Tự chủ trong các đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ ở Việt Nam
Khoa học Xã hội và Nhân văn
Tự chủ trong các đơn vị sự nghiệp
khoa học và công nghệ ở Việt Nam
Nguyễn Đăng Dũng*
Viện Sinh thái và Bảo vệ công trình
Ngày nhận bài 22/2/2021; ngày chuyển phản biện 26/2/2021; ngày nhận phản biện 2/4/2021; ngày chấp nhận đăng 7/4/2021
Tóm tắt:
Tự chủ là trạng thái thể hiện năng lực tự ra quyết định của một tổ chức. Tự chủ được tìm hiểu ở nhiều khía cạnh,
nội dung khác nhau. Trong phạm vi của bài viết này, tác giả đề cập vấn đề tự chủ của tổ chức qua các nội dung: quản
lý, chính sách, tổ chức bộ máy và tài chính. Bằng việc nghiên cứu định lượng với 137 phiếu khảo sát tới lãnh đạo,
cán bộ quản lý và nhân viên đang làm việc tại các đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ (KH&CN), bài viết làm
rõ thực trạng, mức độ tự chủ của các đơn vị này, trên cơ sở đó đưa ra một số khuyến nghị nhằm góp phần nâng cao
tính tự chủ của các đơn vị sự nghiệp KH&CN ở nước ta.
Từ khóa: đơn vị sự nghiệp, khoa học và công nghệ, tự chủ tổ chức.
Chỉ số phân loại: 5.13
Đặt vấn đề
Organizational autonomy
Maggetti và cs (2014) [1] cho rằng, tự chủ là khả năng biến
sở thích thành hành động theo thẩm quyền của chính họ mà
in public science and technology
không có ràng buộc bên ngoài. Khái niệm tự chủ của Christensen
non - business units in Vietnam
(2001) [2] liên quan đến sự suy giảm mức độ kiểm soát của
Dang Dung Nguyen*
đơn vị chủ quản đến các hoạt động của các tổ chức thành viên.
Institute of Ecology and Works Protection
Verhoest và cs (2004) [3] đưa ra khái niệm tự chủ toàn diện hơn
Received 22 February 2021; accepted 7 April 2021
từ hai quan điểm: nâng cao năng lực ra quyết định của cơ quan
và việc miễn trừ các ràng buộc của cấp trên đối với năng lực ra
quyết định của cơ quan này. Nhóm tác giả phân tích các khía
cạnh khác nhau của quyền tự chủ, bao gồm quản lý, chính sách,
cơ cấu, tài chính, pháp lý và sự can thiệp [3]. Qua đó, có thể thấy
Abstract:
Organizational autonomy is a state that demonstrates
an organization’s ability to make decisions on its own.
Organizational autonomy is explored in many different
aspects and contents. In the scope of this article, the author rằng, tự chủ được định nghĩa là năng lực tự ra quyết định về các
mentions organizational autonomy through the following
contents: management autonomy, policy autonomy,
structural autonomy, and financial autonomy. By doing
quantitative research with 137 questionnaires to leaders,
managers, and employees working in public science and
technology non - business units, the article aims to clarify
the assessment of reality status and degree of autonomy
of public science and technology non - business units,
thereby giving several recommendations to contribute to
improving the autonomy of these units in Vietnam.
hoạt động của tổ chức mà không phụ thuộc vào bất kỳ một cơ
quan nào khác, kể cả nhà nước.
Ở Việt Nam, các khía cạnh của cơ chế tự chủ được thể hiện
cụ thể trong các thông tư, nghị định có liên quan. Nghị định
16/2015/NĐ-CP [4] có quy định rõ các khía cạnh của tự chủ
trong các đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm: i) Tự chủ về thực
hiện nhiệm vụ; ii) Tự chủ về bộ máy; iii) Tự chủ về nhân sự; iv)
Tự chủ về tài chính. Trong bài viết này, tác giả tiếp cận nội hàm
của tự chủ ở 4 khía cạnh: quản lý, chính sách, tổ chức bộ máy
và tài chính. Trong đó, tự chủ quản lý là năng lực kiểm soát các
nguồn lực trong tổ chức về các vấn đề nhân sự, tài chính, dịch vụ
của tổ chức. Tự chủ chính sách thể hiện mức độ tổ chức có thể
đưa ra quyết định về việc lựa chọn các nhóm mục tiêu cho chính
Keywords: non-business units, organizational autonomy,
science and technology.
Classification number: 5.13
*Email: dangdungv[email protected]
63(4) 4.2021
60
Khoa học Xã hội và Nhân văn
Bảng 1. Thống kê mẫu khảo sát theo đặc điểm của đối tượng nghiên cứu.
sách phát triển của tổ chức trong mối quan hệ ràng buộc về pháp
lý với cơ quan quản lý. Đồng thời, nó cũng thể hiện mức độ tổ
chức có thể đưa ra các quyết định về việc lựa chọn các công cụ
thực hiện các chính sách của tổ chức. Tự chủ tổ chức bộ máy là
năng lực quyết định về cơ cấu bộ máy quản lý của tổ chức, xây
dựng phương án sắp xếp, kiện toàn cơ cấu tổ chức của đơn vị.
Tự chủ tài chính được xem là mức độ độc lập với ngân sách nhà
nước, không phụ thuộc hoặc không phụ thuộc quá nhiều vào các
nguồn tài chính từ ngân sách nhà nước.
Tiêu chí phân loại
Số lượng Tỷ lệ (%)
Lãnh đạo đơn vị
75
3,82
Vị trí công tác
Quản lý phòng/ban 679
34,59
61,59
18,09
42,38
39,53
44,63
55,37
Nhân viên
Dưới 5 năm
6-10 năm
Trên 10 năm
Nam
1209
355
832
776
876
1087
Thời gian làm việc tại
đơn vị
Đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập có vai trò quan trọng
trong phát triển KH&CN nói riêng, kinh tế - xã hội nói chung.
Các đơn vị sự nghiệp KH&CN có nhiệm vụ nghiên cứu khoa
học, ứng dụng, triển khai thực nghiệm, sản xuất thử nghiệm,
phát triển công nghệ, sản xuất, kinh doanh sản phẩm là kết quả
nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, dịch vụ KH&CN,
được thành lập và đăng ký hoạt động theo quy định của pháp
luật. Những thành tựu đạt được của các đơn vị KH&CN có ý
nghĩa to lớn và có giá trị thực tiễn cao. Trong những năm qua,
các đơn vị sự nghiệp KH&CN đã tổ chức triển khai các cơ chế,
chính sách, chủ trương thực hiện tự chủ, xã hội hóa đơn vị sự
nghiệp công lập. Việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm
đối với các đơn vị sự nghiệp công lập đã tạo điều kiện thuận lợi
cho các đơn vị chủ động trong quản lý, tổ chức bộ máy và hoạt
động; sử dụng có hiệu quả nguồn kinh phí được giao. Tuy nhiên,
bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trình thực hiện cũng
còn gặp một số tồn tại, vướng mắc phát sinh như: một số đơn
vị còn bị động, chưa phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm;
phần lớn nguồn thu của các đơn vị sự nghiệp KH&CN vẫn xuất
phát từ việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN do các cấp có thẩm
quyền giao, nguồn thu dịch vụ chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ. Các đơn
vị sự nghiệp KH&CN công lập thực hiện hoạt động nghiên cứu
và ứng dụng còn thiếu năng lực tiếp cận thị trường và nghiên cứu
phát triển các hoạt động dịch vụ có thu…
Giới tính
Nữ
Tổng số người trả lời bảng hỏi
Tổng số đơn vị khảo sát: 137
1963
100
Nguồn: kết quả khảo sát của tác giả.
Qua việc tìm hiểu tổng quan các công trình nghiên cứu trước
cũng như cơ sở lý thuyết, tác giả đã tổng hợp các thước đo cho
các biến số. Các thước đo này đã được kiểm định và sử dụng
trong các nghiên cứu trước đây. Thang đo của các biến số chủ
yếu được tác giả kế thừa và phát triển từ nghiên cứu của Verhoest
và cs (2004) [3]. Ngoài ra, tác giả cũng sử dụng thang đo của Van
De Walle (2018) [5], Bram Verschuere (2007) [6]. Để phù hợp
với bối cảnh nghiên cứu tại Việt Nam cũng như các quy định
hiện hành của Nhà nước, tác giả có tham khảo quy định tại Nghị
định số 16/2015/NĐ-CP [4], Nghị định số 54/2016/NĐ-CP [7].
Hệ thống các biến số trong nghiên cứu này được đo lường
thông qua các thước đo đã được sử dụng từ các nghiên cứu
trước. Đối với các biến độc lập, phương pháp Likert được sử
dụng, trong đó các biến quan sát sẽ được hỏi đối tượng được
điều tra và trả lời trên thang điểm 5 theo nghiên cứu của Verhoest
và cs (2004) [3], bao gồm từ (5) tự mình đưa ra các quyết định,
cơ quan quản lý chỉ tham gia một chút, (4) tự mình đưa ra các
quyết định, đã tham khảo ý kiến của cơ quan quản lý, (3) tự đưa
ra các quyết định trong một khung các quy tắc và điều kiện do
cơ quan quản lý đặt ra, (2) cơ quan quản lý đưa ra quyết định, tổ
chức được hỏi ý kiến, và (1) cơ quan quản lý đưa ra quyết định
độc lập với tổ chức.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Bài viết tập trung nghiên cứu về tự chủ trong các đơn vị sự
nghiệp KH&CN công lập, sử dụng nghiên cứu định lượng để
thực hiện mục tiêu nghiên cứu. Tác giả đã sử dụng điều tra xã
hội học, xây dựng bảng hỏi có liên quan đến tự chủ tại các đơn
vị sự nghiệp KH&CN công lập ở Việt Nam. Phiếu khảo sát được
gửi đến 137 đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập bao gồm lãnh
đạo, cán bộ quản lý và nhân viên đang làm việc tại các đơn vị
sự nghiệp KH&CN công lập, trong đó có 21 đơn vị tự chủ hoàn
toàn (chiếm 15,33%) và 116 đơn vị tự chủ một phần (chiếm
84,67%). Kết quả nghiên cứu định lượng được xử lý bằng phần
mềm SPSS. Thống kê số lượng mẫu khảo sát được thể hiện ở
bảng 1.
Kết quả nghiên cứu
Bằng phương pháp nghiên cứu định lượng, tác giả xây dựng
bảng hỏi gửi đến các đơn vị sự nghiệp KH&CN. Bảng hỏi được
thiết kế nhằm làm rõ mức độ tự chủ ở các khía cạnh: quản lý, cấu
trúc, tổ chức bộ máy và tài chính thông qua đánh giá của lãnh
đạo đơn vị, cán bộ quản lý và nhân viên.
61
63(4) 4.2021
Khoa học Xã hội và Nhân văn
Bảng 2. Thống kê mô tả các khía cạnh của tự chủ.
nhân viên” được đánh giá cao thứ ba với số điểm là 3,9354. Tiếp
đó là “Các quyết định về thăng tiến, bổ nhiệm nhân viên” với số
điểm trung bình là 3,8836. Hai ý kiến “Các quyết định về tuyển
dụng nhân viên” và “Các quyết định về phân bổ tài chính” được
đánh giá thấp nhất với số điểm lần lượt là 3,8607 và 3,1926.
Nội dung
tự chủ
Giá trị
nhỏ nhất
Giá trị
lớn nhất
Giá trị
trung bình
Độ lệch
chuẩn
N
QL1
QL2
QL3
QL4
QL5
QL6
CS1
CS2
CS3
CS4
BM1
BM2
BM3
BM4
BM5
TC1
TC2
TC3
TC4
TC5
137 3,17
137 3,41
137 3,21
137 3,15
137 3,24
137 2,37
137 3,35
137 2,82
137 3,91
137 3,11
137 2,53
137 3,24
137 3,06
137 3,42
137 2,44
137 3,47
137 3,45
137 3,16
137 2,90
137 3,72
4,81
4,97
4,54
4,72
4,48
4,01
4,76
4,89
4,74
4,58
4,81
4,76
4,95
4,87
4,84
4,91
4,82
4,79
4,84
4,65
3,9921
4,1935
3,8836
3,9354
3,8607
3,1926
4,0558
3,8551
4,3253
3,8450
4,1459
4,0033
4,0057
3,6406
3,6702
4,1910
4,1356
3,9758
3,8789
4,1851
0,52143
0,46281
0,78625
0,28465
0,74638
0,39274
0,42905
0,33859
0,43928
0,48202
0,23479
0,38859
0.39475
0,32846
0,36467
0,34954
0,34583
0,45839
0,34859
0,34957
Tự chủ chính sách
Các quyết định nằm trong nhóm tự chủ chính sách cũng được
lãnh đạo, cán bộ quản lý và nhân viên đang làm việc tại các đơn
vị sự nghiệp KH&CN đánh giá cao. Đánh giá cao nhất là tính
tự chủ trong “Quyết định về việc thiết lập định mức kết quả chi
tiết trong từng nhóm mục tiêu của chính sách” với số điểm trung
bình là 4,3253. Đánh giá cao thứ hai là “Quyết định về việc lựa
chọn các nhóm mục tiêu cho các chính sách (thù lao, trợ cấp, đãi
ngộ...)” với 4,0558 điểm. Tiếp theo là “Quyết định lựa chọn các
công cụ thực hiện chính sách” với 3,8551 điểm. Cuối cùng và
đánh giá thấp nhất là “Quyết định phạm vi và đối tượng áp dụng
của từng chính sách” (3,8450 điểm).
Tự chủ tổ chức bộ máy
Tổ chức bộ máy lãnh đạo của đơn vị, cơ cấu lại tổ chức cũng
là nội dung thể hiện rõ tính tự chủ của tổ chức. Đối với các đơn
vị sự nghiệp KH&CN công lập, các quyết định liên quan đến
“Xây dựng phương án sắp xếp lại đơn vị cấu thành” được đánh
giá cao nhất về mức độ tự chủ với 4,1459 điểm. “Quyết định giải
thể các đơn vị mới cấu thành” và “Quyết định thành lập, tổ chức
lại các đơn vị cấu thành” được đánh giá ở mức độ tương đối gần
nhau với số điểm lần lượt là 4,0057 và 4,0033. Tiếp theo là các
công việc liên quan đến “Đánh giá tư cách thành viên hội đồng
quản lý” có mức độ tự chủ được đánh giá với số điểm trung bình
là 3,6702. Cuối cùng là “Quyết định thành lập hội đồng quản lý”
với số điểm thấp nhất là 3,6406.
Valid N
(listwise)
137
Nguồn: kết quả khảo sát của tác giả.
Kết quả bảng 2 cho thấy, đa số các ý kiến đánh giá tổng thể
137 đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập theo từng biến quan sát
và nhân tố của tự chủ cho thấy giá trị trung bình đều lớn hơn 3,0
(trong đó lớn nhất là 4,3253 và nhỏ nhất là 3,1926), điều này
cho thấy lãnh đạo, các cán bộ quản lý và nhân viên đều cho rằng
đơn vị tự đưa ra các quyết định trong một khung các quy tắc và
điều kiện do cơ quan quản lý đặt ra, tức là các quyết định có tính
tự chủ nhưng vẫn trong phạm vi giám sát của cấp trên quản lý.
Trong đó, giá trị trung bình của tự chủ quản lý cao nhất là 4,1935
và 3,1926 là giá trị thấp nhất. Còn đối với tự chủ chính sách,
Tự chủ tài chính
Về vấn đề tài chính, lãnh đạo đơn vị, cán bộ quản lý và
nhân viên ở các đơn vị sự nghiệp KH&CN đánh giá cao nhất là
“Nguồn thu từ hoạt động KH&CN, sản xuất, kinh doanh, liên
doanh, liên kết và nguồn thu hợp pháp khác” với số điểm trung
bình là 4,1910 điểm. Tiếp đến là “Nguồn vốn vay, viện trợ, tài
giá trị trung bình của nhân tố cao nhất là 4,3253 và thấp nhất là trợ theo quy định hiện hành” với 4,1851 điểm. “Nguồn thu phí
3,8450; với tự chủ tổ chức bộ máy thì các con số tương ứng là theo pháp luật về phí, lệ phí được để lại để chi hoạt động thường
xuyên và chi mua sắm, sửa chữa lớn trang thiết bị, tài sản phục
vụ công tác thu phí” được đánh giá thứ ba với 4,1356 điểm. Tiếp
theo là “Nguồn thu từ ngân sách nhà nước nếu được cơ quan
có thẩm quyền giao để thực hiện nhiệm vụ KH&CN, nhiệm vụ
thường xuyên theo chức năng, dịch vụ sự nghiệp công” với số
điểm là 3,9758. Và cuối cùng là “Nguồn thu từ ngân sách nhà
nước để thực hiện các nhiệm vụ không thường xuyên nếu được
cơ quan có thẩm quyền giao” với 3,8789 điểm. Kết quả nghiên
cứu này có thể thấy là phù hợp với đặc điểm hoạt động của các
đơn vị sự nghiệp KH&CN ở Việt Nam. Bên cạnh đó cũng phù
hợp với cơ cấu mẫu khảo sát, trong các đơn vị được khảo sát
4,1459 và 3,6406. Cuối cùng là khía cạnh tự chủ tài chính với
các giá trị trung bình lớn nhất và nhỏ nhất lần lượt là 4,1910 và
3,8789. Kết quả cụ thể của mỗi khía cạnh tự chủ được biểu hiện
cụ thể dưới đây:
Tự chủ quản lý
Lãnh đạo đơn vị, cán bộ quản lý phòng/ban và nhân viên
đánh giá cao tính tự chủ trong “Các quyết định về điều kiện và
môi trường làm việc” với số điểm cao nhất là 4,1935. Tiếp theo
là “Các quyết định về mức lương và các khoản thù lao tài chính”
với số điểm là 3,9921. “Các quyết định về phương thức đánh giá
63(4) 4.2021
62
Khoa học Xã hội và Nhân văn
vẫn còn nhiều đơn vị đang tự chủ một phần, tức là Nhà nước trong quản lý, chính sách, tổ chức bộ máy và tài chính của nhóm
vẫn quản lý và giám sát hoạt động của các đơn vị sự nghiệp đơn vị tự chủ một phần thấp hơn nhóm đơn vị tự chủ hoàn toàn.
KH&CN.
Một số khuyến nghị chꢀnh sách
Bảng 3. Đánh giá về tự chủ theo các nhóm đơn vị sự nghiệp KH&CN công
lập.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả xin đưa ra một số
khuyến nghị hàm ý chính sách nhằm nâng cao tính tự chủ của
các đơn vị sự nghiệp KH&CN như sau:
Tự chủ hoàn toàn
Tự chủ một phần
Nội dung
tự chủ
Giá trị
Độ lệch
Giá trị
Độ lệch
Đối với tự chủ quản lý: các đơn vị sự nghiệp KH&CN công
lập cần chủ động hơn trong vấn đề quản lý nhân sự và tài chính
của đơn vị mình. Cụ thể, các đơn vị có thể áp dụng theo hướng
Thủ trưởng đơn vị quyết định đề án vị trí việc làm và số lượng
người làm việc của đơn vị đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm
vụ được giao và quỹ tiền lương của đơn vị theo cơ chế tính đủ,
tính đúng giá dịch vụ sự nghiệp hoặc giao định mức kinh phí cho
từng bộ phận thực hiện nhiệm vụ phục vụ. Đồng thời chú trọng
thu hút người tài, có tâm và nhiệt huyết với công việc. Thực hiện
các chế độ đảm bảo quyền và lợi ích của cán bộ nhân viên. Đối
với vấn đề quản lý tài chính, các đơn vị cần chủ động phân bổ
các khoản thu chi hợp lý, cân đối, kiểm soát và nắm chắc tình
hình tài chính của đơn vị.
trung bình
chuẩn
0,342
0,355
0,249
0,244
0,483
0,475
0,382
0,372
0,485
0,579
0,347
0,384
0,359
0,583
0,485
0,457
0,247
0,328
0,569
0,684
trung bình
chuẩn
0,370
0,535
0,422
0,582
0,534
0,388
0,469
0,485
0,458
0,357
0,376
0,382
0,284
0,437
0,263
0,292
0,537
0,381
0,383
0,635
QL1
QL2
QL3
QL4
QL5
QL6
CS1
CS2
CS3
CS4
BM1
BM2
BM3
BM4
BM5
TC1
TC2
TC3
TC4
TC5
4,253
4,608
4,203
4,401
4,271
3,893
4,812
4,665
4,578
4,630
4,887
4,396
4,321
4,487
4,369
4,607
4,545
4,711
4,654
4,688
3,731
3,779
3,564
3,469
3,450
2,492
3,299
3,044
4,072
3,060
3,404
3,610
3,690
2,794
2,944
3,775
3,726
3,240
3,103
3,682
Đối với tự chủ chính sách: trên cơ sở sứ mệnh cũng như chức
năng, nhiệm vụ mà các đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập được
giao phó, các đơn vị cần xác định mục tiêu, lựa chọn những mục
tiêu phù hợp với sứ mệnh đó. Tùy từng thời kỳ, các mục tiêu sẽ
có những điểm khác nhau. Tuy nhiên, các mục tiêu cần rõ ràng
và đảm bảo tính khả thi. Ngoài ra, các đơn vị cần thiết lập hệ
thống các chính sách và các công cụ để đảm bảo các chính sách
được thực hiện đúng với mục tiêu đã đề ra.
Đối với tự chủ tổ chức bộ máy: các đơn vị sự nghiệp KH&CN
công lập cần sắp xếp, tổ chức lại theo hướng tinh gọn bộ máy,
đặc biệt ở các cấp quản lý trung gian. Việc này sẽ làm giảm bớt
những khâu trung gian không thực sự cần thiết trong quá trình
thực hiện nhiệm vụ tại các đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập.
Mục đích của giải pháp này nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
cũng như giảm bớt các chi phí không cần thiết. Để làm được điều
này, các đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập cần phải triển khai
đồng bộ, nhất quán và phải có các kế hoạch cụ thể, rõ ràng. Việc
tinh gọn bộ máy quản lý sẽ tạo ra những phản ứng trái chiều,
tích cực và tiêu cực. Do đó, trước khi thực hiện, các đơn vị sự
nghiệp KH&CN công lập cần thiết phải nâng cao nhận thức của
người lao động, tăng cường tuyên truyền các chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước cũng như định hướng phát triển tổ
chức trong tương lai, vì mục tiêu chung là nâng cao hiệu quả
hoạt động của tổ chức.
Nguồn: kết quả khảo sát của tác giả.
Kết quả bảng 3 cho thấy, nhóm đơn vị sự nghiệp KH&CN
công lập tự chủ hoàn toàn đánh giá các nội dung của tự chủ đa số
là trên 4,0 điểm, trừ quan sát QL6 đánh giá dưới 4 (3,893 điểm).
Điều đó cho thấy, ở nhóm đơn vị sự nghiệp KH&CN tự chủ
hoàn toàn hầu như đã chủ động nâng cao và phát huy được tính
tự chủ của mình, phát huy quyền làm chủ khi được cơ quan quản
lý trao quyền. Do đó, trên mọi mặt, các hoạt động trong quản lý,
chính sách, tổ chức bộ máy và tài chính đều làm giảm bớt vai
trò của cơ quan quản lý cấp trên, thể hiện năng lực tự quyết của
đơn vị. Trong khi đó, các đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập
tự chủ một phần có mức đánh giá thấp hơn. Đa số các quan sát
đều dưới 4,0, trong đó có 3 quan sát có mức đánh giá dưới 3,0
là QL6, BM4 và BM5 (tương ứng 2,492, 2,794 và 2,944). Điều
đó có nghĩa là, mức độ tự chủ, tính tự quyết trong các khía cạnh
quản lý, chính sách, tổ chức bộ máy và tài chính của các đơn vị
sự nghiệp KH&CN công lập giảm đi. Điều này cũng hoàn toàn
hợp lý bởi các đơn vị này vẫn chịu sự quản lý, giám sát của Nhà
nước và chỉ được chủ động tự quyết định ở một số phương diện
Đối với tự chủ tài chính: năng lực tự chủ tài chính của đơn
vị sự nghiệp KH&CN công lập phụ thuộc nhiều vào mức độ
trao quyền tự chủ tài chính của Nhà nước và sự chủ động của
đơn vị. Các đơn vị cần xây dựng phương án tự chủ tài chính tùy
theo tình hình thực tế của đơn vị để các Bộ và cơ quan tài chính
Nhà nước trao quyền. Chính vì vậy, năng lực tự ra quyết định có ý kiến xem xét, phân loại và phê duyệt phương án tự chủ tài
63
63(4) 4.2021
Khoa học Xã hội và Nhân văn
chính. Đồng thời, các đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập cần máy và tài chính. Hai khía cạnh này liên quan đến bộ máy lãnh
đạo quản lý và mức độ tự chủ về nguồn thu của đơn vị. Kết quả
hoạt động của một số đơn vị sự nghiệp KH&CN công lập thực
hiện tự chủ hoàn toàn cho thấy, sự tự chủ có tác động tích cực
trong nâng cao chất lượng, hiệu quả các sản phẩm KH&CN, tăng
cường chuyển giao công nghệ vào doanh nghiệp. Đây là những
thành công bước đầu, tạo động lực cho các đơn vị khác chủ động
hơn trong việc xây dựng lộ trình tự chủ của tổ chức mình.
phải nâng cao năng lực quản trị tài chính, huy động nhiều nguồn
tài chính ngoài ngân sách nhà nước như các khoản tài trợ, từ
chuyển giao công nghệ và các hoạt động dịch vụ khác. Hoàn
thiện cơ chế tài chính của đơn vị mình theo hướng tự chủ, tự
chịu trách nhiệm.
Ngoài những gợi ý mang hàm ý chính sách nêu trên, việc
xây dựng quy hoạch mạng lưới đơn vị sự nghiệp KH&CN trong
từng lĩnh vực, ngành nghề, vùng miền là rất cần thiết. Trong đó
cần ưu tiên phát triển những lĩnh vực là thế mạnh của KH&CN
trong nước và cần phải gắn chặt KH&CN với đổi mới sáng tạo,
bởi như thế sẽ làm cho KH&CN phù hợp hơn và nhanh chóng
được áp dụng vào thực tiễn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] M. Maggetti, K. Verhoest (2014), “Unexplored aspects of bureaucratic
autonomy: a state of the field and ways forward”, International Review of
Administrative Sciences, 80(2), pp.239-256.
[2] J.G. Christensen (2001), Bureacratic autonomy as a political asset,
University of Aarhus.
Kết luận
[3] K. Verhoest, et al. (2004), “The study of organizational autonomy: a
conceptual review”, Public Administration and Development, 24(2), pp.101-
181.
Năng lực tự ra quyết định của các đơn vị sự nghiệp KH&CN
về các vấn đề tự chủ quản lý, chính sách, bộ máy và tài chính phụ
thuộc vào mức độ tự chủ của đơn vị và chính sách trao quyền tự
chủ của Nhà nước. Qua kết quả phân tích ở trên cho thấy, sự cần
thiết phải thúc đẩy loại hình tự chủ hoàn toàn trong các đơn vị
sự nghiệp KH&CN. Các đơn vị sự nghiệp KH&CN tự chủ hoàn
toàn có sự tự chủ cao hơn trong quản lý và thiết lập các nhóm
mục tiêu, chính sách và công cụ để thực hiện các chính sách.
Đặc biệt, mức độ tự chủ khác biệt giữa đơn vị tự chủ hoàn toàn
và tự chủ một phần thể hiện rõ trong khía cạnh tự chủ tổ chức bộ
[4] Chính phủ (2015), Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 4/2/2015 quy
định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập.
[5] S. Van De Walle (2018), “Explaining variation in perceived managerial
autonomy and direct politicization in European public sectors”, International
Review of Administrative Sciences, 85, DOI:10.1177/0020852317748357.
[6] Bram Verschuere (2007), Measuring policy autonomy of public
organizations: conceptual and methodological issues, COBRA.
[7] Chính phủ (2016), Nghị định số 54/2016/NĐ-CP ngày 14/6/2016 quy
định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập.
63(4) 4.2021
64
Bạn đang xem tài liệu "Tự chủ trong các đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tu_chu_trong_cac_don_vi_su_nghiep_khoa_hoc_va_cong_nghe_o_vi.pdf

