Công tác thu hút nguồn lực trí thức người Việt Nam ở nước ngoài của Đảng cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới

NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TRONG NƯỚC  
_____________________________________________________________________________________  
CÔNG TÁC THU HÚT NGUỒN LỰC TRÍ THỨC NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI  
CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI  
Mai Quốc Dũng  
Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm Tp.HCM  
Tóm tắt:  
Kế thừa và phát huy truyền thống lâu đời, tốt đẹp của dân tộc coi “hiền tài là nguyên khí  
của quốc gia”, Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Việt Nam đã có những chủ trương, chính  
sách phù hợp để tập hợp, đoàn kết, xây dựng, phát huy mạnh mẽ vai trò của trí thức, trong đó có  
trí thức người Việt Nam ở nước ngoài, tạo điều kiện và động lực để họ tự do nghiên cứu, sáng  
tạo và công hiến. Những kết quả đạt được trong công tác thu hút, phát huy nguồn lực trí thức  
kiều bào trong thời gian qua đã khẳng định đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước, tuy  
nhiên vẫn còn tồn tại những hạn chế, rào cản. Thực trạng đó cần được nhìn nhận thẳng thắn, để  
đề ra những chính sách phù hợp, phát huy hơn nữa kết quả đạt được, khắc phục những hạn chế,  
rào cản.  
Từ khóa: nguồn lực, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài, kiều bào  
1. Thực tiễn công tác thu hút  
nguồn lực trí thức người Việt Nam ở  
nước ngoài  
NVNONN, đặc biệt là về khoa học và công  
nghệ, về vốn, về khả năng tạo mối quan hệ  
giữa các tổ chức và cá nhân ở nước ngoài  
với nước ta là một lợi thế và một nguồn lực  
quan trọng cần phải phát huy để bổ sung và  
Về đề NVNONN nói chung và trí  
thức NVNONN nói riêng là một vấn đề lớn,  
luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm,  
luôn xác định kiều bào là máu thịt, là nguồn  
lực của dân tộc. Chính quan điểm nhất quán  
đó, đã thu hút được sự đóng góp của kiều  
bào vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng tổ  
quốc. Đặc biệt từ năm 1986, khi Nhà nước  
ta bắt đầu thực hiện chính sách đổi mới, mở  
cửa, tri thức kiều bào đã tăng cường các mối  
quan hệ làm ăn với trong nước. Công cuộc  
đổi mới của Việt Nam thu được nhiều thành  
tựu quan trọng đã làm tăng thêm lòng tin  
của trí thức kiều bào đối với công cuộc phát  
triển đất nước và tương lai của dân tộc, vì  
thế đã tiếp tục thu hút được ngày càng nhiều  
người trong tầng lớp trí thức gắn bó với đất  
nước.  
2
hỗ trợ cho sự phát triển của đất nước” , từ  
đó nghị quyết đề ra chính sách và biện pháp  
lớn như sau: “Khuyến khích và tạo điều kiện  
dễ dàng để kiều bào chuyển giao tri thức,  
công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến”  
2
.
Trên cơ sở tổng kết kết quả 10 năm  
thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW, lần đầu  
tiên một nghị quyết công khai về công tác  
này đó là Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày  
26-3-2004 của Bộ Chính trị về Công tác đối  
với người Việt Nam ở nước ngoài, nghị  
quyết nêu nhiệm vụ chủ yếu sau: “Hoàn  
chỉnh và xây dựng mới hệ thống chính sách  
thu hút, trọng dụng nhân tài, phát huy sự  
đóng góp của trí thức kiều bào vào công  
cuộc phát triển đất nước. Xây dựng chế độ  
đãi ngộ thỏa đáng đối với những chuyên gia,  
trí thức NVNONN có trình độ chuyên môn  
cao, có khả năng tư vấn về quản lý, điều  
hành, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật cao  
cho đất nước, góp phần phát triển nền văn  
hóa, nghệ thuật của nước nhà; Xây dựng và  
hoàn thiện các chính sách tạo thuận lợi và  
Bước ngoặt quan trong đối với công  
tác NVNONN khi lần đầu tiên có một nghị  
quyết riêng về công tác đối này, đó là Nghị  
quyết 08-NQ/TW ngày 29-11-1993 của Bộ  
Chính trị về Chính sách và công tác đối với  
người Việt Nam ở nước ngoài, nghị quyết  
xác định: “Tiềm lực của cộng đồng  
47  
THÔNG TIN KHOA HỌC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - SỐ 5 (54)-2019  
NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TRONG NƯỚC  
_____________________________________________________________________________________  
khuyến khích các ngành, các trung tâm  
nghiên cứu khoa học - công nghệ, văn hóa  
nghệ thuật, giáo dục - đào tạo, y tế, thể dục -  
thể thao, các cơ sở sản xuất, dịch vụ... ở  
trong nước mở rộng hợp tác, thu hút sử  
dụng chuyên gia, trí thức NVNONN tham  
gia công việc ở trong nước, làm việc cho các  
chương trình, dự án hợp tác đa phương và  
song phương của Việt Nam với nước ngoài  
hoặc trong các tổ chức quốc tế có chỉ tiêu  
dành cho người Việt Nam và tư vấn trong  
các quan hệ giữa Việt Nam với đối tác nước  
ngoài” 3.  
NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về công  
tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài  
trong tình hình mới, chỉ thị nêu nhiệm vụ và  
giải pháp: “Rà soát, bổ sung hoàn thiện cơ  
chế, chính sách và pháp luật tạo hành lang  
pháp lý thuận lợi để NVNONN về đầu tư,  
sản xuất kinh doanh, góp phần vào thu hút  
đầu tư, chuyển giao công nghệ từ các nước  
vào Việt Nam và thúc đẩy xuất khẩu, hỗ trợ  
đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài. Có  
chính sách thu hút, sử dụng chuyên gia, trí  
thức NVNONN, nhất là trong các lĩnh vực  
thiết yếu, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp  
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” 6.  
Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 6-8-  
2008 của Ban chấp hành Trung ương Đảng  
về Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ  
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất  
nước, tiếp tục khẳng định lại đường lối, chủ  
trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước và đề  
ra các giải pháp thực hiện trong bối cảnh  
mới, trong đó có giải pháp thu hút và phát  
huy vai trò của trí thức NVNONN, nghị  
quyết khẳng định: “Trí thức Việt Nam xuất  
thân từ nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội, nhất  
là từ công nhân và nông dân; phần lớn  
trưởng thành trong xã hội mới, được hình  
thành từ nhiều nguồn đào tạo ở trong và  
ngoài nước, với nhiều thế hệ nối tiếp nhau,  
trong đó có bộ phận trí thức người Việt Nam  
ở nước ngoài… Ða số trí thức Việt Nam ở  
nước ngoài luôn hướng về Tổ quốc; nhiều  
người đã về nước làm việc, hoạt động trong  
các lĩnh vực khác nhau, có những đóng góp  
thiết thực vào sự nghiệp phát triển đất  
Cụ thể hóa chủ trương, chính sách  
của Đảng, Chính phủ ban hành các chương  
trình hành động, nghị định thực hiện nghị  
quyết của Đảng. Đặc biệt Nghị định số  
87/2014/NĐ-CP ngày 22-9-2014 của Chính  
phủ quy định về Thu hút cá nhân hoạt động  
khoa học và công nghệ là người Việt Nam ở  
nước ngoài và chuyên gia nước ngoài tham  
gia hoạt động khoa học và công nghệ tại  
Việt Nam, đây là nghị định đầu của Chính  
phủ liên quan trực tiếp tới công tác thu hút  
trí thức NVNONN. Nghị định đã nêu các  
chính thu hút cụ thể như: Chính sách về xuất  
nhập cảnh và cư trú; chính sách về tuyển  
dụng, lao động, học tập; chính sách tiền  
lương; chính sách về nhà ở; chính sách về  
tiếp cận thông tin; chính sách về khen  
thưởng, vinh danhvaf một số chính sách  
khác. Các chính sách đã đề cập cơ bản các  
vấn đề mà trí thức NVNONN mong mỏi, tạo  
hành lang pháp lý quan trọng cho các địa  
phương, cơ quan mạnh dạn đề ra kế hoạch  
thu hút trí thức kiều bào theo nhu cầu thực  
tiễn.  
4
nước” . Từ vị trí, vai trò như vậy nghị  
quyết đề ra nhiệm vụ: “Xây dựng chính  
sách thu hút, tập hợp trí thức Việt Nam ở  
trong và ngoài nước tích cực tham gia hiến  
kế, hợp tác đào tạo, nghiên cứu khoa học,  
chuyển giao công nghệ mới... Trọng dụng,  
tôn vinh những trí thức có đóng góp thiết  
thực, hiệu quả vào sự nghiệp công nghiệp  
hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc  
Từ những chủ trương, chính sách của  
Đảng và Nhà nước hàng năm có khoảng 300  
lượt trí thức người Việt Nam ở các nước  
phát triển như Mỹ, Pháp, Cộng hòa Liên  
bang Đức, Nhật, Australia... về nước làm  
việc với các bộ ngành, địa phương, các cơ  
quan nghiên cứu khoa học hoặc các cơ sở  
sản xuất, chế biến sản phẩm; trong đó có  
5
tế” .  
Ngày 19-5-2015, Bộ Chính trị ban  
hành Chỉ thị số 45-CT/TW về việc Tiếp tục  
đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 36-  
43  
THÔNG TIN KHOA HỌC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - SỐ 5 (54)-2019  
NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TRONG NƯỚC  
_____________________________________________________________________________________  
một số người đã được mời làm tư vấn cho  
Thủ tướng Chính phủ. Một số lĩnh vực đang  
nghiên cứu hợp tác có hiệu quả như tin học  
và ứng dụng tin học, điện tử, viễn thông, y  
học, vật liệu cômposit, giáo dục-đào tạo, tài  
chính-kế toán, ngân hàng, xây dựng, công  
nghệ in, chế biến và bảo quản thực phẩm,  
giống cây, nuôi trồng thủy sản, xử lý chất  
thải công nghiệp... Đặc biệt, giai đoạn 3 năm  
2015, 2016 và 2017 đánh dấu quá trình hợp  
tác sôi động với mật độ liên tục, diễn ra trên  
khắp các lĩnh vực giữa trí thức kiều bào với  
trong nước với một số sự kiện tiêu biểu như:  
Diễn đàn Chuyên gia trí thức NVNONN với  
phát triển kinh tế và hội nhập của Việt Nam  
giai đoạn 2016 – 2020 do Bộ Ngoại giao  
phối hợp với Ban Kinh tế TW và Nhóm  
Sáng kiến Việt Nam tổ chức, với sự tham dự  
của hơn 100 đại biểu, trong đó hơn 30 người  
là các chuyên gia kinh tế, tài chính, luật,  
hành chính công đang làm việc tại các  
trường đại học của Mỹ, Pháp, Úc, Nhật… và  
các tổ chức quốc tế; Hội nghị NVNONN đã  
thu hút khoảng 500 trí thức, doanh nhân, nhà  
hoạt động xã hội là người Việt Nam đang  
sinh sống tại 36 quốc gia và vùng lãnh thổ  
trên thế giới, tham gia đóng góp ý kiến phát  
triển kinh tế, khoa học, nhân lực cho thành  
phố Hồ Chí Minh. Diễn đàn kết nối các  
doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo của  
người Việt tại Mỹ và Việt Nam” tại San  
Francisco và New York, Mỹ, tổ chức tháng  
12-2017 thu hút sự tham dự của gần 150 đại  
biểu bao gồm các cơ quan chức năng và  
doanh nghiệp khởi nghiệp của Việt Nam, đại  
diện một số quỹ đầu tư, vườn ươm khởi  
nghiệp, chuyên gia khởi nghiệp của Mỹ và  
các doanh nghiệp khởi nghiệp thành công  
của người Việt tại Mỹ 7.  
được nhiều. Nhiều trí thức NVNONN mong  
muốn đóng góp trí tuệ và tâm huyết của  
mình cho đất nước, nhưng họ không biết  
trong nước cần gì và làm thế nào để có thể  
đóng góp, trong khi họ bị những ràng buộc  
về pháp lý, về thời gian... Trong khi đó các  
cơ quan chức năng trong nước chưa đưa ra  
những kế hoạch dài hơi, yêu cầu cụ thể cũng  
như những biện pháp, chính sách thỏa đáng  
để tranh thủ sự đóng góp chất xám của trí  
thức kiều bào. Quan trọng hơn là còn thiếu  
một cơ chế thông thoáng để trí thức kiều bào  
có nhiều cơ hội làm việc và phát triển, đóng  
góp trí tuệ của mình cho đất nước. Việc tổng  
kết, thống kê công tác thu hút trí thức  
NVNONN còn hạn chế, thậm chí con số  
chính xác trí thức kiều bào về nước cũng  
chưa có, các số liệu mới chỉ là ước chừng.  
Nguyên nhân hạn chế  
Một là, hiện nay đang thiếu một cơ  
sở dữ liệu mở có khả năng liên kết mạng  
lưới cộng đồng trí thức người Việt Nam  
trên thế giới, vừa cập nhật hồ sơ của các cá  
nhân và chia sẻ thông tin, vừa trở thành  
diễn đàn tăng cường kết nối trí thức người  
Việt ở trong cũng như ngoài nước. Đây  
không chỉ là một cơ sở dữ liệu mà còn là  
một mạng lưới có sự điều phối cũng như có  
các hoạt động để tăng cường hiệu quả liên  
kết của các thành viên. Điều này đặc biệt  
cần thiết vì hiện nay trong nước đang rất  
cần kiến thức và kinh nghiệm của các  
chuyên gia giỏi để hợp tác phát triển một số  
lĩnh vực công nghệ cao đang ưu tiên như:  
công nghệ điện hạt nhân, vũ trụ, tự động  
hóa,...  
Hai là, các bộ, ngành, địa phương,  
các trường đại học, viện nghiên cứu đều có  
nhu cầu thu hút chuyên gia trí thức kiều bào  
về hợp tác, làm việc nhưng chưa có các  
chương trình dự án khả thi; vai trò của trí  
thức mới được đề cập chung chung trên  
nhiều văn bản giấy tờ, kết quả của các cuộc  
hội nghị, hội thảo mà không được triển khai  
trong thực tế hoặc các kiến nghị của kiều  
Tuy nhiên, trên thực tế, việc huy  
động chất xám của trí thức kiều bào còn tự  
phát và manh mún, mới dừng ở việc mời các  
nhà khoa học về nước làm tư vấn cho một số  
dự án, tham gia giảng dạy tại các cơ sở giáo  
dục. Việc động viên khuyến khích các nhà  
khoa học kiều bào tầm cỡ tham gia vào các  
lĩnh vực ưu tiên của đất nước vẫn chưa làm  
44  
THÔNG TIN KHOA HỌC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - SỐ 5 (54)-2019  
NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TRONG NƯỚC  
_____________________________________________________________________________________  
bào không được giải quyết. Các bộ, ngành,  
địa phương chưa xác định được nhu cầu sử  
dụng cũng như thiếu thông tin về chuyên  
gia trí thức NVNONN nên rất khó khăn  
trong việc tham khảo và sử dụng...  
nước cũng cần dành ngân sách ưu tiên đầu  
tư phát triển các cơ sở nghiên cứu khoa  
học, đầu tư đúng mức cho giáo dục đào tạo,  
tập trung phát triển nhân lực trình độ cao.  
Cần có những biện pháp để những chính  
sách đã được ban hành được thực thi có  
hiệu quả: tạo điều kiện thuận lợi để kiều  
bào mua nhà ở, loại bỏ những thủ tục hành  
chính không cần thiết, thực hiện cơ chế  
“một cửa” trong giải quyết các thủ tục hành  
chính đối với kiều bào, sửa đổi, bổ sung  
một số quy định về tuyển dụng trí thức kiều  
bào vào các vị trí quản lý tại các cơ quan  
trong nước.  
Ba là, một thực tế có thể thấy rõ là  
việc ứng dụng các công trình nghiên cứu  
khoa học còn ít hiệu quả, việc trọng dụng  
và trả lương cho người nghiên cứu chưa  
thực sự xứng đáng,... cũng là những trở  
ngại, là điểm không hấp dẫn đối với các  
chuyên gia, trí thức NVNONN.  
Bốn là, trong hoạt động khoa học,  
sự khác biệt về tư duy và phong cách làm  
việc,... cũng là rào cản đáng kể đối với các  
chương trình hợp tác làm việc chung. Vai  
trò của người trí thức Việt kiều ở các  
trường đại học, viện nghiên cứu chưa được  
đề cao. Ngoài ra, tình trạng thiếu thốn các  
điều kiện nghiên cứu như phòng thí  
nghiệm, mối liên hệ quốc tế, ê-kíp làm việc  
mạnh... cũng được xem là những khó khăn  
không nhỏ. Bên cạnh đó, vướng mắc trong  
kinh phí xét – cấp cho các hoạt động nghiên  
cứu khoa học công nghệ nói chung và thiếu  
các chế độ đãi ngộ cụ thể đối với chuyên  
gia trí thức kiều bào đã và đang là cản trở  
lớn đối với việc huy động chuyên gia trí  
thức NVNONN về nước làm việc.  
2. Một số kiến nghị, giải pháp  
Tiếp tục sự nghiệp đổi mới, xây  
dựng mô hình và phát triển kinh tế - xã hội,  
lấy nền tảng kinh tế tri thức làm mục tiêu,  
động lực để hội nhập sâu rộng rất cần sự  
đóng góp trí tuệ hơn nữa của trí thức. Vì  
vậy, tri thức của dân tộc, của nhân loại cần  
được tham khảo một cách cầu thị, nghiêm  
túc, chân thành. Với nguồn “tài nguyên” vô  
giá từ trí thức NVNONN nếu không được sử  
dụng sẽ là một sự lãng phí, đáng tiếc, nhưng  
nếu sử dụng phù hợp sẽ góp phần quan trọng  
đưa con đường chúng ta đã lựa chọn đi tới  
thành công. Quá trình sử dụng đó, cần một  
giải pháp mạnh mẽ, đồng bộ thể hiện trong  
sự quyết liệt của chính sách là yếu tố then  
chốt tạo nên hiệu ứng mạnh mẽ và hiệu quả.  
Tiềm năng trí thức của kiều bào là  
rất lớn, được đánh giá là một thế mạnh của  
cộng đồng, nhưng hầu như chưa có chính  
sách khai thác hiệu quả. Vì vậy, để xây  
dựng một đội ngũ trí thức lớn mạnh, cần có  
sự quan tâm hơn nữa của Đảng và Nhà  
nước, đặc biệt phải xây dựng được một cơ  
chế “đặc biệt” mang tính đột phá nhằm thu  
hút hơn những nguồn lực cả về kinh tế và  
chất xám của chuyên gia, trí thức kiều bào.  
Cần xác định tiêu chí lựa chọn và thu hút  
người tài, xây dựng các tiêu chuẩn, quy  
định sàng lọc để lựa chọn được những cá  
nhân xuất sắc nhất trong cộng đồng  
NVNONN cũng như xây dựng chính sách  
hỗ trợ tài chính cho họ. Mặt khác, Nhà  
Hoàn thiện cơ chế, chính sách  
Quyết tâm của Đảng đã được thể  
hiện qua các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết  
chuyên đề về công tác đối với NVNONN,  
tiếp theo đó là cụ thể hóa qua Chương trình  
hành động của Chính phủ là một bước  
chuyển mạnh mẽ đi từ tuy duy đến hành  
động của Nhà nước Việt Nam đối với vấn đề  
NVNONN. Tuy nhiên, chính sách, cơ chế  
đặc thù nhằm thu hút trí thức NVNONN còn  
chung chung, chưa thật sát với tình hình  
thực tiễn. Điều này dẫn tới một thực trạng là  
các địa phương, cơ quan khi thực hiện chính  
45  
THÔNG TIN KHOA HỌC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - SỐ 5 (54)-2019  
NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TRONG NƯỚC  
_____________________________________________________________________________________  
sách còn lúng túng, mang tính khẩu hiệu và  
hình thức.  
chính trị, chính sách chưa được quan tâm  
nhiều. Bản thân trí thức NVNONN đang có  
nhiều trăn trở, suy nghĩ, bàn luận về vấn đề  
này, tuy nhiên chủ yếu mang tính tự phát, lẻ  
tẻ, thiếu định hướng. Do đó, một nhóm hoạt  
động nghiên cứu về chính trị, chính sách do  
Nhà nước thành lập, bảo trợ sẽ tập hợp được  
số lượng cũng như định hướng được nội  
dung sinh hoạt, chủ điểm, chủ đề nghiên  
cứu, bàn luận phù hợp với nhu cầu của đất  
nước.  
Điểm lưu ý trong chính sách cần xác  
định những vướng mắc, cản trở sự đóng góp  
của NVNONN nói chung và trí thức  
NVNONN nói riêng từ đó đưa ra giải pháp  
tháo gỡ, khơi thông. Chính sách “khai thác”  
và lợi ích chính đáng cần được xem xét thấu  
đáo, hài hòa, tránh tư duy một chiều nặng về  
“khai thác” nhẹ về lợi ích, làm như vậy bà  
con mới không có cảm giác bị “lợi dụng”  
mà sẵn sàng cống hiến hết mình cho cả hai  
mục tiêu: ích nước - lợi nhà. Trong thời đại  
số hóa, việc họ về nước hay không đều có  
thể có những hình thức đóng góp cho đất  
nước, vì vậy chính sách cần lưu ý điểm này,  
để vấn đề địa lý, không gian không là rào  
cản trong quá trình thu hút.  
Tổ chức hội thảo, đặt hàng nghiên  
cứu nội dung cụ thể, chuyên sâu  
Hiện nay đã có nhiều hội thảo, gặp  
gỡ, trao đổi, đối thoại giữa Chính phủ, tỉnh,  
thành với NVNONN. Tuy nhiên, việc tổ  
chức và nội dung hội thảo, trao đổi khá  
rộng, vì vậy tính chuyên sâu, cụ thể chưa  
được phát huy. Nghiên cứu cách thức, nội  
dung phù hợp để giải quyết vấn đề này cần  
phải tiếp tục thực hiện. Phát huy trí tuệ tổng  
hợp của dân tộc có thêm những ý kiến, góp  
ý, phản biện, đề xuất từ trí thức kiều bào sẽ  
góp một phần vào thành công trong quá  
trình xây dựng, phát triển đất nước.  
Trí thức thường rất nhạy cảm và tự  
trọng cao nên chính sách cũng cần phải đem  
lại cho họ cảm giác được trân trọng, xóa bỏ  
hoàn toàn mặc cảm thành phần. Từ đó, đóng  
góp của họ mới thực sự chân thành, hết  
lòng, hết sức, hiệu quả.  
Xây dựng cơ sở dữ liệu và thành  
lập nhóm hoạt động  
Về tổ chức, có thể linh hoạt tổ chức  
trong nước hoặc nước ngoài, nhưng cần đa  
dạng trí thức người Việt Nam ở nhiều nước  
khác nhau. Thực tiễn không hẳn chỉ những  
cường quốc lớn mới có những thế mạnh, mà  
mỗi nước nhỏ hay yếu thế hơn đều có thế  
mạnh riêng của mình. Với phương châm cầu  
thị, việc tiếp nhận những điểm mạnh, điểm  
yếu của nhiều nước giúp các cấp lãnh đạo có  
cái nhìn đa dạng, tổng thể, cụ thể, từ đó làm  
kinh nghiệm quý báu để có nhưng chủ  
trương phù hợp, tránh phiến diện, nôn nóng  
làm nhanh, làm gấp hoặc trì trệ, quá thận  
trọng làm lỡ cơ hội.  
Hiện nay, Uỷ ban Nhà nước về  
NVNONN đang xây dựng cơ sở dữ liệu về  
trí thức NVNONN tập hơn danh sách trên  
100.000 người có thông tin từng ngành,  
nghề và địa chỉ. Nhưng danh sách này còn  
khá khiêm tốn so với tổng số trí thức kiều  
bào, vì vậy cần đẩy nhanh tiến độ điều tra xã  
hội học hơn nữa và khi có dữ liệu tương đối  
cần giữ liên hệ thường xuyên với họ để nắm  
bắt tâm tư, nguyện vọng chính đáng và sẵn  
sàng đặt hàng những vấn đề trong nước đang  
cần thiết.  
Việc thành lập những nhóm hoạt  
động theo từng vấn đề cần phải thực hiện  
chuyên nghiệp, có tính định hướng, bên  
cạnh những vấn đề hiện nay đang được chú  
trọng như: giáo dục – đào tạo, khoa học –  
công nghệ, kinh tế, văn hóa.., thì vấn đề  
Tăng cường thông tin, tuyên  
truyền  
Luận điệu của các thế lực thù địch  
mặc dù hiện nay đã yếu ớt, không còn nhiều  
uy tín trong cộng đồng NVNONN, nhưng lại  
46  
THÔNG TIN KHOA HỌC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - SỐ 5 (54)-2019  
NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TRONG NƯỚC  
_____________________________________________________________________________________  
có những thủ đoạn khó lường và đa dạng  
hình thức tuyên truyền. Vì thế, cần cảnh giác  
và có sự tuyên truyền mạnh mẽ hơn của Nhà  
nước để đập tan luận điệu phản động, xuyên  
tạc.  
thông tin về giảng dạy ngắn ngày, tổ chức  
trao đổi, toạ đàm v.v… Các bộ ngành, địa  
phương cũng chưa xây dựng được những cơ  
chế cụ thể, thiết thực cũng như dành những  
khoản kinh phí thích đáng để thu hút chuyên  
gia, trí thức NVNONN. Chúng ta cần xây  
dựng các cơ chế, chính sách, các giải pháp  
đồng bộ từ vi mô đến vĩ mô, tăng cường  
nhận thức và phối hợp của các ngành, các  
cấp để tạo ra bước chuyển mạnh mẽ, tiếp  
thêm động lực cho kiều bào ta nói chung và  
trí thức NVNONN nói riêng, hướng về đất  
nước, tích cực tham gia đóng góp xây dựng  
quê hương./.  
Trong thời gian tới, cần tăng cường  
thông tin, tuyên truyền đa dạng hình thức,  
nội dung, để trí thức NVNONN hiểu đúng  
tình hình đất nước, chính sách của Đảng và  
Nhà nước, tránh hoang mang, dao động. Trí  
thức người Việt Nam ở nước ngoài hiểu  
đúng, hiểu đủ tình hình đất nước, chính sách  
của Đảng và Nhà nước thì lúc đó họ mới sẵn  
sàng đóng góp trí tuệ một cách vô tư, khách  
quan, thực chất.  
___________________  
2. Kết luận  
1,2. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 08  
NQ/TW về công tác vận động người Việt  
Nam ở nước ngoài, ngày 29-11-1993.  
3. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 36-  
NQ/TW về công tác đối với người Việt  
Nam ở nước ngoài, ngày 26-3-2004.  
45. Ban chấp hành Trung ương  
Đảng, Nghị quyết số 27-NQ/TW về Xây  
dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy  
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất  
nước, ngày 6-8-2008.  
6. Bộ Chính trị, Chỉ thị số 45-  
CT/TW, Về việc tiếp tục đẩy mạnh thực  
hiện Nghị quyết số 36 của Bộ Chính trị  
khóa IX về công tác đối với người Việt  
Nam ở nước ngoài trong tình hình mới,  
ngày 19-5-2015.  
Nghị quyết 36-NQ/TW của Bộ  
Chính trị đã khẳng định NVNONN là một  
bộ phận, một nguồn lực của đất nước và yêu  
cầu cả hệ thống chính trị và toàn dân có  
trách nhiệm, kết hợp việc xây dựng đồng bộ  
các cơ chế, chính sách với công tác vận  
động, kết hợp các hoạt động trong nước và  
ngoài nước, bằng nhiều loại hình và biện  
pháp khác nhau phù hợp với các đối tượng  
và địa bàn khác nhau. Tuy nhiên đến nay  
vẫn còn quá ít các chính sách thu hút, tạo  
môi trường, điều kiện để trí thức kiều bào về  
đóng góp xây dựng đất nước. Nhiều cấp  
chính quyền chưa thực sự quan tâm đến việc  
thu hút và tạo điều kiện, mời chuyên gia,  
chưa xác định được nhu cầu hợp tác cụ thể.  
Phần lớn những nơi đã và đang thực hiện  
các chương trình hợp tác với trí thức  
NVNONN vẫn chỉ dừng ở mức cung cấp  
7. http://www.vusta.vn/, Phát huy vai  
trò của trí thức người Việt Nam ở nước  
ngoài.  
47  
THÔNG TIN KHOA HỌC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - SỐ 5 (54)-2019  
docx 6 trang Thùy Anh 16300 Free
Bạn đang xem tài liệu "Công tác thu hút nguồn lực trí thức người Việt Nam ở nước ngoài của Đảng cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • docxcong_tac_thu_hut_nguon_luc_tri_thuc_nguoi_viet_nam_o_nuoc_ng.docx