Tự chủ trong các đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ ở Việt Nam

Khoa học Xã hội và Nhân văn  
Tự chủ trong các đơn vị sự nghiệp  
khoa học và công nghệ ở Việt Nam  
Nguyễn Đăng Dũng*  
Viện Sinh thái và Bảo vệ công trình  
Ngày nhận bài 22/2/2021; ngày chuyển phản biện 26/2/2021; ngày nhận phản biện 2/4/2021; ngày chấp nhận đăng 7/4/2021  
Tóm tắt:  
Tự chủ là trạng thái thể hiện năng lực tự ra quyết định của một tổ chức. Tự chủ được tìm hiểu ở nhiều khía cạnh,  
nội dung khác nhau. Trong phạm vi của bài viết này, tác giả đề cập vấn đề tự chủ của tổ chức qua các nội dung: quản  
lý, chính sách, tổ chức bộ máy và tài chính. Bằng việc nghiên cứu định lượng với 137 phiếu khảo sát tới lãnh đạo,  
cán bộ quản lý và nhân viên đang làm việc tại các đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ (KH&CN), bài viết làm  
rõ thực trạng, mức độ tự chủ của các đơn vị này, trên cơ sở đó đưa ra một số khuyến nghị nhằm góp phần nâng cao  
tính tự chủ của các đơn vị sự nghiệp KH&CN ở nước ta.  
Từ khóa: đơn vị sự nghiệp, khoa học và công nghệ, tự chủ tổ chức.  
Chỉ số phân loại: 5.13  
Đặt vấn đề  
Organizational autonomy  
Maggetti và cs (2014) [1] cho rằng, tự chủ là khả năng biến  
sở thích thành hành động theo thẩm quyền của chính họ mà  
in public science and technology  
không có ràng buộc bên ngoài. Khái niệm tự chủ của Christensen  
non - business units in Vietnam  
(2001) [2] liên quan đến sự suy giảm mức độ kiểm soát của  
Dang Dung Nguyen*  
đơn vị chủ quản đến các hoạt động của các tổ chức thành viên.  
Institute of Ecology and Works Protection  
Verhoest và cs (2004) [3] đưa ra khái niệm tự chủ toàn diện hơn  
Received 22 February 2021; accepted 7 April 2021  
từ hai quan điểm: nâng cao năng lực ra quyết định của cơ quan  
và việc miễn trừ các ràng buộc của cấp trên đối với năng lực ra  
quyết định của cơ quan này. Nhóm tác giả phân tích các khía  
cạnh khác nhau của quyền tự chủ, bao gồm quản lý, chính sách,  
cơ cấu, tài chính, pháp lý và sự can thiệp [3]. Qua đó, có thể thấy  
Abstract:  
Organizational autonomy is a state that demonstrates  
an organization’s ability to make decisions on its own.  
Organizational autonomy is explored in many different  
aspects and contents. In the scope of this article, the author rằng, tự chủ được định nghĩa là năng lực tự ra quyết định về các  
mentions organizational autonomy through the following  
contents: management autonomy, policy autonomy,  
structural autonomy, and financial autonomy. By doing  
quantitative research with 137 questionnaires to leaders,  
managers, and employees working in public science and  
technology non - business units, the article aims to clarify  
the assessment of reality status and degree of autonomy  
of public science and technology non - business units,  
thereby giving several recommendations to contribute to  
improving the autonomy of these units in Vietnam.  
hoạt động của tổ chức mà không phụ thuộc vào bất kỳ một cơ  
quan nào khác, kể cả nhà nước.  
Ở Việt Nam, các khía cạnh của cơ chế tự chủ được thể hiện  
cụ thể trong các thông tư, nghị định có liên quan. Nghị định  
16/2015/NĐ-CP [4] có quy định rõ các khía cạnh của tự chủ  
trong các đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm: i) Tự chủ về thực  
hiện nhiệm vụ; ii) Tự chủ về bộ máy; iii) Tự chủ về nhân sự; iv)  
Tự chủ về tài chính. Trong bài viết này, tác giả tiếp cận nội hàm  
của tự chủ ở 4 khía cạnh: quản lý, chính sách, tổ chức bộ máy  
và tài chính. Trong đó, tự chủ quản lý là năng lực kiểm soát các  
nguồn lực trong tổ chức về các vấn đề nhân sự, tài chính, dịch vụ  
của tổ chức. Tự chủ chính sách thể hiện mức độ tổ chức có thể  
đưa ra quyết định về việc lựa chọn các nhóm mục tiêu cho chính  
Keywords: non-business units, organizational autonomy,  
science and technology.  
Classification number: 5.13  
*Email: dangdungv[email protected]  
63(4) 4.2021  
60  
Khoa học Xã hội và Nhân văn  
Bảng 1. Thống kê mẫu khảo sát theo đặc điểm của đối tượng nghiên cứu.  
sách phát triển của tổ chức trong mối quan hệ ràng buộc về pháp  
lý với cơ quan quản lý. Đồng thời, nó cũng thể hiện mức độ tổ  
chức có thể đưa ra các quyết định về việc lựa chọn các công cụ  
thực hiện các chính sách của tổ chức. Tự chủ tổ chức bộ máy là  
năng lực quyết định về cơ cấu bộ máy quản lý của tổ chức, xây  
dựng phương án sắp xếp, kiện toàn cơ cấu tổ chức của đơn vị.  
Tự chủ tài chính được xem là mức độ độc lập với ngân sách nhà  
nước, không phụ thuộc hoặc không phụ thuộc quá nhiều vào các  
nguồn tài chính từ ngân sách nhà nước.  
Tiêu chí phân loại  
Số lượng Tỷ lệ (%)  
Lãnh đạo đơn vị  
75  
3,82  
Vị trí công tác  
Quản lý phòng/ban 679  
34,59  
61,59  
18,09  
42,38  
39,53  
44,63  
55,37  
Nhân viên  
Dưới 5 năm  
6-10 năm  
Trên 10 năm  
Nam  
1209  
355  
832  
776  
876  
1087  
Thời gian làm việc tại  
đơn vị  
Đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập có vai trò quan trọng  
trong phát triển KH&CN nói riêng, kinh tế - xã hội nói chung.  
Các đơn vị sự nghiệp KH&CN có nhiệm vụ nghiên cứu khoa  
học, ứng dụng, triển khai thực nghiệm, sản xuất thử nghiệm,  
phát triển công nghệ, sản xuất, kinh doanh sản phẩm là kết quả  
nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, dịch vụ KH&CN,  
được thành lập và đăng ký hoạt động theo quy định của pháp  
luật. Những thành tựu đạt được của các đơn vị KH&CN có ý  
nghĩa to lớn và có giá trị thực tiễn cao. Trong những năm qua,  
các đơn vị sự nghiệp KH&CN đã tổ chức triển khai các cơ chế,  
chính sách, chủ trương thực hiện tự chủ, xã hội hóa đơn vị sự  
nghiệp công lập. Việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm  
đối với các đơn vị sự nghiệp công lập đã tạo điều kiện thuận lợi  
cho các đơn vị chủ động trong quản lý, tổ chức bộ máy và hoạt  
động; sử dụng có hiệu quả nguồn kinh phí được giao. Tuy nhiên,  
bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trình thực hiện cũng  
còn gặp một số tồn tại, vướng mắc phát sinh như: một số đơn  
vị còn bị động, chưa phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm;  
phần lớn nguồn thu của các đơn vị sự nghiệp KH&CN vẫn xuất  
phát từ việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN do các cấp có thẩm  
quyền giao, nguồn thu dịch vụ chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ. Các đơn  
vị sự nghiệp KH&CN công lập thực hiện hoạt động nghiên cứu  
và ứng dụng còn thiếu năng lực tiếp cận thị trường và nghiên cứu  
phát triển các hoạt động dịch vụ có thu…  
Giới tính  
Nữ  
Tổng số người trả lời bảng hỏi  
Tổng số đơn vị khảo sát: 137  
1963  
100  
Nguồn: kết quả khảo sát của tác giả.  
Qua việc tìm hiểu tổng quan các công trình nghiên cứu trước  
cũng như cơ sở lý thuyết, tác giả đã tổng hợp các thước đo cho  
các biến số. Các thước đo này đã được kiểm định và sử dụng  
trong các nghiên cứu trước đây. Thang đo của các biến số chủ  
yếu được tác giả kế thừa và phát triển từ nghiên cứu của Verhoest  
và cs (2004) [3]. Ngoài ra, tác giả cũng sử dụng thang đo của Van  
De Walle (2018) [5], Bram Verschuere (2007) [6]. Để phù hợp  
với bối cảnh nghiên cứu tại Việt Nam cũng như các quy định  
hiện hành của Nhà nước, tác giả có tham khảo quy định tại Nghị  
định số 16/2015/NĐ-CP [4], Nghị định số 54/2016/NĐ-CP [7].  
Hệ thống các biến số trong nghiên cứu này được đo lường  
thông qua các thước đo đã được sử dụng từ các nghiên cứu  
trước. Đối với các biến độc lập, phương pháp Likert được sử  
dụng, trong đó các biến quan sát sẽ được hỏi đối tượng được  
điều tra và trả lời trên thang điểm 5 theo nghiên cứu của Verhoest  
và cs (2004) [3], bao gồm từ (5) tự mình đưa ra các quyết định,  
cơ quan quản lý chỉ tham gia một chút, (4) tự mình đưa ra các  
quyết định, đã tham khảo ý kiến của cơ quan quản lý, (3) tự đưa  
ra các quyết định trong một khung các quy tắc và điều kiện do  
cơ quan quản lý đặt ra, (2) cơ quan quản lý đưa ra quyết định, tổ  
chức được hỏi ý kiến, và (1) cơ quan quản lý đưa ra quyết định  
độc lập với tổ chức.  
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu  
Bài viết tập trung nghiên cứu về tự chủ trong các đơn vị sự  
nghiệp KH&CN công lập, sử dụng nghiên cứu định lượng để  
thực hiện mục tiêu nghiên cứu. Tác giả đã sử dụng điều tra xã  
hội học, xây dựng bảng hỏi có liên quan đến tự chủ tại các đơn  
vị sự nghiệp KH&CN công lập ở Việt Nam. Phiếu khảo sát được  
gửi đến 137 đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập bao gồm lãnh  
đạo, cán bộ quản lý và nhân viên đang làm việc tại các đơn vị  
sự nghiệp KH&CN công lập, trong đó có 21 đơn vị tự chủ hoàn  
toàn (chiếm 15,33%) và 116 đơn vị tự chủ một phần (chiếm  
84,67%). Kết quả nghiên cứu định lượng được xử lý bằng phần  
mềm SPSS. Thống kê số lượng mẫu khảo sát được thể hiện ở  
bảng 1.  
Kết quả nghiên cứu  
Bằng phương pháp nghiên cứu định lượng, tác giả xây dựng  
bảng hỏi gửi đến các đơn vị sự nghiệp KH&CN. Bảng hỏi được  
thiết kế nhằm làm rõ mức độ tự chủ ở các khía cạnh: quản lý, cấu  
trúc, tổ chức bộ máy và tài chính thông qua đánh giá của lãnh  
đạo đơn vị, cán bộ quản lý và nhân viên.  
61  
63(4) 4.2021  
Khoa học Xã hội và Nhân văn  
Bảng 2. Thống kê mô tả các khía cạnh của tự chủ.  
nhân viên” được đánh giá cao thứ ba với số điểm là 3,9354. Tiếp  
đó là “Các quyết định về thăng tiến, bổ nhiệm nhân viên” với số  
điểm trung bình là 3,8836. Hai ý kiến “Các quyết định về tuyển  
dụng nhân viên” và “Các quyết định về phân bổ tài chính” được  
đánh giá thấp nhất với số điểm lần lượt là 3,8607 và 3,1926.  
Nội dung  
tự chủ  
Giá trị  
nhỏ nhất  
Giá trị  
lớn nhất  
Giá trị  
trung bình  
Độ lệch  
chuẩn  
N
QL1  
QL2  
QL3  
QL4  
QL5  
QL6  
CS1  
CS2  
CS3  
CS4  
BM1  
BM2  
BM3  
BM4  
BM5  
TC1  
TC2  
TC3  
TC4  
TC5  
137 3,17  
137 3,41  
137 3,21  
137 3,15  
137 3,24  
137 2,37  
137 3,35  
137 2,82  
137 3,91  
137 3,11  
137 2,53  
137 3,24  
137 3,06  
137 3,42  
137 2,44  
137 3,47  
137 3,45  
137 3,16  
137 2,90  
137 3,72  
4,81  
4,97  
4,54  
4,72  
4,48  
4,01  
4,76  
4,89  
4,74  
4,58  
4,81  
4,76  
4,95  
4,87  
4,84  
4,91  
4,82  
4,79  
4,84  
4,65  
3,9921  
4,1935  
3,8836  
3,9354  
3,8607  
3,1926  
4,0558  
3,8551  
4,3253  
3,8450  
4,1459  
4,0033  
4,0057  
3,6406  
3,6702  
4,1910  
4,1356  
3,9758  
3,8789  
4,1851  
0,52143  
0,46281  
0,78625  
0,28465  
0,74638  
0,39274  
0,42905  
0,33859  
0,43928  
0,48202  
0,23479  
0,38859  
0.39475  
0,32846  
0,36467  
0,34954  
0,34583  
0,45839  
0,34859  
0,34957  
Tự chủ chính sách  
Các quyết định nằm trong nhóm tự chủ chính sách cũng được  
lãnh đạo, cán bộ quản lý và nhân viên đang làm việc tại các đơn  
vị sự nghiệp KH&CN đánh giá cao. Đánh giá cao nhất là tính  
tự chủ trong “Quyết định về việc thiết lập định mức kết quả chi  
tiết trong từng nhóm mục tiêu của chính sách” với số điểm trung  
bình là 4,3253. Đánh giá cao thứ hai là “Quyết định về việc lựa  
chọn các nhóm mục tiêu cho các chính sách (thù lao, trợ cấp, đãi  
ngộ...)” với 4,0558 điểm. Tiếp theo là “Quyết định lựa chọn các  
công cụ thực hiện chính sách” với 3,8551 điểm. Cuối cùng và  
đánh giá thấp nhất là “Quyết định phạm vi và đối tượng áp dụng  
của từng chính sách” (3,8450 điểm).  
Tự chủ tổ chức bộ máy  
Tổ chức bộ máy lãnh đạo của đơn vị, cơ cấu lại tổ chức cũng  
là nội dung thể hiện rõ tính tự chủ của tổ chức. Đối với các đơn  
vị sự nghiệp KH&CN công lập, các quyết định liên quan đến  
“Xây dựng phương án sắp xếp lại đơn vị cấu thành” được đánh  
giá cao nhất về mức độ tự chủ với 4,1459 điểm. “Quyết định giải  
thể các đơn vị mới cấu thành” và “Quyết định thành lập, tổ chức  
lại các đơn vị cấu thành” được đánh giá ở mức độ tương đối gần  
nhau với số điểm lần lượt là 4,0057 và 4,0033. Tiếp theo là các  
công việc liên quan đến “Đánh giá tư cách thành viên hội đồng  
quản lý” có mức độ tự chủ được đánh giá với số điểm trung bình  
là 3,6702. Cuối cùng là “Quyết định thành lập hội đồng quản lý”  
với số điểm thấp nhất là 3,6406.  
Valid N  
(listwise)  
137  
Nguồn: kết quả khảo sát của tác giả.  
Kết quả bảng 2 cho thấy, đa số các ý kiến đánh giá tổng thể  
137 đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập theo từng biến quan sát  
và nhân tố của tự chủ cho thấy giá trị trung bình đều lớn hơn 3,0  
(trong đó lớn nhất là 4,3253 và nhỏ nhất là 3,1926), điều này  
cho thấy lãnh đạo, các cán bộ quản lý và nhân viên đều cho rằng  
đơn vị tự đưa ra các quyết định trong một khung các quy tắc và  
điều kiện do cơ quan quản lý đặt ra, tức là các quyết định có tính  
tự chủ nhưng vẫn trong phạm vi giám sát của cấp trên quản lý.  
Trong đó, giá trị trung bình của tự chủ quản lý cao nhất là 4,1935  
và 3,1926 là giá trị thấp nhất. Còn đối với tự chủ chính sách,  
Tự chủ tài chính  
Về vấn đề tài chính, lãnh đạo đơn vị, cán bộ quản lý và  
nhân viên ở các đơn vị sự nghiệp KH&CN đánh giá cao nhất là  
“Nguồn thu từ hoạt động KH&CN, sản xuất, kinh doanh, liên  
doanh, liên kết và nguồn thu hợp pháp khác” với số điểm trung  
bình là 4,1910 điểm. Tiếp đến là “Nguồn vốn vay, viện trợ, tài  
giá trị trung bình của nhân tố cao nhất là 4,3253 và thấp nhất là trợ theo quy định hiện hành” với 4,1851 điểm. “Nguồn thu phí  
3,8450; với tự chủ tổ chức bộ máy thì các con số tương ứng là theo pháp luật về phí, lệ phí được để lại để chi hoạt động thường  
xuyên và chi mua sắm, sửa chữa lớn trang thiết bị, tài sản phục  
vụ công tác thu phí” được đánh giá thứ ba với 4,1356 điểm. Tiếp  
theo là “Nguồn thu từ ngân sách nhà nước nếu được cơ quan  
có thẩm quyền giao để thực hiện nhiệm vụ KH&CN, nhiệm vụ  
thường xuyên theo chức năng, dịch vụ sự nghiệp công” với số  
điểm là 3,9758. Và cuối cùng là “Nguồn thu từ ngân sách nhà  
nước để thực hiện các nhiệm vụ không thường xuyên nếu được  
cơ quan có thẩm quyền giao” với 3,8789 điểm. Kết quả nghiên  
cứu này có thể thấy là phù hợp với đặc điểm hoạt động của các  
đơn vị sự nghiệp KH&CN ở Việt Nam. Bên cạnh đó cũng phù  
hợp với cơ cấu mẫu khảo sát, trong các đơn vị được khảo sát  
4,1459 và 3,6406. Cuối cùng là khía cạnh tự chủ tài chính với  
các giá trị trung bình lớn nhất và nhỏ nhất lần lượt là 4,1910 và  
3,8789. Kết quả cụ thể của mỗi khía cạnh tự chủ được biểu hiện  
cụ thể dưới đây:  
Tự chủ quản lý  
Lãnh đạo đơn vị, cán bộ quản lý phòng/ban và nhân viên  
đánh giá cao tính tự chủ trong “Các quyết định về điều kiện và  
môi trường làm việc” với số điểm cao nhất là 4,1935. Tiếp theo  
là “Các quyết định về mức lương và các khoản thù lao tài chính”  
với số điểm là 3,9921. “Các quyết định về phương thức đánh giá  
63(4) 4.2021  
62  
Khoa học Xã hội và Nhân văn  
vẫn còn nhiều đơn vị đang tự chủ một phần, tức là Nhà nước trong quản lý, chính sách, tổ chức bộ máy và tài chính của nhóm  
vẫn quản lý và giám sát hoạt động của các đơn vị sự nghiệp đơn vị tự chủ một phần thấp hơn nhóm đơn vị tự chủ hoàn toàn.  
KH&CN.  
Một số khuyến nghị chꢀnh sách  
Bảng 3. Đánh giá về tự chủ theo các nhóm đơn vị sự nghiệp KH&CN công  
lập.  
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả xin đưa ra một số  
khuyến nghị hàm ý chính sách nhằm nâng cao tính tự chủ của  
các đơn vị sự nghiệp KH&CN như sau:  
Tự chủ hoàn toàn  
Tự chủ một phần  
Nội dung  
tự chủ  
Giá trị  
Độ lệch  
Giá trị  
Độ lệch  
Đối với tự chủ quản lý: các đơn vị sự nghiệp KH&CN công  
lập cần chủ động hơn trong vấn đề quản lý nhân sự và tài chính  
của đơn vị mình. Cụ thể, các đơn vị có thể áp dụng theo hướng  
Thủ trưởng đơn vị quyết định đề án vị trí việc làm và số lượng  
người làm việc của đơn vị đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm  
vụ được giao và quỹ tiền lương của đơn vị theo cơ chế tính đủ,  
tính đúng giá dịch vụ sự nghiệp hoặc giao định mức kinh phí cho  
từng bộ phận thực hiện nhiệm vụ phục vụ. Đồng thời chú trọng  
thu hút người tài, có tâm và nhiệt huyết với công việc. Thực hiện  
các chế độ đảm bảo quyền và lợi ích của cán bộ nhân viên. Đối  
với vấn đề quản lý tài chính, các đơn vị cần chủ động phân bổ  
các khoản thu chi hợp lý, cân đối, kiểm soát và nắm chắc tình  
hình tài chính của đơn vị.  
trung bình  
chuẩn  
0,342  
0,355  
0,249  
0,244  
0,483  
0,475  
0,382  
0,372  
0,485  
0,579  
0,347  
0,384  
0,359  
0,583  
0,485  
0,457  
0,247  
0,328  
0,569  
0,684  
trung bình  
chuẩn  
0,370  
0,535  
0,422  
0,582  
0,534  
0,388  
0,469  
0,485  
0,458  
0,357  
0,376  
0,382  
0,284  
0,437  
0,263  
0,292  
0,537  
0,381  
0,383  
0,635  
QL1  
QL2  
QL3  
QL4  
QL5  
QL6  
CS1  
CS2  
CS3  
CS4  
BM1  
BM2  
BM3  
BM4  
BM5  
TC1  
TC2  
TC3  
TC4  
TC5  
4,253  
4,608  
4,203  
4,401  
4,271  
3,893  
4,812  
4,665  
4,578  
4,630  
4,887  
4,396  
4,321  
4,487  
4,369  
4,607  
4,545  
4,711  
4,654  
4,688  
3,731  
3,779  
3,564  
3,469  
3,450  
2,492  
3,299  
3,044  
4,072  
3,060  
3,404  
3,610  
3,690  
2,794  
2,944  
3,775  
3,726  
3,240  
3,103  
3,682  
Đối với tự chủ chính sách: trên cơ sở sứ mệnh cũng như chức  
năng, nhiệm vụ mà các đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập được  
giao phó, các đơn vị cần xác định mục tiêu, lựa chọn những mục  
tiêu phù hợp với sứ mệnh đó. Tùy từng thời kỳ, các mục tiêu sẽ  
có những điểm khác nhau. Tuy nhiên, các mục tiêu cần rõ ràng  
và đảm bảo tính khả thi. Ngoài ra, các đơn vị cần thiết lập hệ  
thống các chính sách và các công cụ để đảm bảo các chính sách  
được thực hiện đúng với mục tiêu đã đề ra.  
Đối với tự chủ tổ chức bộ máy: các đơn vị sự nghiệp KH&CN  
công lập cần sắp xếp, tổ chức lại theo hướng tinh gọn bộ máy,  
đặc biệt ở các cấp quản lý trung gian. Việc này sẽ làm giảm bớt  
những khâu trung gian không thực sự cần thiết trong quá trình  
thực hiện nhiệm vụ tại các đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập.  
Mục đích của giải pháp này nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động  
cũng như giảm bớt các chi phí không cần thiết. Để làm được điều  
này, các đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập cần phải triển khai  
đồng bộ, nhất quán và phải có các kế hoạch cụ thể, rõ ràng. Việc  
tinh gọn bộ máy quản lý sẽ tạo ra những phản ứng trái chiều,  
tích cực và tiêu cực. Do đó, trước khi thực hiện, các đơn vị sự  
nghiệp KH&CN công lập cần thiết phải nâng cao nhận thức của  
người lao động, tăng cường tuyên truyền các chủ trương, chính  
sách của Đảng và Nhà nước cũng như định hướng phát triển tổ  
chức trong tương lai, vì mục tiêu chung là nâng cao hiệu quả  
hoạt động của tổ chức.  
Nguồn: kết quả khảo sát của tác giả.  
Kết quả bảng 3 cho thấy, nhóm đơn vị sự nghiệp KH&CN  
công lập tự chủ hoàn toàn đánh giá các nội dung của tự chủ đa số  
là trên 4,0 điểm, trừ quan sát QL6 đánh giá dưới 4 (3,893 điểm).  
Điều đó cho thấy, ở nhóm đơn vị sự nghiệp KH&CN tự chủ  
hoàn toàn hầu như đã chủ động nâng cao và phát huy được tính  
tự chủ của mình, phát huy quyền làm chủ khi được cơ quan quản  
lý trao quyền. Do đó, trên mọi mặt, các hoạt động trong quản lý,  
chính sách, tổ chức bộ máy và tài chính đều làm giảm bớt vai  
trò của cơ quan quản lý cấp trên, thể hiện năng lực tự quyết của  
đơn vị. Trong khi đó, các đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập  
tự chủ một phần có mức đánh giá thấp hơn. Đa số các quan sát  
đều dưới 4,0, trong đó có 3 quan sát có mức đánh giá dưới 3,0  
là QL6, BM4 và BM5 (tương ứng 2,492, 2,794 và 2,944). Điều  
đó có nghĩa là, mức độ tự chủ, tính tự quyết trong các khía cạnh  
quản lý, chính sách, tổ chức bộ máy và tài chính của các đơn vị  
sự nghiệp KH&CN công lập giảm đi. Điều này cũng hoàn toàn  
hợp lý bởi các đơn vị này vẫn chịu sự quản lý, giám sát của Nhà  
nước và chỉ được chủ động tự quyết định ở một số phương diện  
Đối với tự chủ tài chính: năng lực tự chủ tài chính của đơn  
vị sự nghiệp KH&CN công lập phụ thuộc nhiều vào mức độ  
trao quyền tự chủ tài chính của Nhà nước và sự chủ động của  
đơn vị. Các đơn vị cần xây dựng phương án tự chủ tài chính tùy  
theo tình hình thực tế của đơn vị để các Bộ và cơ quan tài chính  
Nhà nước trao quyền. Chính vì vậy, năng lực tự ra quyết định có ý kiến xem xét, phân loại và phê duyệt phương án tự chủ tài  
63  
63(4) 4.2021  
Khoa học Xã hội và Nhân văn  
chính. Đồng thời, các đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập cần máy và tài chính. Hai khía cạnh này liên quan đến bộ máy lãnh  
đạo quản lý và mức độ tự chủ về nguồn thu của đơn vị. Kết quả  
hoạt động của một số đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập thực  
hiện tự chủ hoàn toàn cho thấy, sự tự chủ có tác động tích cực  
trong nâng cao chất lượng, hiệu quả các sản phẩm KH&CN, tăng  
cường chuyển giao công nghệ vào doanh nghiệp. Đây là những  
thành công bước đầu, tạo động lực cho các đơn vị khác chủ động  
hơn trong việc xây dựng lộ trình tự chủ của tổ chức mình.  
phải nâng cao năng lực quản trị tài chính, huy động nhiều nguồn  
tài chính ngoài ngân sách nhà nước như các khoản tài trợ, từ  
chuyển giao công nghệ và các hoạt động dịch vụ khác. Hoàn  
thiện cơ chế tài chính của đơn vị mình theo hướng tự chủ, tự  
chịu trách nhiệm.  
Ngoài những gợi ý mang hàm ý chính sách nêu trên, việc  
xây dựng quy hoạch mạng lưới đơn vị sự nghiệp KH&CN trong  
từng lĩnh vực, ngành nghề, vùng miền là rất cần thiết. Trong đó  
cần ưu tiên phát triển những lĩnh vực là thế mạnh của KH&CN  
trong nước và cần phải gắn chặt KH&CN với đổi mới sáng tạo,  
bởi như thế sẽ làm cho KH&CN phù hợp hơn và nhanh chóng  
được áp dụng vào thực tiễn.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] M. Maggetti, K. Verhoest (2014), “Unexplored aspects of bureaucratic  
autonomy: a state of the field and ways forward”, International Review of  
Administrative Sciences, 80(2), pp.239-256.  
[2] J.G. Christensen (2001), Bureacratic autonomy as a political asset,  
University of Aarhus.  
Kết luận  
[3] K. Verhoest, et al. (2004), “The study of organizational autonomy: a  
conceptual review”, Public Administration and Development, 24(2), pp.101-  
181.  
Năng lực tự ra quyết định của các đơn vị sự nghiệp KH&CN  
về các vấn đề tự chủ quản lý, chính sách, bộ máy và tài chính phụ  
thuộc vào mức độ tự chủ của đơn vị và chính sách trao quyền tự  
chủ của Nhà nước. Qua kết quả phân tích ở trên cho thấy, sự cần  
thiết phải thúc đẩy loại hình tự chủ hoàn toàn trong các đơn vị  
sự nghiệp KH&CN. Các đơn vị sự nghiệp KH&CN tự chủ hoàn  
toàn có sự tự chủ cao hơn trong quản lý và thiết lập các nhóm  
mục tiêu, chính sách và công cụ để thực hiện các chính sách.  
Đặc biệt, mức độ tự chủ khác biệt giữa đơn vị tự chủ hoàn toàn  
và tự chủ một phần thể hiện rõ trong khía cạnh tự chủ tổ chức bộ  
[4] Chính phủ (2015), Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 4/2/2015 quy  
định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập.  
[5] S. Van De Walle (2018), “Explaining variation in perceived managerial  
autonomy and direct politicization in European public sectors”, International  
Review of Administrative Sciences, 85, DOI:10.1177/0020852317748357.  
[6] Bram Verschuere (2007), Measuring policy autonomy of public  
organizations: conceptual and methodological issues, COBRA.  
[7] Chính phủ (2016), Nghị định số 54/2016/NĐ-CP ngày 14/6/2016 quy  
định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập.  
63(4) 4.2021  
64  
pdf 5 trang Thùy Anh 17180 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tự chủ trong các đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftu_chu_trong_cac_don_vi_su_nghiep_khoa_hoc_va_cong_nghe_o_vi.pdf