Tính nhân văn trong tư tưởng nhà nước và pháp luật của Lê Thánh Tông

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Võ Thị Xuân Hương  
TÍNH NHÂN VĂN TRONG TƯ TƯỞNG NHÀ NƯỚC  
VÀ PHÁP LUẬT CỦA LÊ THÁNH TÔNG  
THE HUMANITY IN LE THANH TONG’S THOUGHTS OF STATE AND LAW  
VÕ THỊ XUÂN HƯƠNG  
TÓM TẮT: Lê Thánh Tông (1442-1497) không chỉ là nhà văn hóa, nhà thơ lớn mà còn là nhà tư  
tưởng, nhà chính trị kiệt xuất. Ông đã để lại cho thế hệ sau di sản tư tưởng quý báu, trong đó có tư  
tưởng nhà nước và pháp luật. Tư tưởng nhà nước và pháp luật của Lê Thánh Tông không chỉ thể  
hiện những đặc điểm như tính kế thừa, tính thực tiễn, tính dân tộc, mà còn nổi bật và xuyên suốt đó  
là tính nhân văn sâu sắc, thể hiện ở quan điểm đề cao vai trò của dân, yêu thương dân, quan tâm  
đến đời sống của dân, nhất là những người dân lao khổ, thấp kém trong xã hội, và tấm lòng nhân  
ái, khoan dung rộng lớn.  
Từ khóa: Lê Thánh Tông; tư tưởng về nhà nước và pháp luật; đề cao vai trò của dân.  
ABSTRACT: Le Thanh Tong (1442-1497) was not only a great culturalist and poet, but also an  
outstanding thinker and politician. He has left to the next generation a valuable legacy of thoughts,  
including thoughts of state and law. Le Thanh Tong’s thoughts of state and law are not only show  
characteristics such as inheritance, practicality, nationality, but also prominent and throughout in  
the profound humanity, expressed in the viewpoint of promoting the role of the people, loving the  
people, paying attention to the lives of the people, especially the hard-working and inferior people  
in society, and great benevolence, tolerance.  
Key words: Le Thanh Tong; thoughts of state and law; promote the role of the people.  
lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Mộng Tuân, Lý  
Tử Tấn, Phan Phu Tiên, Nguyễn Thiên Túng,  
Nguyễn Trực... nổi bật là Lê Thánh Tông. Ông  
không chỉ là nhà văn hóa, nhà thơ lớn mà còn  
là nhà tư tưởng, nhà chính trị kiệt xuất. Với tư  
tưởng nhà nước và pháp luật sắc bén của mình,  
ông đã giải đáp được nhiệm vụ lịch sử xã hội  
Đại Việt đặt ra ở thế kỷ XIV-XV. Tư tưởng về  
nhà nước và pháp luật của Lê Thánh Tông thể  
hiện những nội dung hết sức đặc sắc. Đó là  
quan điểm về vai trò, chức năng của nhà nước  
trong thể chế quân chủ, về tổ chức bộ máy nhà  
nước và chế độ quan chế; quan điểm về vai trò,  
mục đích và nội dung của các quan hệ pháp  
luật, về phương pháp thực thi pháp luật; đặc  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Trong quá trình phát triển của lịch sử Việt  
Nam thế kỷ XIV-XV là một trong những giai  
đoạn đặc biệt; đó là sự chuyển biến từ nhà Trần  
sang nhà Hồ; cuộc khởi nghĩa Lam Sơn gian  
khổ chống lại sự xâm lược của giặc Minh giành  
thắng lợi oanh liệt; việc thành lập triều đại Lê  
sơ với nhiệm vụ và yêu cầu củng cố, xây dựng  
và phát triển nhà nước phong kiến trung ương  
tập quyền độc lập, thống nhất, vững mạnh trên  
tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa -  
xã hội, phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc  
nhằm chống lại âm mưu xâm lược của kẻ thù,  
bảo vệ nền độc lập dân tộc. Chính trong điều  
kiện lịch sử đó đã xuất hiện nhiều nhà tư tưởng  
 ThS. Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, [email protected]  
Mã số: TCKH24-23-2020  
33  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 24, Tháng 11 – 2020  
biệt đó còn là quan điểm về cải cách bộ máy  
hành chính theo hướng tinh gọn, thực quyền,  
hiệu lực và hiệu quả; là quan điểm tuyển chọn,  
sử dụng đội ngũ quan lại qua thi cử, thăng  
giáng, thưởng phạt nghiêm minh, nhằm tuyển  
chọn người hiền tài cho bộ máy nhà nước; thực  
hiện việc giám sát, kiểm soát chặt chẽ lẫn nhau,  
nhằm nâng cao trách nhiệm và hạn chế lạm  
quyền của quan lại, được thể hiện trong khối  
lượng tác phẩm khá đồ sộ viết bằng chữ Hán và  
chữ Nôm, không chỉ có ý nghĩa thơ văn mà còn  
mang giá trị tư tưởng sâu sắc, như Anh hoa  
hiếu trị, Châu cơ thắng thưởng, Chinh tây kỷ  
hành, Cổ tâm bách vịnh, Hồng Đức quốc âm  
thi, Lam Sơn Lương Thủy phủ, Minh Lương  
cẩm tú, Quỳnh uyển cửu ca, Thập giới cô hồn  
quốc ngữ thi, Thiên nam dư hạ tập, Văn minh  
cổ súy,…  
đồ… thích chữ vào người ở đợ làm nô tỳ mình, thì  
cũng xử tội như trên và phải trả tiền tẩy theo luật  
định. Nếu đem bán dân đinh làm nô tỳ cho người  
thì phải biếm năn tư và phải đền gấp đôi số tiền  
bán, nộp vào kho một nửa, còn nguyên tiền bán  
thì phải trả đủ cho người mua” [4, tr.129].  
Để bảo vệ quyền con người, Lê Thánh  
Tông còn quy định rõ hơn đối với các quan lớn  
trong triều không được tự tiện biến dân đinh  
thành tôi tớ trong nhà mình.  
Khi đề cập đến việc bảo vệ quyền lợi trẻ  
em, Lê Thánh Tông viết: “Gian dâm với con gái  
nhỏ từ 12 tuổi trở xuống, dù người con gái thuận  
tình, cũng xử tội như tội hiếp dâm” [4, tr.139];  
và “Con gái và những trẻ nhỏ mồ côi, tự bán  
mình mà không có ai bảo lãnh thì người mua  
cùng người viết văn khế, người làm chứng thảy  
đều xử tội xuy, trượng như luật (đàn bà đánh 50  
roi, đàn ông đánh 80 trượng) đòi lại tiền trả cho  
người mua mà hủy bỏ văn tự” [4, tr.118].  
Tư tưởng nhà nước và pháp luật của Lê  
Thánh Tông vừa thể hiện đậm nét của truyền  
thống lịch sử và văn hóa Việt Nam, vừa thể  
hiện đặc điểm riêng của Lê Thánh Tông, đó là  
tính nhân văn. Với quan điểm luôn đề cao vai  
trò của dân, bảo vệ những con người thấp kém  
trong xã hội, yêu thương dân, quan tâm đến đời  
sống của dân, nhất là những người dân lao khổ,  
và tấm lòng nhân ái, khoan dung rộng lớn của  
Lê Thánh Tông, tư tưởng về nhà nước và pháp  
luật của Lê Thánh Tông đã thể hiện tính chất  
nhân văn sâu sắc.  
Để bảo vệ tính mạng của dân, vua đưa ra  
nhiều hình phạt rất nghiêm khắc, trong đó  
không có sự phân định hình phạt theo địa vị xã  
hội của người phạm tội. Lê Thánh Tông viết:  
“Những phu thợ đang làm việc, những quân lính  
đang ở trại hoặc theo quân đội ra đánh giặc, hoặc  
theo hầu xa giá, hay sai đi việc quân, khi có tật  
bệnh mà quan chủ ty không xin cấp thuốc thang  
cứu chữa, thì xử phạt 40 roi; nếu vì ốm không  
chữa mà chết thì xử phạt 80 trượng ” [4, tr.178].  
Đặc biệt, Lê Thánh Tông rất coi trọng tính  
mạng con người, kể cả những người nghèo khổ  
và bất hạnh trong xã hội, ông viết: “Những người  
góa vợ, góa chồng, mồ côi, và những người tàn  
tật nặng, nghèo khổ không có người thân thích  
để nương tựa, không thể tự mình mưu sống được,  
quan sở tại phải thu nôi họ, mà lại bỏ rơi họ thì  
bị xử đánh 50 roi, biếm một tư. Nếu họ được cấp  
cơm áo, mà quan lại ăn bớt đi, thì khép vào tội  
như người giữ kho ăn trộm của công” [4, tr.115];  
ông viết: “đàn bà phạm tội tử hình trở xuống,  
nếu đang mang thai thì phải đợi sau sinh đẻ 100  
ngày mới đem hành hình” [4, tr.201].  
2. NỘI DUNG  
2.1. Lê Thánh Tông luôn đề cao vai trò của dân,  
bảo vệ những con người thấp kém trong xã hội  
Mặc dù bị hạn chế bởi quan điểm giai cấp  
hẹp hòi nhưng Lê Thánh Tông cũng đã đưa  
nhiều quy định bảo vệ quyền cơ bản của con  
người, nhất là những người thuộc các tầng lớp  
dưới (nô tỳ) trong xã hội. Lê Thánh Tông viết:  
“Những quan cai quản quan nô tỳ tự tiện thích  
chữ vào dân đinh để hạng nô ấy, thì xử phạt  
biến ba tư” [4, tr.87]. Hay “Người thích chữ vào  
vợ, con trai, con gái người khác và nô tỳ của  
người khác để bắt làm nô tỳ của mình, thì xử tội  
34  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Võ Thị Xuân Hương  
Tính nhân văn trong tư tưởng nhà nước và  
pháp luật của Lê Thánh Tông còn thể hiện ở sự  
kết hợp nhuần nhuyễn giữa “pháp trị” và “đức  
trị”, vừa đảm bảo tính nghiêm minh, công bằng  
của luật pháp vừa mang tính giáo dục, cảm hóa  
con người. Vì thế, bên cạnh những quy định  
bảo vệ tính mạng của con người Lê Thánh  
Tông còn đề cao bảo vệ nhân phẩm, danh dự  
của con người; các hành vi tố cáo, vu khống  
không đúng sự thật và trái quy định; việc quan  
quấy nhiễu ức hiếp dân, tự tiện bắt bớ, giam  
cầm người vô tội, phạm nhân không đáng gông  
cùm mà lại gông cùm, vô cớ đánh đập tù nhân;  
tra tấn tù nhân tuổi cao và vị thành niên. Lê  
Thánh Tông viết: “…70 tuổi trở lên, 15 tuổi trở  
xuống, hay bị phế tật, nếu phạm tội thì không  
được tra tấn, chỉ căn cứ vào lời khai của những  
người làm chứng mà định tội” [4, tr.197]. Để  
đảm bảo trật tự theo lễ giáo của Nho giáo ông  
đưa ra điều luật trừng trị rất nặng đối với những  
hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm của  
quan lại, những người thuộc hoàng tộc và họ  
hàng ruột thịt của họ đều bị áp dụng những  
hình phạt hết sức nghiêm khắc. Chẳng hạn:  
“Người không có quan chức mà lăng mạ quan  
tam phẩm trở lên thì đồ làm khao đinh” [4,  
tr.156]. Để ngăn ngừa hành vi hiếp dâm, bảo vệ  
nhân phẩm cho con người, ông trừng trị rất nặng  
hành vi phạm tội này. Lê Thánh Tông viết: “Ăn  
cướp còn hiếp dâm thì chém bêu đầu. Ăn trộm mà  
còn hiếp dâm thì xử chém” [4, tr.146].  
vừa để trấn áp giai cấp, tầng lớp phản kháng,  
vừa nhanh chóng ổn định tình hình xã hội và  
cũng là để “đền ơn, đáp nghĩa” đối với nhân  
dân, xoa dịu nỗi đau mất mát trong cuộc chiến  
tranh, thúc đẩy sản xuất phát triển. Lê Thánh  
Tông khẳng định: “Đạo làm vua rất lớn, phải  
nghiên cứu rất tinh tường, dưới thì yêu dân  
chúng, trên thì kính trời” [2, tr.298]. Yêu dân ở  
ông luôn gắn liền với chăm lo đời sống vật chất  
và đời sống tinh thần cho dân. Vì thế, ông ngày  
đêm trăn trở suy nghĩ, làm sao cho dân chúng  
được ấm no, hạnh phúc; đất nước được yên bình,  
thịnh trị: “Dân chúng ấm no điềm thịnh trị” [2,  
tr.297]. Và đó còn là thái độ nghiêm khắc của ông  
với đội ngũ quan lại gây phiền nhiễu cho dân. Lê  
Thánh Tông viết: “Các tướng soái ở phiên trấn  
mình mà sách nhiễu tiền bạc của dân trong trấn,  
châu, huyện mình thì bị biếm ba bậc, phải bồi  
thường gấp đôi số tiền, trả lại cho dân” [1,  
tr.79].  
Bên cạnh chăm lo về vật chất cho dân, tính  
nhân văn trong tư tưởng nhà nước và pháp luật  
của Lê Thánh Tông còn thể hiện trong quan  
điểm giáo hóa cho dân. Ông chủ trương lấy đạo  
luân thường để dạy dân, nếu chưa giáo hóa dân,  
chưa dạy cho dân điều hay nên làm, điều dở  
nên tránh mà đã trừng phạt dân là quan bạo  
ngược. Lê Thánh Tông viết: “Quan phủ huyện  
châu… trong khi đi tuần hành, đến chỗ thôn  
xóm dân cư nào, tất phải đem hết lời văn của  
sắc dụ đời trước, lời dạy về lễ nhạc xưa nay, ân  
cần hiếu bảo, để cho dân biết theo thiện đổi lỗi.  
Hoặc điều gì hại giáo hóa, tổn phong tục, tất  
phải để ý trị răn, có người nào trung tín hiếu  
đễ, tất phải để lòng khen thưởng. Như thế, dân  
đều theo về trung hậu. Đều bỏ hết lòng điêu  
bạc gian dối” [3, tr.293].  
Đây là tư tưởng tiến bộ, vượt thời đại và  
vẫn còn nguyên giá trị trong xã hội hiện đại. Tư  
tưởng ấy đã thể hiện tính nhân văn, nhân đạo  
sâu sắc trong sự nghiệp cai trị đất nước của Lê  
Thánh Tông.  
2.2. Tấm lòng yêu thương dân, quan tâm sâu  
sắc đến đời sống của dân trong tư tưởng nhà  
nước và pháp luật của Lê Thánh Tông  
2.3. Lòng nhân ái, khoan dung trong tư tưởng  
nhà nước và pháp luật của Lê Thánh Tông  
Trong tư tưởng nhà nước và pháp luật của  
mình, Lê Thánh Tông cũng đã ảnh hưởng, tiếp  
thu tinh thần nhân ái, khoan dung ấy của dân  
tộc Việt Nam; và nó đã được ông phát huy  
Nhận thức rõ vai trò, sức mạnh của nhân  
dân trong cuộc kháng chiến chống quân Minh  
đã đem lại những thắng lợi cho giai cấp cầm  
quyền, Lê Thánh Tông đã ban hành hình luật  
35  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 24, Tháng 11 – 2020  
trong suốt thời gian trị vì đất nước. Lòng nhân  
ái, khoan dung được Lê Thánh Tông thể hiện rõ  
nét hơn cả hình luật của các triều đại trước đó.  
Quan điểm ấy thể hiện ở các quy định phản ánh  
chính sách khoan hồng đối với những người  
phạm tội là người già, người tàn tật và trẻ em  
cũng như những người phạm tội. Lê Thánh  
Tông viết: “Những người từ 70 tuổi trở lên, 15  
tuổi trở xuống cùng những người bị phế tật,  
phạm từ tội lưu trở xuống đều cho chuộc tội  
bằng tiền, phạm tội thập ác thì không theo luật  
này. Từ 80 tuổi trở lên, 10 tuổi trở xuống cùng  
những người bị ác tật, phạm tội phản nghịch,  
giết người, đáng phải tội chết thì cũng tâu vua  
để xét định, ăn trộm và đánh người bị thương  
thì cho chuộc tội, còn ngoài ra không bắt tội.  
Từ 90 tuổi trở lên, 7 tuổi trở xuống dầu có bị  
tội chết cũng không hành hình, nếu có kẻ nào  
xui xiểm thì bắt tội kẻ xui xiểm” [4, tr.54].  
một số điều luật quy định về loại, mức hình  
phạt áp dụng cho người phạm tội là phụ nữ và  
điều kiện thi hành hình phạt đối với phụ nữ có  
thai. Về các quy định này có thể nêu như không  
áp dụng hình phạt đánh gậy đối với đàn bà  
phạm tội hoặc quy định trong cùng một hình  
phạt khổ sai, đàn bà phải chịu hình phạt kèm  
theo nhẹ hơn. Điều 1 quy định năm hình phạt  
trong đó có hình phạt trượng hình chỉ áp dụng  
cho đàn ông mới phải chịu; kèm theo làm  
tượng phường binh đàn ông bị đánh 80 trượng,  
thích vào cổ 2 chữ, kèm theo làm xung thất tỳ  
đàn bà bị đánh 50 roi, thích vào cổ 2 chữ. Quy  
định này càng được đánh giá tiến bộ nếu đặt  
vào trong mối liên hệ với quan niệm phong  
kiến về địa vị thấp kém của người phụ nữ so  
với người chồng trong gia đình mà đã được thể  
hiện trong pháp luật. Tính nhân đạo còn được  
thể hiện điều 680 cho phép hoãn thi hành hình  
phạt đối với phụ nữ đang có thai và trong thời  
gian 100 ngày sau khi sinh con [4, tr.149].  
Những người có trách nhiệm thi hành án không  
tuân thủ quy định này sẽ bị trừng phạt. Tính  
nhân đạo còn thể hiện rõ đối với những tù nhân  
mắc bệnh hiểm nghèo. Điều 669 viết: “Nếu tù  
nhân bị bệnh ung nhọt không được cho y khỏi  
mà tra khảo, thì xử tội biếm; nếu lúc ấy mà cho  
thi hành tội trượng, thì xử phạt tiền 30 quan; vì  
thế mà kẻ bị tội chết, thì biến hai tư” [4, tr.198].  
Ngoài việc thể hiện tính nhân đạo, bộ luật  
còn thể hiện tính công bằng và khoan hồng đối  
với người phạm tội. Điều 18 quy định: “Phàm  
phạm tội chưa bị phát giác mà tự thú trước, thì  
được tha tội… phạm tội nhẹ đã bị phát giác mà  
lại thú cả tội nặng nữa, nhân hỏi về tội đương  
xét mà thú thêm các tội khác nữa, thì được tha  
cả mọi tội” [4, tr.55].  
Ngoài ra, ông cũng quy định xử phạt thể  
hiện tính khoan dung, nhân đạo, đối với người  
già cả và trẻ nhỏ: “Khi phạm tội chưa già cả  
tàn tật, đến khi già cả tàn tật việc mới được  
phát giác thì xử theo luật già cả tàn tật. Khi ở  
nơi bị đồ mà già cả tàn tật thì cũng thế. Khi  
còn bé nhỏ phạm tội, đến khi mới được phát  
giác thì xử theo luật lúc còn nhỏ” [4, tr.55].  
Qua những điều luật trên cho ta thấy chính  
sách về pháp luật nhân đạo đối với những  
người phạm tội là người già, trẻ em và người bị  
tàn tật, miễn cho họ khỏi phải chịu hình phạt  
tàn ác bằng cách cho họ chuộc tội bằng tiền  
hoặc tha tội nếu họ không phạm tội thập ác, tội  
phản nghịch hay tội giết người với hình phạt  
được quy định là án tử hình. Tính nhân văn ở  
Lê Thánh Tông còn thể hiện ở lòng biết ơn với  
những công thần khai quốc trong dụ các quan  
trọng triều rằng: “Sư Hồi vì có công trung hưng  
cùng với cha là Xí có công lao lớn trong buổi  
khai quốc, nên tha tội chết. Còn Trịnh Lý thì  
triều thần các ngươi cùng bản xứ” [3, tr.395].  
Tính nhân văn trong tư tưởng nhà nước và  
pháp luật của Lê Thánh Tông còn thể hiện ở  
3. KẾT LUẬN  
Tính nhân văn trong tư tưởng nhà nước và  
pháp luật của Lê Thánh Tông là sự kết tinh bởi  
truyền thống yêu nước, tinh thần khoan dung,  
nhân nghĩa của dân tộc Việt Nam và tấm lòng  
nhân ái, ý thức trách nhiệm của ông đối với  
36  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Võ Thị Xuân Hương  
nhân dân, với quốc gia dân tộc. Đây cũng là  
một trong những đặc điểm nổi bật trong tư  
tưởng chính trị của ông. Với những nội dung  
phong phú và sâu sắc trong tư tưởng về nhà  
nước và pháp luật của mình, Lê Thánh Tông đã  
để lại nhiều giá trị, đóng góp to lớn trong lịch  
sử của dân tộc ta: 1) Với tư tưởng cải cách cơ  
cấu tổ chức chính quyền các từ trung ương đến  
cấp xã và kỹ thuật lập pháp, Lê Thánh Tông đã  
góp phần xây dựng một nền chính trị - xã hội  
ổn định, thống nhất; góp phần tích cực vào  
nhiệm vụ và yêu cầu củng cố, xây dựng và phát  
triển nhà nước phong kiến trung ương tập  
quyền độc lập, tự chủ, vững mạnh trên tất cả  
các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội,  
phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc nhằm  
chống lại âm mưu xâm lược của kẻ thù, bảo vệ  
nền độc lập dân tộc; 2) Tư tưởng chính trị của  
Lê Thánh Tông góp phần đề cao tinh thần độc  
lập và lòng tự hào dân tộc, ý thức về chủ quyền  
quốc gia, phát triển nền quân sự vững mạnh để  
bảo vệ vũng chắc núi sông, bờ cõi; 3) Tư tưởng  
về nhà nước và pháp luật của Lê Thánh Tông  
còn góp phần vào phát triển giáo dục, văn hóa,  
đào tạo sử dụng hiền tài, thể hiện tinh thần thân  
dân, tập hợp và phát huy sức mạnh đoàn kết của  
dân. Với những giá trị ấy, ông đã nhanh chóng  
chấm dứt tình trạng xung đột phe phái trong  
cung đình, lập lại kỷ cương, ổn định chính trị -  
xã hội. Tuy nhiên, cùng với những giá trị và ý  
nghĩa trên, tư tưởng về nhà nước và pháp luật  
của Lê Thánh Tông, vẫn còn những hạn chế nhất  
định, do điều kiện lịch sử và quan điểm, lập  
trường giai cấp quy định.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Phạm Trọng Điềm, Bùi Văn Nguyên (1982), Hồng Đức quốc âm thi tập, Nxb Văn học, Hà Nội.  
[2] Mai Xuân Hải (2003), Thơ chữ Hán Lê Thánh Tông, Nxb Văn học, Hà Nội.  
[3] Ngô Sĩ Liên (1998), Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.  
[4] Nguyễn Ngọc Nhuận (2011), Điển chế và pháp luật Việt Nam thời trung đại, tập 1, Nxb Khoa  
học xã hội, Hà Nội.  
Ngày nhận bài: 16-11-2020. Ngày biên tập xong: 23-11-2020. Duyệt đăng: 27-11-2020  
37  
pdf 5 trang Thùy Anh 26140 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tính nhân văn trong tư tưởng nhà nước và pháp luật của Lê Thánh Tông", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftinh_nhan_van_trong_tu_tuong_nha_nuoc_va_phap_luat_cua_le_th.pdf