Người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời và là nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam
NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI
NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI LÀ MỘT BỘ PHẬN KHÔNG TÁCH RỜI VÀ LÀ NGUỒN LỰC
CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC VIỆT NAM
Overseas Vietnamese are an integral part of and are a resource of the ethnic Vietnam
Mai Quốc Dũng
Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm Tp.HCM
Nhận bài ngày 28/11/2018, sửa chữa xong 30/11/2019, duyệt đăng 2/12/2018
Tóm tắt
Phát huy sức mạnh tổng hợp của đại đoàn kết dân tộc là một trong những nhân tố quyết định mọi thắng lợi
của cách mạng Việt Nam, trong sức mạnh đó có sự đóng góp của người Việt Nam ở nước ngoài. Quá trình đấu tranh
giải phóng dân tộc cũng như công cuộc xây dựng đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định: người Việt
Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời và là nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Đường lối nhất
quán này, đã tạo động lực để cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài luôn đồng hành và ra sức đóng góp cho quê
hương, đất nước, quyết tâm hoàn thành mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh.
Từ khóa: người Việt Nam ở nước ngoài, đoàn kết dân tộc, dân tộc Việt Nam
Summary
Promoting the combined strength of the great national unity is one of the decisive factors for all the
victories of the Vietnamese revolution, in which the contribution of overseas Vietnamese. The struggle for national
liberation as well as the construction of the country, the Communist Party of Vietnam always determines: overseas
Vietnamese is an integral part and the resources of the ethnic community of Vietnam . This consistent approach has
created a momentum for the overseas Vietnamese community to work together and work hard to contribute to the
country and the country, and to fulfill the goal of a prosperous people, a strong country and a democratic society ,
civil justice.
Keywords: Vietnamese people abroad, national unity, ethnic Vietnam
1. Đặt vấn đề
Quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng người Việt Nam ở nước (NVNONN) ngoài luôn gắn với
những bước thăng trầm của dân tộc. Mặc dù lý do ra đi có thể vì những vấn đề khác biệt về chính trị xã hội, hoặc tìm
kiếm cơ hội mới cho bản thân, gia đình, nhưng cơ bản cộng đồng NVNONN vẫn luôn hướng về quê hương Tổ quốc.
Đánh giá cao vị trí, vai trò của cộng đồng NVNONN Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối nhất quán, tạo
điều kiện để kiều bào gắn bó với quê hương và đóng góp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam giàu đẹp, vững mạnh.
2. Vài nét về người Việt Nam ở nước ngoài
Do nhiều lý do nên người Việt Nam có mặt ở quốc gia khác diễn ra rất sớm, việc người Việt Nam rời nước
ra đi có thể do những biến đổi sâu sắc về chính trị - xã hội hoặc do nhu cầu về kinh tế. Nhưng có thể thấy rõ nhất là
do trong nước có những biến đổi sâu sắc như đấu tranh giành độc lập chủ quyền thời kỳ phong kiến, cách mạng dân
tộc, dân chủ hoặc cách mạng xã hội chủ nghĩa đương đại và theo cách hiểu này, việc người Việt Nam rời nước ra đi
là do hậu quả của các chính sách xâm lược đàn áp, bóc lột, đồng hóa, chia để trị, phá hoại đoàn kết dân tộc của chủ
nghĩa phong kiến và chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Một bộ phận người Việt Nam ra đi vì vấn đề kinh tế, học tập cũng
góp phần hình thành nên sự đa dạng về cộng đồng NVNONN.
Việc ghi nhận người Việt Nam có mặt ở nước ngoài được đề cập trong sử sách thời kỳ phong kiến, trong
giai đoạn thực dân Pháp xâm lược nước ta và các giai đoạn sau này. Lịch sử ghi nhận người Việt Nam có mặt ở
nước ngoài vào đầu thế kỷ XIII, khi hoàng tử thứ hai con vua Lý Anh Tông là Lý Long Tường sang Cao Ly lánh
nạn. Về sau, cùng với việc truyền giáo của các nước phương Tây và quá trình xâm lược của thực dân Pháp, phạm vi
di cư của người Việt Nam ra nước ngoài được mở rộng. Sau ngày 30/4/1975 số người Việt Nam là sỹ quan, binh
lính trong chế độ Việt Nam Cộng hòa và gia đình họ, cộng với số người vượt biên (những năm 1978 – 1980) và ra đi
có trật tự, các chương trình nhân đạo (những năm 1980 – 1996), số lượng NVNONN đã tăng lên rất nhanh. Thêm
vào đó, sau năm 1980, có một số khá đông sinh viên, thực tập sinh và người lao động Việt Nam ở Liên Xô và Đông
Âu đã ở lại các nước này làm ăn và sinh sống, định cư.
GIÁO DỤC & XÃ HỘI – Tháng 12/2018
85
NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI
Đến nay, theo thống kê chưa đầy đủ, có khoảng 4.5 triệu người Việt Nam đang sinh sống ở hơn 100 quốc
gia và vùng lãnh thổ [7], trong đó hơn 80% ở các nước công nghiệp phát triển. Đa số NVNONN ổn định cuộc sống,
hòa nhập tốt vào xã hội nơi cư trú, đoàn kết, giữ gìn và phát huy truyền thống lịch sử, văn hóa tốt đẹp của dân tộc,
luôn hướng về quê hương, đất nước, tích cực tham gia đóng góp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cầu nối hữu nghị,
hợp tác giữa nước ta với các nước.
Vấn đề kiều dân là hiện tượng phổ biến trên thế giới. Hiếm có nước nào không có vấn đề này. Và, khi đã có
một bộ phận kiều dân đông đúc thì đất nước phải quan tâm và có những chính sách đối với họ. Việt Nam cũng
không nằm ngoài xu hướng đó, hiện nay Việt Nam có một hệ thống chính sách đối với vấn đề NVNONN, được hình
thành từ rất sớm và ngừng hoàn thiện, đáp ứng mong mỏi của NVNONN và công cuộc xây dựng, phát triển đất
nước.
3. Vấn đề về người Việt Nam ở nước ngoài trong đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam trước năm
1986
Trong hành trình đi tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã sớm nhận thấy tầm quan trọng của cộng
đồng NVNONN và đã tích cực vận động và xây dựng tổ chức phục vụ cho sự nghiệp đấu tranh của dân tộc. Năm
1919, Nguyễn Ái Quốc đã lập Nhóm người An Nam yêu nước, tiền thân của phong trào Việt kiều yêu nước và sau
này là Hội người Việt Nam tại Pháp. Năm 1924, cùng với một số đồng chí khác, Nguyễn Ái Quốc thành lập Việt
Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội ở Quảng Châu (Trung Quốc), sau đó là các chi hội ở Thái Lan. Năm 1928,
Nguyễn Ái Quốc trực tiếp đến Thái Lan để vận động bà con kiều bào và trực tiếp lãnh đạo phong trào Việt kiều yêu
nước tại đây dưới dạng các Hội ái hữu và cơ quan ngôn luận là tờ báo Đồng thanh. Chính những tổ chức yêu nước
của bà con Việt kiều đã đồng cam, cộng khổ cùng với nhiều thế hệ cán bộ đầu tiên của Đảng, giữ gìn và thắp sáng
ngọn lửa yêu nước của những người con xa xứ.
Ngay sau ngày độc lập 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần kêu gọi, động viên đồng bào trong và
ngoài nước ủng hộ và bảo vệ chính quyền cách mạng. Nhiều bà con tại Pháp đã tích cực tham gia phục vụ, bảo vệ
phái đoàn Chính phủ Lâm thời Việt Nam tham dự Hội nghị Phông-ten-nơ-blô (Fontainebleau), vận động dư luận
Pháp ủng hộ nền độc lập của Việt Nam. Hưởng ứng lời kêu gọi của Bác Hồ, nhiều tri thức Kiều bào sẵn sàng từ bỏ
cuộc sống sung túc để trở về nước tham gia kháng chiến như Trần Đại Nghĩa, Phạm Ngọc Thạch, Đặng Văn Ngữ…
Tại Thái Lan, Tổng hội Việt kiều cứu nước hoạt động rất mạnh, phối hợp chặt chẽ với phong trào cách mạng trong
nước, Kiều bào tổ chức quyên góp, sắm sửa vũ khí và nhiều người đã trực tiếp tham gia kháng chiến.
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, vị trí, vai trò của NVNONN tiếp tục được khẳng định trong sự nghiệp xây
dựng và thống nhất Tổ quốc. Vì vậy, nhiệm vụ trọng tâm của công tác NVNONN là vận động đồng bào tham gia
xây dựng miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Ngay trong năm 1954, Đảng đã tăng
cường thông tin và vận động kiều bào ủng hộ sự nghiệp cách mạng bằng nhiều hình thức đa dạng phù hợp với thực
tiễn và mục tiêu đấu tranh. Kết quả, tại Pháp kiều bào đã tổ chức mít tinh, lấy chữ ký, vận động nhân dân tại Pháp
đấu tranh chống Mỹ - Diệm, chống đàn áp những người kháng chiến. Nhiều tri thức Việt kiều sắn sàng về nước
chung tay, góp sức xây dựng đất nước.
Để thống nhất tổ chức hoạt động và là cầu nối đáp ứng nguyện vọng kiều bào, ngày 23/11/1954, Ban Việt
kiều Trung ương được thành lập (tiền thân ủy ban Nhà nước về NVNONN sau này). Đây là tổ chức chuyên trách
của Chính phủ thực hiện nhiệm vụ vận động và bảo vệ quyền lợi của bà con ở nước ngoài, thực hiện công tác hồi
hương của Việt kiều chủ yếu từ Thái Lan, Tân Đảo, Tân Thế giới. Ngày 10/1/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực
tiếp xuống cảng Hải Phòng để đón những chuyến tàu đầu tiên đưa những người con xã xứ trở về, đất mẹ. Điều này
đã thể hiện sự trân trọng của Đảng và của chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cộng đồng NVNONN.
Tiếp theo đó, Ban Việt kiều Trung ương trở thành đầu mối tổ chức, phối hợp, vận động kiều bào đấu tranh
cho hòa bình, thống nhất đất nước, xây dựng các phong trào Việt kiều đi đầu trong việc vận động nhân dân các nước
sở tại và bạn bè khắp năm châu hình thành mặt trân nhân dân thế giới ủng hộ sự nghiệp cách mạng của nhân dân
Việt Nam, đấu tranh chống đế quốc Mỹ. Tại Mỹ, Pháp, Bỉ, Ca-na-đa… phong trào Việt kiều yêu nước có quan hệ
chặt chẽ với trong nước thường xuyên vận động, tuyên truyền để chuyển lửa chiến trường tại Việt Nam lan rộng và
bùng cháy tại các đường phố và phong trào sinh viên phản chiến tại nước sở tại . Các tổ chức NVNONN ở một số
nước láng giềng tham gia nuôi giấu cán bộ, ủng hộ tài chính, động viên con em về tham gia chiến đấu. Kiều bào tại
Pháp đã hỗ trợ cho phái đòn Việt Nam tham gia hội nghị Pari về tinh thần, vật chất và nhân lực…
Các phong trào của kiều bào ở mỗi nước, mỗi điều kiện có thể được tổ chức, hình thức đấu tranh khác
nhau nhưng đều phản ánh một điểm chung là kiều bào dù ở xa Tổ quốc nhưng luôn nặng lòng với quê hương, đất
GIÁO DỤC & XÃ HỘI – Tháng 12/2018
86
NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI
nước, đã góp một phần quan trọng vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Xứng đáng được tôn vinh, được ghi nhận
là một phần không tách rời với dân tộc Việt Nam.
Từ sau năm 1975, Kiều bào đã tích cực tham gia công cuộc khôi phục, xây dựng và bảo vệ đất nước; đồng
thời chống bao vây cấm vận và âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch bên ngoài. Sự đóng góp của kiều bào đối
với quê hương đất nước thể qua số lượng kiều hối, hàng hóa kiều bào gửi về đã góp phần giảm bớt khó khăn trong
nước. Nhiều trí thức kiều bào cũng tích cực về nước trao đổi, giảng dạy, giới thiệu công nghệ mới. Tuy nhiên, trong
thời gian này, Hội Việt kiều cũng gặp nhiều khó khăn do sự chống phá của lực lượng phản động người Việt. Các
nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô lâm vào tình trạng khủng hoảng và sụp đổ ở những năm cuối thập
niên 80 và đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, đã tác động xấu tới phong trào Việt kiều. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh
khó khăn nhiều hình thức tập hợp mới của Kiều bào xuất hiện góp phần duy trì, củng cố, phát triển phong trào Việt
kiều và xu hướng gắn bó, hướng về quê hương không ngừng phát triển.
Bước vào thời kỳ đổi mới, công tác đối với NVNONN đã có những bước tiến vượt bậc. Đường lối của
Đảng tiếp tục khẳng định rõ ràng, nhất quán vị trí, vai trò của cộng đồng NVNONN trong từng quan điểm, chủ
trương, chính sách. Chính vì vậy, sự đóng góp của NVNONN không ngừng tăng lên cả số lượng và chất lượng, là
một nguồn lực quan trọng của đất, là một bộ phận không tách rời của dân tộc.
4. Đảng cộng sản Việt Nam với vấn đề về người Việt Nam ở nước ngoài từ năm 1986 đến nay
Trong công cuộc đổi mới đất nước, công tác về NVNONN có những bước ngoặt quan trọng. Việc phát huy
vai trò của người Việt Nam ở nước ngoài được quan tâm, thúc đẩy. Điều này được thể hiện trong những Văn kiện
quan trọng của Đảng như Văn kiện đại hội đến các nghị quyết chuyên đề về NVNONN.
Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 12-1986) xác định: “Đảng và Nhà nước ta thông
cảm và đánh giá cao lòng yêu nước của đồng bào, sẽ tạo thêm những điều kiện thuận lợi để đồng bào xây dựng khối
đoàn kết cộng đồng, tiếp xúc với bà con trong nước, đóng góp ngày càng nhiều hơn vào công cuộc xây dựng Tổ
quốc” [3, tr.774]. Nhiệm vụ chung này cũng là mục tiêu của công tác NVNONN, đem lại lợi ích và cho kiều bào
vừa cho đất nước.
Trong quá trình thực hiện sự nghiệp đổi mới, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị,
chính sách về người Việt Nam ở nước ngoài như: chỉ thị 67/CT-TW ngày 4/12/1990 của Ban Bí thư về công tác vận
động người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới đã nêu vấn đề: Hỗ trợ kiều bào giữ gìn bản sắc, truyền thống
văn hóa dân tộc, phát huy tinh thần đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau ổn định cuộc sống, củng cố và nâng cao vị trí của
cộng đồng người Việt Nam ở nước sở tại. Chủ trương, chính sách của Đảng về NVNONN được nâng lên tầm cao
mới, khi lần đầu tiên đã có một Nghị quyết riêng về công tác đối với NVNONN, đó là Nghị quyết 08-NQ/TW ngày
29/11/1993 và lần đầu tiên một Nghị quyết công khai về công tác này đó là Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày
26/3/2004. Các Văn kiện đều khẳng định: “Người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời và là
nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam” [2], khẳng định này được nối tiếp từ quan điểm của Hồ Chí Minh, thể
hiện sự nhất quán quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng cộng đồngNVNONN. Xác định cộng
đồng NVNONN là một bộ phận của công tác xây dựng dựng và tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc,
khơi dậy trong cộng đồng NVNONN lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, cùng chung sức xây dựng quê hương, đất
nước giàu đẹp, hùng cường.
Sau hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị, công tác đối với NVNONN có
nhiều tiến bộ và đạt nhiều kết quả quan trọng, đã góp phần tích cực vào việc tăng cương và phát huy sức mạnh đại
đoàn kết toàn dân tộc; cổ vũ, động viên NVNONN nâng cao ý thức tự hòa dân tộc, lòng yêu nước, gắn bó với quê
hương đất nước, đoàn kết, giúp đỡ nhau, vươn lên trong cuộc sống, hội nhập vào nước sở tại.
Đường lối nhất quán của Đảng đã phát huy mạnh mẽ tiềm lực của NVNONN. Trong những năm qua, kiều
bào đã có những đóng góp to lớn và đa dạng trên các lĩnh vực. Theo thống kê của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế
Trung ương (CIEM), từ năm 1991 đến nay, lượng kiều hối về Việt Nam tăng bình quân hằng năm đạt mức trên
38%; tổng lượng kiều hối về Việt Nam từ năm 1993 đến năm 2015 đạt khoảng 108,6 tỷ USD [6]. Mỗi năm, có
khoảng 500.000 lượt kiều bào về nước, trong đó rất nhiều người về để tìm hiểu cơ hội kinh doanh. Đến nay, cả nước
đã có khoảng 3.500 công ty được thành lập hoặc góp vốn từ kiều bào, với tổng số vốn đăng ký hơn 8,4 tỷ USD [8].
Trí thức NVNONN trở về đóng góp cho quê hương ngày càng tăng, riêng ở TPHCM hiện có hàng trăm chuyên gia,
trí thức làm việc, trong đó có 47 giáo sư, phó giáo sư, 50 tiến sĩ, 11 thạc sĩ [5]. Sự đóng góp của NVNONN là
nguồn lực đóng góp to lớn cho sự phát triển của Việt Nam trong thời gian vừa qua và hứa hẹn sẽ tiếp tục tăng trong
thời gian tới.
GIÁO DỤC & XÃ HỘI – Tháng 12/2018
87
NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI
Nhằm tiếp tục đẩy mạnh công tác NVNONN, ngày 19/5/2015, Ban Chấp hành Trương ương ban hành chỉ
thị số 45-CT/TW về việc tiếp tục đẩy mạnh Nghị quyết 36-NQ/TW của Bộ Chính trị khoa IX về công tác đối với
người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới. Chỉ thị nêu rõ 10 nội dung trọng tâm, trong đó tiếp tục khẳng
định: NVNONN là bộ phận không tách rời và là nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam.
5. Kết luận
Xuyên suốt đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, vị trí, vai trò của NVNONN luôn được khẳng định là
một nhân tố quan trọng, một bộ phận không tách rời và là nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam trong quá
trình đấu tranh cũng như xây dựng đất nước. Chính sự nhất quán của Đảng đã là nhân tố hàng đầu giúp bà con yên
tâm và sẵn sàng đóng góp sức của, sức người cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc./.
___________________________
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị, Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 29/11/1993, Kho Lữu trữ Trung ương Đảng.
2. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26/03/2004, Kho Lưu trữ Trung ương Đảng.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, tập 47.
4. Trần Trọng Đăng Đàn (1997), Người Việt Nam ở nước ngoài, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
nam-va-mot-so-khuyen-nghi-103971.html ngày 04/03/2017
GIÁO DỤC & XÃ HỘI – Tháng 12/2018
88
Bạn đang xem tài liệu "Người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời và là nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nguoi_viet_nam_o_nuoc_ngoai_la_mot_bo_phan_khong_tach_roi_va.docx

