intention,” Industrial Management and Data Systems, vol. 101, no. 4, pp. 165-177, 2001.  
[22] D. R. Compeau and C. A. Higgins, “Application of social cognitive theory to training for computer  
skills,” Information Systems Research, vol. 6, no. 2, pp. 118-143, 1995.  
[23] S. Teng, K. W. Khong, W. W. Goh, and A. Y. L. Chong, “Examining the antecedents of persuasive  
eWOM messages in social media,” Online Information Review, vol. 38, no. 6, pp. 746-768, 2014.  
[24] J. Lu, C. S. Yu, and C. Liu, “Facilitating conditions, wireless trust and adoption intention,” Journal of  
Computer Information Systems, vol. 46, no. 1, pp. 17-24, 2005.  
163  
pdf 10 trang Thùy Anh 11780 Free
Bạn đang xem tài liệu "Chuyển đổi số trong dịch vụ công tại tỉnh Thái Nguyên: Đánh giá ban đầu về việc sử dụng dịch vụ công trực tuyến của người dân", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfchuyen_doi_so_trong_dich_vu_cong_tai_tinh_thai_nguyen_danh_g.pdf