Cải cách tiền lương trong khu vực ngoài Nhà nước
Cải cách tiền lương trong khu vực
ngoài Nhà nước
Tóm tắt chính sách - Tháng 05/2018
tối thiểu khác nhau, một mức cho các doanh nghiệp
đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và một mức cho tất
cả các doanh nghiệp khác.
Cải thiện cơ chế điều chỉnh lương tối
thiểu và củng cố thương lượng tập thể
trong khu vực ngoài Nhà nước
•
Với sự ra đời của Hội đồng Tiền lương Quốc
1.
Trong khu vực thị trường, tiền lương thường
gia, việc điều chỉnh lương tối thiểu đã trở thành 1) quy
trình có sự tham gia của ba bên (đại diện của Chính
phủ, tổ chức của người lao động và người sử dụng
lao động), 2) được thực hiện thường kỳ (có thời gian
biểu hàng năm rõ ràng cho việc điều chỉnh lương tối
thiểu), 3) thông qua quy trình thể chế của Hội đồng
Tiền lương Quốc gia. Hội đồng Tiền lương Quốc gia
điều chỉnh tiền lương tối thiểu cho bốn vùng khác
nhau trên cả nước.
được điều chỉnh thông qua đàm phán tự nguyện, theo
hình thức cá nhân hoặc tập thể, giữa người sử dụng
lao động và người lao động. Do cần thiết phải bảo vệ
người lao động ở dưới đáy của thị trường lao động, là
những đối tượng dễ bị tổn thương bởi mức lương cực
thấp và sự bóc lột lao động, các công cụ chính sách
quy định tiền lương tối thiểu bắt buộc được thiết lập
và áp dụng ở hầu khắp các quốc gia. Đồng thời, đàm
phán tự nguyện (thương lượng tập thể) giữa người sử
dụng lao động và các tổ chức công đoàn, công đoàn
doanh nghiệp hay công đoàn ngành, đã trở thành một
định chế chính để cùng điều chỉnh mức lương và điều
kiện làm việc trong nền kinh tế thị trường nhằm hỗ
trợ giải quyết sự mất cân đối về quyền thương lượng
giữa cá nhân người lao động và người sử dụng lao
động.
Lương tối thiểu và chuỗi cung ứng toàn
cầu
Lương tối thiểu có thể có tác động khác nhau lên
các nhóm người sử dụng lao động và người lao
động khác nhau. Các doanh nghiệp ở đáy của
chuỗi cung ứng toàn cầu có thể cảm thấy lợi thế
cạnh tranh về giá của họ phải chịu nhiều sức ép
vì lương và mức lương tối thiểu liên tục tăng trong
những năm gần đây. Nhưng xin đừng quên vế bên
kia của phương trình. Chẳng hạn, trong gần một
thập kỷ qua, giá gia công (hay còn gọi là giá CMT
– gồm cắt, may, ủi) cho một chiếc áo sơ mi hoặc
quần jeans mà các nhà cung cấp của Việt Nam
nhận được từ các công ty đa quốc gia vẫn hầu như
không thay đổi, thậm chí còn thấp hơn trong một
số trường hợp. Điều này giải thích vì sao những
người sử dụng lao động trong các ngành xuất khẩu
thường xuyên bị sức ép phải cải thiện hiệu quả của
nhà máy, giảm chi phí sản xuất với mong muốn giữ
chi phí lao động thấp để duy trì biên lợi nhuận (vốn
bị ép giữa một bên là lương tối thiểu tăng lên, cộng
các chi phí khác, và một bên là giá gia công thấp).
2.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy khi được thiết
kế chặt chẽ, tiền lương tối thiểu đem lại sự bảo vệ
hiệu quả cho người lao động khỏi việc bị trả lương quá
thấp mà không tạo ra tác động tiêu cực đối với việc
làm. Các minh chứng quốc tế cũng cho thấy thương
lượng tập thể góp phần vào sự ổn định xã hội bằng
cách giải quyết các mâu thuẫn giữa người sử dụng
lao động và người lao động bằng một quy trình thống
nhất để cùng điều chỉnh mức lương và điều kiện làm
việc, phù hợp với cá nhân từng doanh nghiệp và/hoặc
các ngành kinh tế cụ thể, trong khi cho phép người
lao động được chia sẻ thành quả tăng trưởng kinh tế
và năng suất công việc một cách công bằng. Kết hợp
lại hai yếu tố, tiền lương tối thiểu và thương lượng tập
thể đóng góp cho công bằng xã hội và kinh tế, giúp
cho xã hội tiến đến tăng trưởng toàn diện đóng góp
vào việc ổn định chính trị và xã hội của quốc gia.
Vì thế, các công ty đa quốc gia cần phải đối thoại
với các nhà cung cấp của Việt Nam và công đoàn
để đảm bảo sự phân chia công bằng của các thành
quả kinh tế và trách nhiệm xã hội. Chúng ta đều
biết nhiều nhãn hàng và công ty đa quốc gia đã
công bố các cam kết, thông qua các chương trình
CSR (trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp), nhằm
đảm bảo tuân thủ đầy đủ mức lương tối thiểu quốc
gia, và tôn trọng nguyên tắc tự do liên kết và thương
lượng tập thể.
3.
Sự ra đời của Hội đồng Tiền lương Quốc gia
năm 2013 là một tiến bộ lớn trong chính sách và
thông lệ điều chỉnh cơ chế tiền lương của Việt Nam
kể từ thời kỳ Đổi Mới vì những lý do sau:
•
Trước năm 2013, Chính phủ điều chỉnh tiền
lương tối thiểu không theo kế hoạch, không có sự
tham gia đầy đủ của đại diện công đoàn và các tổ
chức của người sử dụng lao động, với hai mức lương
1
Cải cách tiền lương trong khu vực ngoài Nhà nước
4.
Tiền lương tối thiểu đã tăng khá nhanh trong trong nước và tăng trưởng toàn diện. Do đó, quan
giai đoạn 2013-2016 (khoảng 13-15%) trước khi giảm trọng là phải thực hiện cách tiếp cận đảm bảo cân
xuống còn 7% (2017) và 6,5% (2018). Mặc dù mức đối giữa tăng năng suất và tăng lương. Đó là lý do
tăng tiền lương tối thiểu trong giai đoạn 2013-2016 tại sao một số nước như Nhật Bản và Singapore, các
được xem là để bù mức lương tối thiểu rất thấp năm đối tác ba bên thống nhất một số nguyên tắc về năng
2012, mức tăng lương tối thiểu quá nhanh cũng tạo ra suất (xem hộp dưới đây).
những quan ngại về sự xói mòn trong khả năng cạnh
tranh của ngành xuất khẩu Việt Nam, đặc biệt là giữa
người sử dụng lao động có mức lương thấp và ngành
công nghiệp xuất khẩu thâm dụng lao động như dệt
may, da giày và các ngành khác.
5.
Những nội dung thảo luận gần đây về cách
Ba nguyên tắc hướng dẫn về năng suất
lao động của Nhật Bản (1955)
thức cải thiện hay điều chỉnh trong sắp xếp xác định
tiền lương tối thiểu diễn ra trong bối cảnh nói trên.
Làm thế nào để đảm bảo mức độ cạnh tranh về giá
của các ngành công nghiệp xuất khẩu thâm dụng lao
động của Việt Nam trong khi vẫn đảm bảo được tiêu
chuẩn cơ bản cho đời sống của người lao động và
gia đình họ là mối quan tâm của chính phủ, người lao
động, người sử dụng lao động và các tổ chức của họ.
1. Việc cải thiện năng suất sẽ dẫn đến tăng số
lượng việc làm. Đối với lao động dư thừa trong
quá trình chuyển đổi, Chính phủ và khu vực
tư nhân sẽ phối hợp thực hiện các biện pháp
thích hợp để tránh thất nghiệp bằng cách như
phân phối lại lao động càng sớm càng tốt nhìn
từ góc độ nền kinh tế quốc gia.
6.
Công thức điều chỉnh tiền lương tối thiểu: Khi
điều chỉnh tiền lương tối thiểu, một số yếu tố thường
được cân nhắc. 1) Tốc độ tăng trưởng GDP, được coi
như một biện pháp để tăng năng suất, 2) Chỉ số giá
tiêu dùng (CPI) để đảm bảo sức mua của người lao
động và gia đình họ. Bên cạnh đó, tỷ lệ tiền lương
tối thiểu so với mức lương trung vị của tất cả người
lao động (được gọi là chỉ số Kaitz) thường được xem
xét để đánh giá tác động của tiền lương tối thiểu đối
với việc phân bổ tiền lương của toàn bộ lực lượng
lao động, trong khi sự khác biệt về chi phí sinh hoạt
giữa các vùng cũng được tính đến khi điều chỉnh mức
lương tối thiểu vùng. Mức độ quan trọng của mỗi yếu
tố thay đổi theo thời gian và ở các nước khác nhau,
phụ thuộc vào bối cảnh quốc gia và các giai đoạn
phát triển kinh tế. Một số quốc gia (như Bỉ) có công
thức điều chỉnh lương tối thiểu hoàn hảo giảm thiểu
xung đột giữa các đối tác ba bên, đồng thời tăng tính
dự đoán cho các tác nhân kinh tế - Chính phủ, doanh
nghiệp và người lao động. Chính phủ và các đối tác
xã hội cần thiết phải xây dựng một tầm nhìn chính
sách dài hạn về vai trò của tiền lương tối thiểu và xây
dựng sự đồng thuận về công thức điều chỉnh lương
tối thiểu.
2. Về các phương pháp cụ thể để tăng năng
suất, người lao động và nhà quản lý sẽ phối
hợp nghiên cứu và tham vấn phù hợp với điều
kiện thực tế của doanh nghiệp có liên quan.
3. Thành quả của việc cải thiện năng suất sẽ
được phân phối công bằng giữa đội ngũ quản
lý, công đoàn và người tiêu dùng phù hợp với
điều kiện thực tế của nền kinh tế quốc gia.
Nguyên tắc về tăng năng suất và tiền
lương của Trung Quốc
Trong thời kỳ đầu cải cách nền kinh tế thị trường
của Trung Quốc, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ 14 năm 1992, Trung Quốc đã thông qua
một nguyên tắc chỉ đạo mức tăng lương không
được cao hơn tăng năng suất. Tuy nhiên, khi
sự mất cân đối của nền kinh tế Trung quốc trở
thành một thách thức chủ yếu, Trung Quốc đã
sửa đổi nguyên tắc về năng suất-tiền lương tại
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 18 năm 2012:
tăng lương và tăng năng suất cần song hành
và quản lý doanh nghiệp và người lao động cần
cùng nhau điều chỉnh tiền lương (thông qua
thương lượng tập thể).
7.
Về câu hỏi liên quan đến tăng năng suất và
tiền lương: Khi lương liên tục tăng nhanh hơn tăng
năng suất sẽ làm suy yếu khả năng cạnh tranh của
các ngành công nghiệp xuất khẩu trên thị trường toàn
cầu. Đồng thời, nếu tăng lương chậm hơn tăng năng
suất sẽ làm tình trạng phân phối thu nhập giữa người
sử dụng lao động và người lao động xấu hơn, dẫn
tới giảm tỷ trọng tiền lương trong GDP với những ảnh
hưởng tiêu cực tiềm ẩn đến việc thúc đẩy tiêu dùng
2
Tóm tắt chính sách - Tháng 05/2018
công thấp một cách thường xuyên và có thể dự đoán
được. Việc điều chỉnh lương tối thiểu trở nên không
thường xuyên và không dự đoán được có thể dẫn đến
số lượng các cuộc đình công tự phát tăng lên.
Tiền lương và cầu nội địa
Chúng ta cần nhìn vào những tác động tích
cực mà mức lương tối thiểu mới có thể giúp
tăng cầu nội địa. Lương tối thiểu không chỉ ảnh
hưởng đến người lao động có mức lương dao
động quanh mức sàn này, mà còn tác động
đến cả những người nhận lương cao hơn thông
qua việc điều chỉnh thang bảng lương trong
doanh nghiệp. Điều đó có nghĩa là lương tối
thiểu tăng có thể giúp cải thiện thu nhập của
đa số người lao động, từ đó tăng tiêu thụ nội
địa và góp phần đem lại mức tăng trưởng GDP
cao hơn.
9.
Tác động pháp lý của quyết định về lương tối
thiểu: Hiện nay, khi Hội đồng Tiền lương Quốc gia ra
quyết định về điều chỉnh lương tối thiểu cho năm tiếp
theo, mức lương tối thiểu sẽ được thực thi thông qua
nghị định của Chính phủ. Trên thế giới có nhiều cách
thức khác nhau đưa ra hiệu lực của việc điều chỉnh
lương tối thiểu. Ở một số quốc gia, lương tối thiểu
được điều chỉnh bằng các thỏa ước tập thể thông qua
thương lượng tập thể mà không có sự can thiệp của
chính phủ, và thỏa ước tập thể có hiệu lực ràng buộc
trong một số ngành hay khu vực nhất định và có thể
được thực thi bởi thanh tra lao động. Cách làm này
rất hiếm được áp dụng ở Châu Á. Ở các nước khác
(như Mỹ), Quốc hội quyết định mức lương tối thiểu
liên bang và có hiệu lực thực thi pháp luật. Ở các nước
khác nữa, Tổng thống hay Thủ tướng hay Bộ trưởng
Bộ Lao động sẽ quyết định hiệu lực pháp lý bằng việc
thông báo về quyết định chính thức của họ khi nhận
Bởi vậy, khi điều chỉnh lương tối thiểu, chúng ta
cần nhìn vào nhiều tác động khác nhau mà sự
thay đổi này có thể dẫn tới ở các ngành khác
nhau, các doanh nghiệp có năng suất thấp
cũng như cao, và toàn bộ nền kinh tế.
8.
Mức độ thường xuyên của việc điều chỉnh được khuyến nghị của cơ quan điều chỉnh lương tối
lương tối thiểu và khả năng dự báo: Khuyến nghị tiêu thiểu. Thông thường, Tổng thống hay Thủ tướng hay
chuẩn của ILO là việc điều chỉnh lương tối thiểu cần Bộ trưởng Bộ Lao động được kỳ vọng hoàn toàn tuân
được thực hiện thường xuyên. Có ba vấn đề chính theo khuyến nghị của cơ quan điều chỉnh lương tối
liên quan đến việc điều chỉnh lương tối thiểu không thiểu mà không sửa đổi gì. Việt Nam có thể cân nhắc
thường xuyên: 1) Nó xóa bỏ tính dự báo của cơ chế việc Thủ tướng có thẩm quyền ra quyết định, dựa trên
điều chỉnh điều chỉnh mức lương và việc không thể dự khuyến nghị của Hội đồng Tiền lương Quốc gia, thay
báo đó có xu hướng tạo ra môi trường không thuận vì việc phải ban hành nghị quyết thường mất nhiều
lợi đối với công tác lập kế hoạch và sự phát triển của thời gian.
doanh nghiệp; 2) Nếu lương tối thiểu được điều chỉnh
sau vài năm không điều chỉnh, nó sẽ đòi hỏi việc điều 10.
Điều chỉnh lương tối thiểu dựa trên bằng
chỉnh diễn ra đột ngột và với biên độ lớn, gây sốc cho chứng: Hiện nay không rõ lương tối thiểu được điều
doanh nghiệp và 3) Vì thế, việc quyết định điều chỉnh chỉnh dựa trên cơ sở nào. Hệ thống điều chỉnh mức
sẽ khó khăn hơn. Kết hợp lại, điều này khiến cho các lương tối thiểu đòi hỏi một số điều kiện cốt lõi như:
thiết chế điều chỉnh lương tối thiểu không phù hợp và 1) số liệu thống kê thường xuyên và đáng tin cậy
kém hiệu quả. Đó là lý do vì sao ILO đặc biệt khuyến về mức lương và thị trường lao động, giúp cho các
nghị các quốc gia thành viên nên thực hiện điều chỉnh nhà hoạch định chính sách và đối tác xã hội có thể
lương tối thiểu thường xuyên. Hội đồng Tiền lương đánh giá các tác động dự kiến của lương tối thiểu
Quốc gia có thể quyết định không tăng lương tối thiểu đối với vấn đề tiền lương và việc làm, 2) năng lực
trong một vài năm nhưng đó cần phải là quyết định chuyên môn của ban thư ký cơ quan điều chỉnh lương
của các đối tác ba bên và cần được thông báo theo tối thiểu (Hội đồng Tiền lương Quốc gia) trong việc
thời gian biểu đã xây dựng cho việc điều chỉnh lương thu thập và phân tích số liệu thống kê về tiền lương
tối thiểu.
và việc làm và xây dựng báo cáo kỹ thuật cho các
•
Rủi ro của quan hệ lao động không ổn định: nhà hoạch định chính sách ba bên để ra quyết định
Số lượng các cuộc đình công tự phát tại Việt Nam đã điều chỉnh mức lương tôi thiểu dựa trên bằng chứng.
giảm đáng kể kể từ năm 2012 và duy trì ổn định cho Thông thường, cơ quan điều chỉnh lương tối thiểu
tới năm 2017. Mặc dù sự ổn định về giá là yếu tố quan gồm có các chuyên gia (các nhà nghiên cứu chuyên
trọng nhất quyết định sự ổn định tương đối của quan về luật lao động, kinh tế lao động) có thể trình bày
hệ lao động, nhiều khả năng việc điều chỉnh lương tối quan điểm và đưa ra khuyến nghị dựa trên năng lực
thiểu thường xuyên kể từ năm 2014 cũng góp phần chuyên môn nhằm đánh giá tác động tiềm năng của
vào sự ổn định tương đối này, do điều này có thể phần việc điều chỉnh lương tối thiểu đối với vấn đề việc làm
nào đảm bảo tăng lương cho người lao động được trả và tiền lương. Việt Nam cũng có thể cân nhắc đưa
3
Cải cách tiền lương trong khu vực ngoài Nhà nước
thêm một số chuyên gia độc lập tham gia quá trình ra chỉnh lương tối thiểu theo giờ, cần có sự diễn giải
quyết định của Hội đồng Tiền lương Quốc gia. Ví dụ Điều 104 của Bộ luật Lao động 2012 để tính toán số
cụ thể là Ủy ban trả lương thấp của Vương Quốc Anh giờ làm việc thông thường hợp pháp hàng tháng, mà
và Hội đồng Tiền lương Tối thiểu Quốc gia của Hàn hiện tại điều khoản này chưa rõ ràng về mặt pháp lý.
Quốc.
Thúc đẩy thương lượng tập thể
11.
Giám sát và đánh giá tác động của lương tối
thiểu: Việc giám sát và đánh giá một cách hiệu quả
tác động của lương tối thiểu đóng vai trò quan trọng
cho việc điều chỉnh mức lương tối thiểu dựa trên
bằng chứng nhằm tối đa hóa tác động tích cực trong
khi giảm thiểu tác động tiêu cực. Để có thể làm được
điều này cần có số liệu về thị trường lao động dưới
đây.
•
Tác động về việc làm: Điều tra lực lượng lao
động
•
13.
Chính sách lương tối thiểu là công cụ chính
Về phân phối tiền lương (theo cá nhân người
sách về tiền lương còn hạn chế, chủ yếu được thiết kế
để bảo vệ người lao động thu nhập thấp khỏi việc bị
bóc lột vì bị trả lương quá thấp. Không có nghiên cứu
thống kê nào chỉ ra tác động của lương tối thiểu đối
với vấn đề phân phối tiền lương của người lao động
ở Việt Nam. Tuy nhiên, có nhiều lý do để tin rằng việc
điều chỉnh lương tối thiểu tác động đến số lượng
lớn người lao động không chỉ là người lao động thu
nhập thấp ở Việt Nam. Đó là vì các quy định về bảng
lương với yêu cầu cụ thể về sự khác biệt về lương
giữa người lao động ở các bậc lương khác nhau trong
doanh nghiệp. Điều này có thể tạo ra hiệu ứng lan
tỏa của lương tối thiểu đối với toàn thể lực lượng lao
động trong khu vực tư nhân.
lao động) để đánh giá hiệu ứng lan tỏa và tác động
đột biến: Khảo sát cơ cấu tiền lương doanh nghiệp
•
Về phân phối thu nhập (theo hộ gia đình) để
xem xét tác động của thu nhập đối với các gia đình
lao động nghèo: Điều tra thu nhập và chi tiêu hộ gia
đình
•
Không tuân thủ pháp luật và hiệu quả: Khảo
sát cơ cấu tiền lương doanh nghiệp, Điều tra lực
lượng lao động
12.
Bao nhiêu mức lương tối thiểu?: Hiện tại Hội
đồng Tiền lương Quốc gia điều chỉnh bốn mức lương
tối thiểu cho bốn vùng. Xét đến sự khác biệt về chi
phí sinh hoạt và giá cả ở bốn vùng, hệ thống hiện
tại là phù hợp. Xu hướng toàn cầu là đơn giản hóa
mức lương tối thiểu hơn là làm cho nó phức tạp lên.
Quá nhiều mức lương tối thiểu theo vùng và ngành,
đặc biệt là khi mức lương tối thiểu không được điều
phối một cách hợp lý (như Indonesia), có thể tạo nên
một số vấn đề: 1) tỷ lệ không tuân thủ cao do doanh
nghiệp và người lao động thường không chắc chắn
mức lương tối thiểu nào được áp dụng đối với họ; 2)
điều này dẫn đến sự gia tăng thương lượng tập thể.
14.
Trong các nền kinh tế thị trường, cần lưu ý
rằng điều chỉnh lương cần được thực hiện thông qua
đàm phán tự nguyện giữa người lao động và người sử
dụng lao động, đặc biệt là thương lượng tập thể giữa
các tổ chức đại diện của người lao động và người
sử dụng lao động (và các tổ chức của họ, khi thích
hợp). Chính phủ tránh can thiệp trực tiếp vào việc
điều chỉnh lương trong các doanh nghiệp tư nhân. Ở
rất nhiều nền kinh tế thị trường tiên tiến, phần đa tiền
lương của người lao động được điều chỉnh bằng các
thỏa ước tập thể, được đàm phán thông qua thương
lượng tập thể. Không giống như tiền lương tối thiểu
bắt buộc áp dụng cho mọi người lao động có liên
quan bất kể điều kiện kinh tế và xã hội cụ thể của
doanh nghiệp hay ngành nào, việc điều chỉnh mức
lương thông qua thương lượng tập thể cho phép các
tổ chức của người lao động và người sử dụng lao
động xem xét một cách đầy đủ các điều kiện cụ thể
của doanh nghiệp và người lao động có liên quan.
Do vậy thương lượng tập thể mang lại một công cụ
linh hoạt cho người lao động và người sử dụng lao
động trong việc quyết định mức lương phù hợp với
điều kiện của họ.
•
Câu hỏi về lương tối thiểu theo giờ và theo
tháng: Ở nhiều quốc gia bao gồm cả Trung Quốc và
Hàn Quốc, khi mức lương tối thiểu mới được quyết
định, mức lương này được thể hiện cả theo giờ và
theo tháng. Hiện nay, Hội đồng Tiền lương Quốc
gia của Việt Nam mới chỉ quyết định mức lượng tối
thiểu theo tháng. Cần nghiêm túc xem xét việc điều
chỉnh mức lương tối thiểu theo giờ bằng cách chia
mức lương tối thiểu theo tháng cho số giờ làm việc
thông thường hợp pháp trong một tháng. Xét đến các
hình thức làm việc đa dạng, bao gồm công việc bán
thời gian và công việc trong khu vực kinh tế phi chính
thức, mức lương lương tối thiểu theo giờ sẽ giúp việc
thực thi lương tối thiểu rõ ràng hơn. Tuy nhiên, để điều
4
Tóm tắt chính sách - Tháng 05/2018
15.
Tuy nhiên, thương lượng tập thể còn chưa
Phải làm gì nếu người sử dụng lao động
chỉ trả lương tối thiểu hoặc cao hơn
lương tối thiểu một chút?
phát triển ở Việt Nam. Các thỏa ước lao động tập thể
thường chỉ ở mức cao hơn một chút các điều kiện
làm việc tối thiểu hợp pháp, không phải là sản phẩm
của đàm phán tự nguyện thực chất giữa đại diện của
người lao động và người sử dụng lao động. Hai trong
số các vấn đề ở đây cần sự quan tâm của các nhà
hoạch định chính sách, các nhà làm luật và các đối
tác xã hội.
Trong một số trường hợp, người sử dụng lao động
có thể chỉ tăng lương cao hơn một chút so với mức
lương tối thiểu, trong khi họ có khả năng trả lương
cao hơn. Đây chính là điều mà Nghị định 49/2013/
NĐ-CP của Chính phủ (hiện đang được sửa đổi) về
tiền lương (thang bảng lương), điều chỉnh, bằng
cách quy định mức phần trăm tăng lương cao hơn
nhất định cho nhóm lao động có kỹ năng và có kinh
nghiệm, so với lương tối thiểu. Mục đích của Nghị
định 49 (nhằm tránh tình trạng lương tối thiểu hoặc
mức lương cao hơn lương tối thiểu một chút trở
thành mức lương thực tế của người lao động) là
mục đích tốt, nhưng cách tiếp cận của nghị định
này lại là một câu hỏi trong bối cảnh nền kinh tế thị
trường hiện đại.
16.
Vấn đề thứ nhất liên quan đến việc bảo vệ
hiệu quả những người lãnh đạo công đoàn cơ sở và/
hoặc đại diện của người lao động để họ không trở
thành nạn nhân của những thực hành lao động không
công bằng: lãnh đạo công đoàn cơ sở và đại diện của
người lao động thường lo sợ bị mất việc hoặc bị phân
biệt đối xử nếu họ lên tiếng thay mặt cho người lao
động. Vì thế lãnh đạo công đoàn cơ sở và đại diện
của người lao động cần thiết phải được bảo vệ nhiều
hơn và hiệu quả hơn khỏi những hành vi phân biệt đối
xử của chủ sử dụng lao động đối với những công việc
họ làm liên quan đến công tác công đoàn và thương
lượng tập thể. Nếu không, thương lượng tập thể để
quyết định tiền lương và điều kiện làm việc không thể
đạt được hiệu quả tại Việt Nam.
Trong các nền kinh tế thị trường hiện đại, hệ thống
chi trả tiền lương ở các ngành, các nghề khác nhau
thì cũng khác nhau. Trả lương có thể dựa trên kinh
nghiệm (số năm làm việc), nội dung công việc, kỹ
năng, năng suất (cá nhân và/hoặc tập thể), doanh
số bán hàng, lợi nhuận,… Ngoài lương tối thiểu,
Chính phủ không thể điều tiết cách thức tiền lương
được tăng lên trong doanh nghiệp ở nhiều ngành
nghề khác nhau. Một số người sử dụng lao động
đặt câu hỏi về Nghị định 49, bởi văn bản này có thể
lấy đi khả năng linh hoạt của doanh nghiệp trong
điều chỉnh tiền lương tùy theo nhu cầu và tình hình
của ngành và bản thân doanh nghiệp. Vấn đề này
có thể được giải quyết chủ yếu bằng việc tạo ra
môi trường thuận lợi cho người lao động, thông
qua công đoàn, và người sử dụng lao động để đàm
phán tiền lương và điều kiện làm việc, thông qua
thương lượng tập thể.
17.
Vấn đề thứ hai liên quan đến thực tế phổ biến
– lãnh đạo công đoàn cơ sở lại là quản lý cấp trung
hoặc cấp cao của doanh nghiệp. Ở hầu hết các quốc
gia, việc lãnh đạo doanh nghiệp can thiệp hay thao
túng công đoàn là hoàn toàn bị cấm, bởi quan hệ lao
động hiện đại được xây dựng trên nguyên tắc tách
bạch giữa chức năng quản lý doanh nghiệp và công
đoàn, vì công đoàn là tổ chức đại diện cho tiếng nói
của người lao động, quyền công đoàn là quyền của
người lao động. Trong điều kiện hiện nay, sự đại diện
hiệu quả cho người lao động thông qua công đoàn
trong quá trình thương lượng tập thể là khó, nếu
không muốn nói là không thể. Điều này không thể
thay đổi trong một sớm một chiều. Nhưng những nỗ
5
Cải cách tiền lương trong khu vực ngoài Nhà nước
lực mang tính hệ thống, bao gồm việc sửa đổi những 20.
Do vậy, Chương 5 và 13 của Bộ Luật Lao động
điều khoản có liên quan trong Bộ Luật Lao động và 2012 cần được sửa đổi theo hướng đảm bảo sự tách
Luật Công đoàn, sẽ thay đổi tình hình dần dần nhưng bạch về quản lý doanh nghiệp với các vấn đề công
với những bước tiến vững chắc, giúp quan hệ lao động đoàn và tính độc lập của công đoàn doanh nghiệp
hiện đại hoạt động tốt tại Việt Nam, cho phép người không bị can thiệp bởi người sử dụng lao động. Thêm
lao động và người sử dụng lao động có thể đàm phán vào đó, là quốc gia thành viên của ILO, Việt Nam
một cách tự nguyện để quyết định tiền lương, điều được kỳ vọng tôn trọng và thúc đẩy các công ước cơ
kiện làm việc và mối quan hệ giữa hai bên.
bản của ILO, bao gồm các công ước Việt Nam vẫn
chưa phê chuẩn. Hai trong số 3 công ước chưa phê
18.
Một phương thức hiệu quả thúc đẩy đàm chuẩn này là Công ước số 98 về Quyền được tổ chức
phán tập thể về tiền lương là thông qua Hội đồng và thương lượng tập thể, và Công ước số 87 về Tự
Tiền lương Quốc gia. Nếu Hội đồng Tiền lương Quốc do liên kết và bảo vệ quyền được tổ chức, yêu cầu
gia có thể đưa ra một khuyến nghị ba bên khuyến các quốc gia thành viên của ILO phải đảm bảo bảo vệ
khích đại diện công đoàn và người sử dụng lao động công đoàn khỏi sự can thiệp của người lao động và
ở cấp ngành, khu công nghiệp và doanh nghiệp đàm các thực hành lao động không công bằng.
phán về lương, trong khi thông báo mức tiền lương
tối thiểu cho năm tiếp theo, điều đó có thể giúp đẩy
Thương lượng tập thể hiệu quả giúp
chia sẻ công bằng thành quả kinh tế
mạnh thương lượng về tiền lương tại các cấp bên
dưới. Cách làm này có thể giúp công đoàn và người
sử dụng lao động đàm phán về lương vào giai đoạn
giữa thời điểm thông báo mức lương tối thiểu mới và
thời điểm năm tiếp theo, để xác định mức lương thực
tế thông qua đàm phán và đối thoại tự nguyện, có tính
đến mức lương tối thiểu mới cho năm tiếp theo.
Theo Báo cáo Tiền lương Toàn cầu của ILO, thương
lượng tập thể ở mức cao hơn và hiệu quả góp phần
chia sẻ thành quả kinh tế công bằng hơn. Khi GDP
trên đầu người tăng 1%, tiền lương tăng 0,87% ở
những quốc gia có độ bao phủ thương lượng tập
thể cao hơn 30%. Nếu xu hướng này tiếp tục như
vậy, những quốc gia có độ bao phủ thương lượng
tập thể thấp hơn sẽ có khoảng cách về thu nhập và
tiền lương giữa người lao động và người sử dụng
lao động ngày càng lớn. Độ bao phủ thương lượng
tập thể đề cập tới tỷ lệ phần trăm người lao động có
lương và điều kiện làm việc được quyết định thông
qua thương lượng tập thể.
19.
Thương lượng tập thể hiệu quả đóng góp cho
sự ổn định chính trị và xã hội bằng việc tạo ra các
kênh có trật tự thông qua đó người lao động và người
sử dụng lao động có thể tìm ra các giải pháp về tiền
lương, điều kiện làm việc và mối quan hệ của họ mà
đôi bên đều có thể chấp nhận được. Nghiên cứu trên
toàn cầu cũng cho thấy các quốc gia có tỷ lệ thương
lượng tập thể cao hơn thì có thể đảm bảo tăng trưởng
toàn diện khi mức lương gắn liền với tăng năng suất.
Thông tin liên hệ:
Văn phòng ILO tại Việt Nam
48-50 Nguyễn Thái Học, Hà Nội, Việt Nam
ĐT: (84-24) 37340907
Email: [email protected]g
Facebook: www.facebook.com/Vietnam.ILO
Đây là sản phẩm của Dự án Khung khổ Quan hệ Lao động mới (NIRF) với sự tài trợ của Bộ Lao động Hoa Kỳ. Các tuyên bố này không
nhất thiết phản ánh quan điểm hoặc chính sách của Bộ Lao động Hoa Kỳ, và các tên thương mại, sản phẩm thương mại hoặc tổ chức
được đề cập không có nghĩa bao hàm sự chứng thực của Bộ Lao động Hoa Kỳ.
6
Bạn đang xem tài liệu "Cải cách tiền lương trong khu vực ngoài Nhà nước", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
cai_cach_tien_luong_trong_khu_vuc_ngoai_nha_nuoc.pdf

