Tính nhân văn trong tư tưởng nhà nước và pháp luật của Lê Thánh Tông
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Võ Thị Xuân Hương
TÍNH NHÂN VĂN TRONG TƯ TƯỞNG NHÀ NƯỚC
VÀ PHÁP LUẬT CỦA LÊ THÁNH TÔNG
THE HUMANITY IN LE THANH TONG’S THOUGHTS OF STATE AND LAW
VÕ THỊ XUÂN HƯƠNG
TÓM TẮT: Lê Thánh Tông (1442-1497) không chỉ là nhà văn hóa, nhà thơ lớn mà còn là nhà tư
tưởng, nhà chính trị kiệt xuất. Ông đã để lại cho thế hệ sau di sản tư tưởng quý báu, trong đó có tư
tưởng nhà nước và pháp luật. Tư tưởng nhà nước và pháp luật của Lê Thánh Tông không chỉ thể
hiện những đặc điểm như tính kế thừa, tính thực tiễn, tính dân tộc, mà còn nổi bật và xuyên suốt đó
là tính nhân văn sâu sắc, thể hiện ở quan điểm đề cao vai trò của dân, yêu thương dân, quan tâm
đến đời sống của dân, nhất là những người dân lao khổ, thấp kém trong xã hội, và tấm lòng nhân
ái, khoan dung rộng lớn.
Từ khóa: Lê Thánh Tông; tư tưởng về nhà nước và pháp luật; đề cao vai trò của dân.
ABSTRACT: Le Thanh Tong (1442-1497) was not only a great culturalist and poet, but also an
outstanding thinker and politician. He has left to the next generation a valuable legacy of thoughts,
including thoughts of state and law. Le Thanh Tong’s thoughts of state and law are not only show
characteristics such as inheritance, practicality, nationality, but also prominent and throughout in
the profound humanity, expressed in the viewpoint of promoting the role of the people, loving the
people, paying attention to the lives of the people, especially the hard-working and inferior people
in society, and great benevolence, tolerance.
Key words: Le Thanh Tong; thoughts of state and law; promote the role of the people.
lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Mộng Tuân, Lý
Tử Tấn, Phan Phu Tiên, Nguyễn Thiên Túng,
Nguyễn Trực... nổi bật là Lê Thánh Tông. Ông
không chỉ là nhà văn hóa, nhà thơ lớn mà còn
là nhà tư tưởng, nhà chính trị kiệt xuất. Với tư
tưởng nhà nước và pháp luật sắc bén của mình,
ông đã giải đáp được nhiệm vụ lịch sử xã hội
Đại Việt đặt ra ở thế kỷ XIV-XV. Tư tưởng về
nhà nước và pháp luật của Lê Thánh Tông thể
hiện những nội dung hết sức đặc sắc. Đó là
quan điểm về vai trò, chức năng của nhà nước
trong thể chế quân chủ, về tổ chức bộ máy nhà
nước và chế độ quan chế; quan điểm về vai trò,
mục đích và nội dung của các quan hệ pháp
luật, về phương pháp thực thi pháp luật; đặc
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong quá trình phát triển của lịch sử Việt
Nam thế kỷ XIV-XV là một trong những giai
đoạn đặc biệt; đó là sự chuyển biến từ nhà Trần
sang nhà Hồ; cuộc khởi nghĩa Lam Sơn gian
khổ chống lại sự xâm lược của giặc Minh giành
thắng lợi oanh liệt; việc thành lập triều đại Lê
sơ với nhiệm vụ và yêu cầu củng cố, xây dựng
và phát triển nhà nước phong kiến trung ương
tập quyền độc lập, thống nhất, vững mạnh trên
tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa -
xã hội, phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc
nhằm chống lại âm mưu xâm lược của kẻ thù,
bảo vệ nền độc lập dân tộc. Chính trong điều
kiện lịch sử đó đã xuất hiện nhiều nhà tư tưởng
Mã số: TCKH24-23-2020
33
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 24, Tháng 11 – 2020
biệt đó còn là quan điểm về cải cách bộ máy
hành chính theo hướng tinh gọn, thực quyền,
hiệu lực và hiệu quả; là quan điểm tuyển chọn,
sử dụng đội ngũ quan lại qua thi cử, thăng
giáng, thưởng phạt nghiêm minh, nhằm tuyển
chọn người hiền tài cho bộ máy nhà nước; thực
hiện việc giám sát, kiểm soát chặt chẽ lẫn nhau,
nhằm nâng cao trách nhiệm và hạn chế lạm
quyền của quan lại, được thể hiện trong khối
lượng tác phẩm khá đồ sộ viết bằng chữ Hán và
chữ Nôm, không chỉ có ý nghĩa thơ văn mà còn
mang giá trị tư tưởng sâu sắc, như Anh hoa
hiếu trị, Châu cơ thắng thưởng, Chinh tây kỷ
hành, Cổ tâm bách vịnh, Hồng Đức quốc âm
thi, Lam Sơn Lương Thủy phủ, Minh Lương
cẩm tú, Quỳnh uyển cửu ca, Thập giới cô hồn
quốc ngữ thi, Thiên nam dư hạ tập, Văn minh
cổ súy,…
đồ… thích chữ vào người ở đợ làm nô tỳ mình, thì
cũng xử tội như trên và phải trả tiền tẩy theo luật
định. Nếu đem bán dân đinh làm nô tỳ cho người
thì phải biếm năn tư và phải đền gấp đôi số tiền
bán, nộp vào kho một nửa, còn nguyên tiền bán
thì phải trả đủ cho người mua” [4, tr.129].
Để bảo vệ quyền con người, Lê Thánh
Tông còn quy định rõ hơn đối với các quan lớn
trong triều không được tự tiện biến dân đinh
thành tôi tớ trong nhà mình.
Khi đề cập đến việc bảo vệ quyền lợi trẻ
em, Lê Thánh Tông viết: “Gian dâm với con gái
nhỏ từ 12 tuổi trở xuống, dù người con gái thuận
tình, cũng xử tội như tội hiếp dâm” [4, tr.139];
và “Con gái và những trẻ nhỏ mồ côi, tự bán
mình mà không có ai bảo lãnh thì người mua
cùng người viết văn khế, người làm chứng thảy
đều xử tội xuy, trượng như luật (đàn bà đánh 50
roi, đàn ông đánh 80 trượng) đòi lại tiền trả cho
người mua mà hủy bỏ văn tự” [4, tr.118].
Tư tưởng nhà nước và pháp luật của Lê
Thánh Tông vừa thể hiện đậm nét của truyền
thống lịch sử và văn hóa Việt Nam, vừa thể
hiện đặc điểm riêng của Lê Thánh Tông, đó là
tính nhân văn. Với quan điểm luôn đề cao vai
trò của dân, bảo vệ những con người thấp kém
trong xã hội, yêu thương dân, quan tâm đến đời
sống của dân, nhất là những người dân lao khổ,
và tấm lòng nhân ái, khoan dung rộng lớn của
Lê Thánh Tông, tư tưởng về nhà nước và pháp
luật của Lê Thánh Tông đã thể hiện tính chất
nhân văn sâu sắc.
Để bảo vệ tính mạng của dân, vua đưa ra
nhiều hình phạt rất nghiêm khắc, trong đó
không có sự phân định hình phạt theo địa vị xã
hội của người phạm tội. Lê Thánh Tông viết:
“Những phu thợ đang làm việc, những quân lính
đang ở trại hoặc theo quân đội ra đánh giặc, hoặc
theo hầu xa giá, hay sai đi việc quân, khi có tật
bệnh mà quan chủ ty không xin cấp thuốc thang
cứu chữa, thì xử phạt 40 roi; nếu vì ốm không
chữa mà chết thì xử phạt 80 trượng ” [4, tr.178].
Đặc biệt, Lê Thánh Tông rất coi trọng tính
mạng con người, kể cả những người nghèo khổ
và bất hạnh trong xã hội, ông viết: “Những người
góa vợ, góa chồng, mồ côi, và những người tàn
tật nặng, nghèo khổ không có người thân thích
để nương tựa, không thể tự mình mưu sống được,
quan sở tại phải thu nôi họ, mà lại bỏ rơi họ thì
bị xử đánh 50 roi, biếm một tư. Nếu họ được cấp
cơm áo, mà quan lại ăn bớt đi, thì khép vào tội
như người giữ kho ăn trộm của công” [4, tr.115];
ông viết: “đàn bà phạm tội tử hình trở xuống,
nếu đang mang thai thì phải đợi sau sinh đẻ 100
ngày mới đem hành hình” [4, tr.201].
2. NỘI DUNG
2.1. Lê Thánh Tông luôn đề cao vai trò của dân,
bảo vệ những con người thấp kém trong xã hội
Mặc dù bị hạn chế bởi quan điểm giai cấp
hẹp hòi nhưng Lê Thánh Tông cũng đã đưa
nhiều quy định bảo vệ quyền cơ bản của con
người, nhất là những người thuộc các tầng lớp
dưới (nô tỳ) trong xã hội. Lê Thánh Tông viết:
“Những quan cai quản quan nô tỳ tự tiện thích
chữ vào dân đinh để hạng nô ấy, thì xử phạt
biến ba tư” [4, tr.87]. Hay “Người thích chữ vào
vợ, con trai, con gái người khác và nô tỳ của
người khác để bắt làm nô tỳ của mình, thì xử tội
34
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Võ Thị Xuân Hương
Tính nhân văn trong tư tưởng nhà nước và
pháp luật của Lê Thánh Tông còn thể hiện ở sự
kết hợp nhuần nhuyễn giữa “pháp trị” và “đức
trị”, vừa đảm bảo tính nghiêm minh, công bằng
của luật pháp vừa mang tính giáo dục, cảm hóa
con người. Vì thế, bên cạnh những quy định
bảo vệ tính mạng của con người Lê Thánh
Tông còn đề cao bảo vệ nhân phẩm, danh dự
của con người; các hành vi tố cáo, vu khống
không đúng sự thật và trái quy định; việc quan
quấy nhiễu ức hiếp dân, tự tiện bắt bớ, giam
cầm người vô tội, phạm nhân không đáng gông
cùm mà lại gông cùm, vô cớ đánh đập tù nhân;
tra tấn tù nhân tuổi cao và vị thành niên. Lê
Thánh Tông viết: “…70 tuổi trở lên, 15 tuổi trở
xuống, hay bị phế tật, nếu phạm tội thì không
được tra tấn, chỉ căn cứ vào lời khai của những
người làm chứng mà định tội” [4, tr.197]. Để
đảm bảo trật tự theo lễ giáo của Nho giáo ông
đưa ra điều luật trừng trị rất nặng đối với những
hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm của
quan lại, những người thuộc hoàng tộc và họ
hàng ruột thịt của họ đều bị áp dụng những
hình phạt hết sức nghiêm khắc. Chẳng hạn:
“Người không có quan chức mà lăng mạ quan
tam phẩm trở lên thì đồ làm khao đinh” [4,
tr.156]. Để ngăn ngừa hành vi hiếp dâm, bảo vệ
nhân phẩm cho con người, ông trừng trị rất nặng
hành vi phạm tội này. Lê Thánh Tông viết: “Ăn
cướp còn hiếp dâm thì chém bêu đầu. Ăn trộm mà
còn hiếp dâm thì xử chém” [4, tr.146].
vừa để trấn áp giai cấp, tầng lớp phản kháng,
vừa nhanh chóng ổn định tình hình xã hội và
cũng là để “đền ơn, đáp nghĩa” đối với nhân
dân, xoa dịu nỗi đau mất mát trong cuộc chiến
tranh, thúc đẩy sản xuất phát triển. Lê Thánh
Tông khẳng định: “Đạo làm vua rất lớn, phải
nghiên cứu rất tinh tường, dưới thì yêu dân
chúng, trên thì kính trời” [2, tr.298]. Yêu dân ở
ông luôn gắn liền với chăm lo đời sống vật chất
và đời sống tinh thần cho dân. Vì thế, ông ngày
đêm trăn trở suy nghĩ, làm sao cho dân chúng
được ấm no, hạnh phúc; đất nước được yên bình,
thịnh trị: “Dân chúng ấm no điềm thịnh trị” [2,
tr.297]. Và đó còn là thái độ nghiêm khắc của ông
với đội ngũ quan lại gây phiền nhiễu cho dân. Lê
Thánh Tông viết: “Các tướng soái ở phiên trấn
mình mà sách nhiễu tiền bạc của dân trong trấn,
châu, huyện mình thì bị biếm ba bậc, phải bồi
thường gấp đôi số tiền, trả lại cho dân” [1,
tr.79].
Bên cạnh chăm lo về vật chất cho dân, tính
nhân văn trong tư tưởng nhà nước và pháp luật
của Lê Thánh Tông còn thể hiện trong quan
điểm giáo hóa cho dân. Ông chủ trương lấy đạo
luân thường để dạy dân, nếu chưa giáo hóa dân,
chưa dạy cho dân điều hay nên làm, điều dở
nên tránh mà đã trừng phạt dân là quan bạo
ngược. Lê Thánh Tông viết: “Quan phủ huyện
châu… trong khi đi tuần hành, đến chỗ thôn
xóm dân cư nào, tất phải đem hết lời văn của
sắc dụ đời trước, lời dạy về lễ nhạc xưa nay, ân
cần hiếu bảo, để cho dân biết theo thiện đổi lỗi.
Hoặc điều gì hại giáo hóa, tổn phong tục, tất
phải để ý trị răn, có người nào trung tín hiếu
đễ, tất phải để lòng khen thưởng. Như thế, dân
đều theo về trung hậu. Đều bỏ hết lòng điêu
bạc gian dối” [3, tr.293].
Đây là tư tưởng tiến bộ, vượt thời đại và
vẫn còn nguyên giá trị trong xã hội hiện đại. Tư
tưởng ấy đã thể hiện tính nhân văn, nhân đạo
sâu sắc trong sự nghiệp cai trị đất nước của Lê
Thánh Tông.
2.2. Tấm lòng yêu thương dân, quan tâm sâu
sắc đến đời sống của dân trong tư tưởng nhà
nước và pháp luật của Lê Thánh Tông
2.3. Lòng nhân ái, khoan dung trong tư tưởng
nhà nước và pháp luật của Lê Thánh Tông
Trong tư tưởng nhà nước và pháp luật của
mình, Lê Thánh Tông cũng đã ảnh hưởng, tiếp
thu tinh thần nhân ái, khoan dung ấy của dân
tộc Việt Nam; và nó đã được ông phát huy
Nhận thức rõ vai trò, sức mạnh của nhân
dân trong cuộc kháng chiến chống quân Minh
đã đem lại những thắng lợi cho giai cấp cầm
quyền, Lê Thánh Tông đã ban hành hình luật
35
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 24, Tháng 11 – 2020
trong suốt thời gian trị vì đất nước. Lòng nhân
ái, khoan dung được Lê Thánh Tông thể hiện rõ
nét hơn cả hình luật của các triều đại trước đó.
Quan điểm ấy thể hiện ở các quy định phản ánh
chính sách khoan hồng đối với những người
phạm tội là người già, người tàn tật và trẻ em
cũng như những người phạm tội. Lê Thánh
Tông viết: “Những người từ 70 tuổi trở lên, 15
tuổi trở xuống cùng những người bị phế tật,
phạm từ tội lưu trở xuống đều cho chuộc tội
bằng tiền, phạm tội thập ác thì không theo luật
này. Từ 80 tuổi trở lên, 10 tuổi trở xuống cùng
những người bị ác tật, phạm tội phản nghịch,
giết người, đáng phải tội chết thì cũng tâu vua
để xét định, ăn trộm và đánh người bị thương
thì cho chuộc tội, còn ngoài ra không bắt tội.
Từ 90 tuổi trở lên, 7 tuổi trở xuống dầu có bị
tội chết cũng không hành hình, nếu có kẻ nào
xui xiểm thì bắt tội kẻ xui xiểm” [4, tr.54].
một số điều luật quy định về loại, mức hình
phạt áp dụng cho người phạm tội là phụ nữ và
điều kiện thi hành hình phạt đối với phụ nữ có
thai. Về các quy định này có thể nêu như không
áp dụng hình phạt đánh gậy đối với đàn bà
phạm tội hoặc quy định trong cùng một hình
phạt khổ sai, đàn bà phải chịu hình phạt kèm
theo nhẹ hơn. Điều 1 quy định năm hình phạt
trong đó có hình phạt trượng hình chỉ áp dụng
cho đàn ông mới phải chịu; kèm theo làm
tượng phường binh đàn ông bị đánh 80 trượng,
thích vào cổ 2 chữ, kèm theo làm xung thất tỳ
đàn bà bị đánh 50 roi, thích vào cổ 2 chữ. Quy
định này càng được đánh giá tiến bộ nếu đặt
vào trong mối liên hệ với quan niệm phong
kiến về địa vị thấp kém của người phụ nữ so
với người chồng trong gia đình mà đã được thể
hiện trong pháp luật. Tính nhân đạo còn được
thể hiện điều 680 cho phép hoãn thi hành hình
phạt đối với phụ nữ đang có thai và trong thời
gian 100 ngày sau khi sinh con [4, tr.149].
Những người có trách nhiệm thi hành án không
tuân thủ quy định này sẽ bị trừng phạt. Tính
nhân đạo còn thể hiện rõ đối với những tù nhân
mắc bệnh hiểm nghèo. Điều 669 viết: “Nếu tù
nhân bị bệnh ung nhọt không được cho y khỏi
mà tra khảo, thì xử tội biếm; nếu lúc ấy mà cho
thi hành tội trượng, thì xử phạt tiền 30 quan; vì
thế mà kẻ bị tội chết, thì biến hai tư” [4, tr.198].
Ngoài việc thể hiện tính nhân đạo, bộ luật
còn thể hiện tính công bằng và khoan hồng đối
với người phạm tội. Điều 18 quy định: “Phàm
phạm tội chưa bị phát giác mà tự thú trước, thì
được tha tội… phạm tội nhẹ đã bị phát giác mà
lại thú cả tội nặng nữa, nhân hỏi về tội đương
xét mà thú thêm các tội khác nữa, thì được tha
cả mọi tội” [4, tr.55].
Ngoài ra, ông cũng quy định xử phạt thể
hiện tính khoan dung, nhân đạo, đối với người
già cả và trẻ nhỏ: “Khi phạm tội chưa già cả
tàn tật, đến khi già cả tàn tật việc mới được
phát giác thì xử theo luật già cả tàn tật. Khi ở
nơi bị đồ mà già cả tàn tật thì cũng thế. Khi
còn bé nhỏ phạm tội, đến khi mới được phát
giác thì xử theo luật lúc còn nhỏ” [4, tr.55].
Qua những điều luật trên cho ta thấy chính
sách về pháp luật nhân đạo đối với những
người phạm tội là người già, trẻ em và người bị
tàn tật, miễn cho họ khỏi phải chịu hình phạt
tàn ác bằng cách cho họ chuộc tội bằng tiền
hoặc tha tội nếu họ không phạm tội thập ác, tội
phản nghịch hay tội giết người với hình phạt
được quy định là án tử hình. Tính nhân văn ở
Lê Thánh Tông còn thể hiện ở lòng biết ơn với
những công thần khai quốc trong dụ các quan
trọng triều rằng: “Sư Hồi vì có công trung hưng
cùng với cha là Xí có công lao lớn trong buổi
khai quốc, nên tha tội chết. Còn Trịnh Lý thì
triều thần các ngươi cùng bản xứ” [3, tr.395].
Tính nhân văn trong tư tưởng nhà nước và
pháp luật của Lê Thánh Tông còn thể hiện ở
3. KẾT LUẬN
Tính nhân văn trong tư tưởng nhà nước và
pháp luật của Lê Thánh Tông là sự kết tinh bởi
truyền thống yêu nước, tinh thần khoan dung,
nhân nghĩa của dân tộc Việt Nam và tấm lòng
nhân ái, ý thức trách nhiệm của ông đối với
36
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Võ Thị Xuân Hương
nhân dân, với quốc gia dân tộc. Đây cũng là
một trong những đặc điểm nổi bật trong tư
tưởng chính trị của ông. Với những nội dung
phong phú và sâu sắc trong tư tưởng về nhà
nước và pháp luật của mình, Lê Thánh Tông đã
để lại nhiều giá trị, đóng góp to lớn trong lịch
sử của dân tộc ta: 1) Với tư tưởng cải cách cơ
cấu tổ chức chính quyền các từ trung ương đến
cấp xã và kỹ thuật lập pháp, Lê Thánh Tông đã
góp phần xây dựng một nền chính trị - xã hội
ổn định, thống nhất; góp phần tích cực vào
nhiệm vụ và yêu cầu củng cố, xây dựng và phát
triển nhà nước phong kiến trung ương tập
quyền độc lập, tự chủ, vững mạnh trên tất cả
các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội,
phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc nhằm
chống lại âm mưu xâm lược của kẻ thù, bảo vệ
nền độc lập dân tộc; 2) Tư tưởng chính trị của
Lê Thánh Tông góp phần đề cao tinh thần độc
lập và lòng tự hào dân tộc, ý thức về chủ quyền
quốc gia, phát triển nền quân sự vững mạnh để
bảo vệ vũng chắc núi sông, bờ cõi; 3) Tư tưởng
về nhà nước và pháp luật của Lê Thánh Tông
còn góp phần vào phát triển giáo dục, văn hóa,
đào tạo sử dụng hiền tài, thể hiện tinh thần thân
dân, tập hợp và phát huy sức mạnh đoàn kết của
dân. Với những giá trị ấy, ông đã nhanh chóng
chấm dứt tình trạng xung đột phe phái trong
cung đình, lập lại kỷ cương, ổn định chính trị -
xã hội. Tuy nhiên, cùng với những giá trị và ý
nghĩa trên, tư tưởng về nhà nước và pháp luật
của Lê Thánh Tông, vẫn còn những hạn chế nhất
định, do điều kiện lịch sử và quan điểm, lập
trường giai cấp quy định.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Phạm Trọng Điềm, Bùi Văn Nguyên (1982), Hồng Đức quốc âm thi tập, Nxb Văn học, Hà Nội.
[2] Mai Xuân Hải (2003), Thơ chữ Hán Lê Thánh Tông, Nxb Văn học, Hà Nội.
[3] Ngô Sĩ Liên (1998), Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
[4] Nguyễn Ngọc Nhuận (2011), Điển chế và pháp luật Việt Nam thời trung đại, tập 1, Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội.
Ngày nhận bài: 16-11-2020. Ngày biên tập xong: 23-11-2020. Duyệt đăng: 27-11-2020
37
Bạn đang xem tài liệu "Tính nhân văn trong tư tưởng nhà nước và pháp luật của Lê Thánh Tông", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tinh_nhan_van_trong_tu_tuong_nha_nuoc_va_phap_luat_cua_le_th.pdf

