Thực trạng và giải pháp quản lý Nhà nước về chuyển giao công nghệ ở Việt Nam

TÀI CHÍNH - KINH DOANH  
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC  
VỀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM  
NGUYỄN HỮU HƯNG  
Chuyển giao công nghệ đang trở thành nhu cầu cấp thiết của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập  
kinh tế quốc tế và Cách mạng công nghiệp 4.0. Hoạt động chuyển giao công nghệ trong thời gian  
qua có nhiều đóng góp đối với phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam nhưng cũng đặt ra nhiều thách  
thức đối với công tác quản lý nhà nước về chuyển giao công nghệ. Bài viết đề cập đến công tác quản  
lý nhà nước, cũng như thực tiễn chuyển giao công nghệ trong thời gian qua, đề xuất một số giải  
pháp nâng cao hiệu quả công tác này trong thời gian tới.  
Từ khóa: Chuyển giao công nghệ, quản lý nhà nước, quản lý nhà nước về chuyển giao công nghệ  
khích, thúc đẩy hoạt động CGCN, cụ thể: Nghị định  
số 38/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 quy định về đầu  
tư cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) khởi  
nghiệp sáng tạo; Nghị định số 39/2018/NĐ-CP quy  
định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ DNNVV;  
Thông tư số 02/2018/TT-BKHCN ngày 15/5/2018 của  
Bộ KH&CN quy định chế độ báo cáo thực hiện hợp  
đồng CGCN thuộc Danh mục công nghệ hạn chế  
chuyển giao…  
STATE MANAGEMENT OF TECHNOLOGY TRANSFER  
IN VIETNAM: CURRENT SITUATION AND SOLUTIONS  
Nguyen Huu Hung  
Technology transfer is becoming an urgent need  
of the economy in the context of integration and  
Industry 4.0. Technology transfer activities  
in recent years have contributed to the socio-  
economic development of Vietnam, but also  
pose many challenges for the state management  
of technology transfer. The article mentions  
the state management, technology transfer  
practice in recent years, since then, proposed  
some solutions to improve the efficiency of this  
activity in the coming time.  
Kết quả công tác quản lý nhà nước (QLNN)  
về CGCN thể hiện qua một số hoạt động khuyến  
khích, thúc đẩy CGCN có thể kể đến như: Góp phần  
hỗ trợ pháp lý, bảo vệ quyền lợi và tài sản trí tuệ  
cho các DN Việt Nam, đồng thời giúp các DN giảm  
thiểu được rủi ro khi tham gia hoạt động giao dịch,  
mua bán công nghệ, chuyển nhượng công nghệ;  
Góp phần làm tăng số lượng sản phẩm công nghệ  
được đăng ký quyền sở hữu trí tuệ và tạo động lực  
gia tăng giá trị giao dịch mua bán tài sản trí tuệ  
(giải pháp, quy trình, bí quyết công nghệ); Góp  
phần hình thành và phát triển mạng lưới tổ chức  
trung gian của thị trường KH&CN tại khắp các địa  
phương trên cả nước; Góp phần làm tăng giá trị giao  
dịch CGCN trên thị trường thông qua các sự kiện  
như kết nối cung cầu công nghệ, Chợ công nghệ  
và thiết bị và các sàn giao dịch công nghệ, trung  
tâm ứng dụng chuyển giao tiến bộ KH&CN; Góp  
phần huy động được các nguồn đầu tư, mở rộng  
và phát triển dự án, tạo lợi ích lâu dài thông qua  
một số dự án thương mại hóa công nghệ và tài sản  
trí tuệ của các nhà khoa học; Góp phần phát triển  
thị trường KH&CN bằng cách ứng dụng công nghệ  
thông tin trong việc kết nối mua bán công nghệ để  
Keywords: Technology transfer, state management, state  
management of technology transfer  
Ngày nhận bài: 27/4/2020  
Ngày hoàn thiện biên tập: 7/5/2020  
Ngày duyệt đăng: 13/5/2020  
Quản lý nhà nước về chuyển giao công nghệ  
ở Việt Nam  
Luật Chuyển giao công nghệ (CGCN) ra đời năm  
2017 đã hoàn thiện cơ bản các cơ chế, chính sách  
nhằm khuyến khích, thúc đẩy CGCN ở Việt Nam.  
Tiếp theo đó, Chính phủ, Bộ Khoa học và Công nghệ  
(KH&CN) đã xây dựng và ban hành nhiều nghị định,  
thông tư để hướng dẫn, cụ thể hóa đối với việc khuyến  
64  
TÀI CHÍNH - Tháng 5/2020  
đẩy mạnh quá trình thương mại hóa sản phẩm công thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao làm việc trong  
nghệ, thiết bị, kết quả nghiên cứu ra thị trường trên lĩnh vực KH&CN. Như vậy, có thể nhận thấy, lĩnh  
Sàn giao dịch công nghệ...  
vực KH&CN nói chung, trong đó có CGCN chưa đủ  
hấp dẫn để thu hút được nguồn nhân lực chất lượng  
cao đến làm việc. Trong bối cảnh CMCN4.0 đang thúc  
Những khó khăn, bất cập  
Thực tế cho thấy, hoạt động CGCN nói chung và đẩy KH&CN phát triển mạnh mẽ hiện nay, việc thiếu  
công tác QLNN về CGCN nói riêng còn nhiều khó  
khăn, bất cập như:  
nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ nghiên cứu và  
phát triển sẽ ảnh hưởng lớn đối với hoạt động KH&CN  
nói chung, CGCN nói riêng.  
Thứ nhất, về hoạt động đầu tư liên quan đến CGCN.  
Thời gian qua, việc đầu tư cho KH&CN nói chung,  
Thứ tư, về hoạt động khuyến khích, thúc đẩy CGCN  
hoạt động CGCN nói riêng còn nhiều tồn tại, bật cập: thông qua các tổ chức trung gian.  
(i) Nguồn vốn đầu tư thấp, tỷ lệ vốn đầu tư thậm chí  
Thị trường KHCN ở Việt Nam chưa thực sự phát  
còn sụt giảm, đi ngược xu hướng phát triển KH&CN triển để giúp các DN có thể tìm kiếm và mua các công  
của thế giới; (ii) Chưa xác định được trọng tâm và nghệ, bí quyết mà họ cần. Sự liên kết giữa DN (bên cầu  
mũi nhọn trong KH&CN nói chung, CGCN nói riêng trong thị trường KHCN) với các viện trường, các nhà  
để tập trung vốn đầu tư đối với khu vực kinh tế nhà  
nước; (iii) Hiệu quả và tỷ lệ giải ngân vốn FDI còn thấp,  
công nghệ được chuyển giao qua đầu tư FDI chủ yếu  
là công nghệ lạc hậu. Nguồn vốn đầu tư cho KH&CN  
nói chung và các ngành, lĩnh vực đòi hỏi hàm lượng  
công nghệ cao còn thấp.  
Năm 2018, Bộ Khoa học và Công nghệ đã tiến  
hành điều tra nhận thức công chúng về khoa học  
và công nghệ, đối tượng khảo sát là 3600 người  
trong mọi lứa tuổi (từ 15 đến trên 60), ở các trình  
độ đào tạo, nghề nghiệp, khu vực làm việc khác  
nhau. Đánh giá về mức độ quan tâm của công  
chúng đối với khoa học và công nghệ, số lượng  
rất ít người dân “rất quan tâm” đến các lĩnh vực  
và vấn đề của khoa học và công nghệ.  
Thứ hai, về nhận thức đối với CGCN.  
Nhận thức của cộng đồng DN nói riêng và công  
chúng nói chung còn nhiều hạn chế: (i) DN Việt Nam  
chưa có ý thức cũng như ít quan tâm đến việc đổi mới,  
nâng cấp công nghệ; (ii) Kiến thức và hiểu biết đối với  
KH&CN, công nghệ cao, CGCN còn thấp, chưa có sự khoa học (bên cung) vẫn còn hạn chế; Vẫn còn ít DN  
chủ động tham gia vào các chương trình, hoạt động thu hút đầu tư CGCN, hợp tác với bên ngoài để nghiên  
về KH&CN, CGCN... Năm 2018, Bộ KH&CN đã tiến cứu đổi mới công nghệ; DNNVV gặp nhiều khó khăn  
hành điều tra nhận thức công chúng về KH&CN, đối trong CGCN.  
tượng khảo sát là 3600 người trong mọi lứa tuổi (từ 15  
Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước  
đến trên 60), ở các trình độ đào tạo, nghề nghiệp, khu  
vực làm việc khác nhau. Đánh giá về mức độ quan tâm  
của công chúng đối với KH&CN, số lượng rất ít người  
dân “rất quan tâm” đến các lĩnh vực và vấn đề của  
về chuyển giao công nghệ ở Việt Nam  
Nhằm không ngừng đổi mới tư duy và phương  
thức quản lý nhà nước về CGCN phù hợp với bối cảnh  
KH&CN. Ví dụ, đối với vấn đề “Thị trường KH&CN” mới để bảo đảm hiệu quả kiểm soát công nghệ đi đôi  
- nơi thường xuyên diễn ra các hoạt động CGCN, chỉ với giảm thiểu thủ tục hành chính đối với DN, Nhà  
có 4% “rất quan tâm”, trong khi đó, có tới 55% “không nước cần tập trung vào các giải pháp sau:  
quan tâm”. Hay vấn đề “Ứng dụng công nghệ cao  
Một là, tăng cường vai trò của Nhà nước trong phát  
trong sản xuất (công nghệ nano trong bảo quản, công triển thị trường KH&CN.  
nghệ sinh học...)” cũng chỉ có 9% “rất quan tâm”, 44%  
“quan tâm” và 47% “không quan tâm”…  
Ngoài vai trò hoạch định chính sách và định ra sân  
chơi, luật chơi cho các đối tác đầu tư thành lập DN  
và tham gia thị trường công nghệ, Chính phủ còn có  
Thứ ba, về nguồn nhân lực phục vụ hoạt động CGCN.  
Nguồn nhân lực phục vụ trong lĩnh vực KH&CN vai trò là “huấn luyện viên” đối với các nhà khoa học  
nói chung và CGCN nói riêng còn tồn tại một số hạn để hướng dẫn họ tham gia thương mại hóa sản phẩm.  
chế sau: (i) Nguồn nhân lực chất lượng cao phân bố Đồng thời, Chính phủ dẫn dắt và khuyến khích các DN  
không đồng đều, tập trung chủ yếu đối với thành phần tiếp cận, khai thác ứng dụng và đầu tư cải tiến công  
kinh tế nhà nước; (ii) Thiếu nguồn nhân lực phục vụ nghệ trong sản xuất kinh doanh. Nói cách khác, Chính  
tại các tổ chức dịch vụ KH&CN, nơi tập trung các hoạt phủ cần thực hiện 3 nhiệm vụ sau: (i) Khuyến khích,  
động về CGCN; (iii) Không tạo được sự hấp dẫn và  
giúp đỡ nhà khoa học trở thành các doanh nhân công  
65  
TÀI CHÍNH - KINH DOANH  
nghệ; (ii) Hướng dẫn, hỗ trợ DN thuần túy trở thành đổi mới công nghệ để nâng cao năng lực cạnh tranh  
DN công nghệ; (iii) Thu hút, thúc đẩy các nhà khoa của sản phẩm Việt Nam...  
học, nhà đầu tư, doanh nhân, DN và các tổ chức tư vấn,  
dịch vụ tham gia thị trường công nghệ.  
Bốn là, phát triển nguồn nhân lực cho CGCN.  
Cần nâng cao nhận thức về vai trò và vị trí của cán  
Nhà nước khởi xướng, dẫn dắt và thúc đẩy nhà bộ KH&CN; quan tâm đầu tư, tạo điều kiện thuận  
khoa học, nhà đầu tư, DN vào sân chơi chung bình lợi nhằm phát huy tiềm năng sáng tạo, tăng năng lực  
đẳng của thị trường công nghệ. Nhà nước cần đầu và trình độ kỹ thuật, trình độ công nghệ của đội ngũ  
tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các sàn giao dịch công này, kể cả lao động kỹ thuật, cán bộ nghiên cứu và cán  
nghệ cấp quốc gia, đào tạo lực lượng chuyên gia cho bộ quản lý trong bối cảnh hiện nay; Các chính sách  
các tổ chức trung gian với đầy đủ các dịch vụ pháp tư trọng dụng cần thực sự hấp dẫn, thiết thực, thu hút  
vấn pháp lý, quản lý tài sản trí tuệ, CGCN, qua đó tạo các chuyên gia, các nhà khoa học, những người có ''bí  
được động lực trong hoạt động nghiên cứu sáng tạo. quyết'' công nghệ, nhất là công nghệ cao, công nghệ  
Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc kiến tạo  
và thúc đẩy hoạt động của các tác nhân trung gian có  
tiên tiến để chuyển giao vào nước ta...  
Năm là, thúc đẩy CGCN thông qua hợp tác quốc  
chức năng quảng bá, môi giới, tư vấn và gắn kết quan tế. Cần đa dạng hóa các kênh hợp tác, hoạt động hợp  
hệ giữa đối tác trong các hoạt động đầu tư, mua bán, tác quốc tế về CGCN để mở rộng và tăng cường theo  
chuyển giao, ứng dụng và phát triển công nghệ...  
Với sự hỗ trợ của Nhà nước, nếu DN khởi nghiệp lý KH&CN của các nước, đến các quỹ nghiên cứu  
thành công, Nhà nước có thể thu về nguồn thuế thu KH&CN, các viện nghiên cứu, trường đại học, các tổ  
nhiều mức độ khác nhau, từ hợp tác với cơ quan quản  
nhập DN, thuế chuyển nhượng vốn từ các DN, các nhà chức phi chính phủ và các tổ chức xã hội khác. Các nội  
đầu tư cho DN khởi nghiệp công nghệ. DN khởi nghiệp dung hợp tác cần chủ động gắn chặt với nhu cầu phát  
công nghệ, những tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp và những triển KH&CN trong nước, trong đó, chú trọng đến nhu  
nhà đầu tư mạo hiểm cho khởi nghiệp công nghệ sẽ có cầu hợp tác quốc tế của địa phương; Tăng cường tham  
thêm động lực để phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp. gia các hội nghị, hội thảo quốc tế và tranh thủ các đối  
Đặc biệt, ưu đãi về thuế sẽ thu hút những tổ chức, cá tác quốc tế về tri thức, kinh nghiệm, thông tin khoa  
nhân trong nước và nước ngoài có tiềm lực tài chính bắt  
đầu quan tâm đầu tư nhiều hơn cho khởi nghiệp công trang thiết bị, góp phần đẩy nhanh quá trình CGCN...  
nghệ. Nếu không có những ưu đãi này, rủi ro lớn sẽ là Sáu là, nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư nước  
học, bí quyết công nghệ, đào tạo nhân lực và hỗ trợ  
rào cản cho các nhà đầu tư để tham gia vào lĩnh vực này. ngoài trong CGCN. Nâng cao hiệu quả thu hút đầu  
Hai là, nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát đối với tư nước ngoài trong CGCN sẽ tạo liên kết trong cung  
hoạt động CGCN. Thực tiễn đã chứng minh, Nhà nước cấp dịch vụ công nghệ từ khu vực DN đầu tư nước  
giữ vai trò quan trọng đối với sự thành bại của quá trình ngoài và các cơ sở nghiên cứu và phát triển trong  
CGCN. Trong bối cảnh thị trường linh hoạt hiện nay, nước, tạo cơ hội tiếp cận công nghệ nguồn, nghiên  
Việt Nam cần có kế hoạch tổng thể về thu hút công nghệ cứu, cải tiến làm chủ công nghệ. Theo đó, Việt Nam  
nước ngoài; Cần có nhận thức đầy đủ về vị trí chiến lược sẽ rút ngắn khoảng cách về trình độ, nhân lực công  
trong chuyển giao KHCN, cần chiến lược tổng thể và  
nhận thức toàn diện nhằm đảm bảo công nghệ nhập về  
phải phù hợp với khả năng hiện nay; Thường xuyên bổ  
nghệ so với các nước...  
Tài liệu tham khảo:  
sung, cập nhật các loại đối tượng thuộc Danh mục công 1. Quốc hội (2006), Luật Chuyển giao công nghệ số 80/2006/QH 11  
nghệ hạn chế chuyển giao, để đảm bảo ngăn chặn công ngày 29/11/2006;  
nghệ, thiết bị lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường không 2. Quốc hội (2017), Luật Chuyển giao công nghệ số 07/2017/QH14  
được chuyển giao vào Việt Nam. ngày 19/6/2017;  
Ba là, triển khai các chính sách hỗ trợ, thúc đẩy đổi 3. Quốc hội (2013), Luật Khoa học và Công nghệ số 29/2013/QH13  
mới và CGCN. Thực hiện đa dạng hoá các đối tượng ngày 18/6/2013;  
CGCN bằng cách mở rộng quan hệ với nhiều nước, 4. Phan Xuân Dũng, Trần Văn Tùng, Phạm Hữu Duệ, “Công nghệ và chuyển giao  
nhiều trình độ công nghệ, nhiều hãng, nhiều hướng  
phát triển công nghệ. Tuy nhiên, đa dạng hoá phải đi  
đôi với chọn lọc, biết lựa chọn ra những đối tác khả dĩ  
mang lại kết quả tối ưu. Mặt khác, cần tạo áp lực, sức  
ép đối với các DN nhà nước, nhanh chóng tiếp cận và  
công nghệ”, NXB Khoa học và kỹ thuật.  
Thông tin tác giả:  
Nguyễn Hữu Hưng  
Email: hungsunny[email protected]  
66  
pdf 3 trang Thùy Anh 13660 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng và giải pháp quản lý Nhà nước về chuyển giao công nghệ ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_va_giai_phap_quan_ly_nha_nuoc_ve_chuyen_giao_cong.pdf