Tiểu văn hóa đô thị: Khái niệm và lý thuyết

36 Lâm Thị Ánh Quyên. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 15(1), 36-47  
Tiểu văn hóa đô thị: Khái niệm và lý thuyết  
Urban subculture: Concept and theory  
Lâm Thị Ánh Quyên1*  
1Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam  
*Tác giả liên hệ, Email: [email protected]n  
THÔNG TIN  
TÓM TẮT  
DOI:10.46223/HCMCOUJS.  
soci.vi.15.1.594.2020  
Không có định nghĩa thống nhất về “tiểu văn hóa”. Tuy  
nhiên, đa số học giả đều nhất trí tiểu văn hóa là những nhóm  
người với những mối quan tâm chung và thực hành chung. Các  
tiểu văn hóa có những mức độ khác nhau so với văn hóa chủ đạo.  
Ngày nhận: 26/04/2020  
Ngày nhận lại: 18/05/2020  
Duyệt đăng: 07/07/2020  
Nghiên cứu về tiểu văn hóa đô thị tập trung vào 3 lối tiếp  
cận/lý thuyết chính: lối tiếp cận sinh thái học của Trường phái  
Chicago về những “khu vực tự nhiên/natural areas”; lý thuyết  
thành phần/nhấn mạnh các yếu tố như giai cấp, nghề nghiệp, họ  
tộc, dân tộc…; “Lý thuyết tiểu văn hóa về tính đô thị” của Claude  
Fischer nhấn mạnh môi trường đô thị thúc đẩy sự cố kết, sự sáng  
tạo thể hiện ở các tiểu văn hóa nhờ khối lượng tới hạn.  
Từ khóa:  
đô thị, tiểu văn hóa, tính đô  
thị  
ABSTRACT  
There is no unified definition of subculture. However, most  
scholars agree that subcultures are groups of people that have  
something in common with common interests and common  
practices. The subcultures have different levels compared to the  
mainstream culture.  
The study of urban subculture focuses on three main  
theories: the ecological approach of Chicago School about  
“natural area”; the Compositional Theory which emphasizes  
factors such as class, occupation, clan, ethnicity, etc; the  
Subcultural Theory of Urbanism by Claude Fischer with an  
emphasis on the urban environment that promotes cohesion and  
creativity in subcultures thanks to the critical mass.  
Keywords:  
urban, subculture, urbanism  
1. Dẫn nhập  
Văn hóa là tổng hợp tri thức, giá trị, chuẩn mực và lối sống được con người tiếp thu qua  
học hỏi. Trong một nền văn hóa chủ đạo, có nhiều tiểu văn hóa tồn tại, ví dụ tiểu văn hóa nghề  
nghiệp, tiểu văn hóa tiêu dùng, tiểu văn hóa nghiện, tiểu văn hóa Internet hay tiểu văn hóa tội  
phạm công nghệ cao… Đa số các tiểu văn hóa được hình thành ở đô thị, bởi vì đô thị với số  
Lâm Thị Ánh Quyên. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 15(1), 36-47 37  
lượng người đông, mật độ dày đặc và cư dân khác biệt nhau về mặt xã hội (Wirth, 1938) là  
những điều kiện tạo nên sự đa dạng của xã hội đô thị, trong đó có sự đa dạng các tiểu văn hóa.  
Tác giả sẽ điểm lại các định nghĩa về tiểu văn hóa, lịch sử nghiên cứu các tiểu văn hóa  
dưới lối tiếp cận xã hội học và trình bày ba lối tiếp cận/lý thuyết giải thích hiện tượng đa dạng  
các tiểu văn hóa ở đô thị: lối tiếp cận sinh thái học của Trường phái Chicago; lý thuyết thành  
phần của Herbert Gans và tập trung vào lý thuyết tiểu văn hóa về tính đô thị của Claude Fischer.  
2. Tiểu văn hóa: Khái niệm và khái quát lịch sử nghiên cứu  
2.1. Khái niệm  
Khái niệm “tiểu văn hóa/Subculture” bắt nguồn từ tiếng Latinh. Nói đến nghiên cứu tiểu  
văn hóa, đặc biệt ở đô thị, phải kể đến các nghiên cứu của các Nhà Nhân học văn hóa và Xã hội  
học tại Mỹ trong những năm 1920-1960 thuộc Trường phái Chicago.  
Milton Gordon (Trường phái Chicago), năm 1947, định nghĩa tiểu văn hóa/Sub-culture  
là sự phân chia/Sub-division trong văn hóa quốc gia. Khái niệm tiểu văn hóa cho phép chúng  
ta sử dụng khi cần đề cập đến những phân khúc dân cư bằng cách xác định những hệ thống tổ  
chức xã hội đóng hoặc tương đối gắn kết, dựa trên sự khác biệt cơ cấu (giai cấp, dân tộc, chủng  
tộc, liên kết tôn giáo) … tạo nên chức năng hội nhập cho các cá nhân (Berzano & Genova,  
2015).  
Arnold (as cited in Vascovics, 1989) đề cập 3 mô hình về tiểu văn hóa, trong đó mô  
hình thứ ba được ủng hộ nhiều nhất. Tiểu văn hóa có những giá trị, chuẩn mực, khuôn mẫu  
hành động mang tính phổ quát đối với tất cả các thành viên của một xã hội; một vài giá trị và  
chuẩn mực khác biệt nhưng vẫn được xem là phù hợp. Nhưng có những chuẩn mực và giá trị  
trong một xã hội chỉ có ý nghĩa đối với một số nhóm nhất định. Có những tiểu văn hóa có rất ít  
những thành tố của văn hóa chủ đạo; và có những tiểu văn hóa hầu như ít có sự khác biệt với  
văn hóa chủ đạo. Như vậy, giữa 2 cực này có rất nhiều biến thể tiểu văn hóa. Theo Bell (as cited  
in Vascovics, 1989) thanh niên có tiểu văn hóa của riêng mình, mang trong mình những thành  
tố quan trọng trong lĩnh vực giáo dục và kinh tế của văn hóa chủ đạo, nhưng trong lĩnh vực thời  
gian nhàn rỗi lại có những biểu tượng văn hóa riêng (trang phục, âm nhạc, ngôn ngữ).  
Hartfiel và Hilmann (1982) cho rằng tiểu văn hóa là hệ thống các giá trị, chuẩn mực,  
biểu tượng và phương thức hành vi, được công nhận và chia sẻ (các thành viên có những đặc  
điểm tương đồng như giới tính, tuổi, nhóm nghề nghiệp hoặc tầng lớp xã hội). Hệ thống này  
nằm trong hệ thống của văn hóa chủ đạo, có một cuộc sống riêng và có thể có những vấn đề  
như hành vi lệch lạc, xung đột. Trong những xã hội đa dạng và nhiều khác biệt sẽ hình thành  
nhiều tiểu văn hóa hơn là những xã hội giản đơn. Tiểu văn hóa có những đặc điểm riêng để  
nhận dạng, đẩy mạnh sự đoàn kết của nhóm riêng, nhưng có nguy cơ hình thành xung đột giữa  
các nhóm. Phân tích tiểu văn hóa có ý nghĩa đặc biệt trong phạm vi thiểu số bị xã hội phân biệt  
đối xử và cô lập.  
Theo Hebdige (1979), tiểu văn hóa có thể nằm trong sự phát triển của văn hóa chủ đạo,  
có thể kháng cự lại văn hóa chủ đạo.  
38 Lâm Thị Ánh Quyên. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 15(1), 36-47  
Theo Haenfler (2014), tiểu văn hóa có những đặc điểm sau: (1) Mạng lưới khuếch tán  
(Diffuse Networks); (2) Chia sẻ những ý nghĩa khác biệt (Shared Distinct Meanings); (3) Bản  
sắc được chia sẻ (Shared Identity); (4) Kháng cự (Resistance); (5) Ngoài lề (Marginalization);  
(6) Phân tầng, các giá trị và các từ ngữ đặc biệt.  
Theo Vascovics (1989), tiểu văn hóa chính là văn hóa thành phần, có thể lệch ra khỏi  
văn hóa chủ đạo/văn hóa quốc gia ở một số khía cạnh, ở một số khía cạnh khác trùng hợp. Tiểu  
văn hóa là một mô hình hành động của một nhóm xã hội hay một phạm trù xã hội (social  
category) (e.g., tuổi). Những chuẩn mực của tiểu văn hóa này khá xa lạ với các thành viên của  
xã hội nói chung. Đối với các nhóm xã hội hay nhóm theo phân loại xã hội, hành vi của họ bị  
điều khiển bởi các giá trị và chuẩn mực trong những lĩnh vực nhất định, những chuẩn mực và  
giá trị này chỉ có tính ràng buộc giữa các thành viên của nhóm, và như vậy, có thể công nhận  
sự hiện hữu của một tiểu văn hóa. Đây là mối quan hệ ngang giữa văn hóa chủ đạo và tiểu văn  
hóa. Đối với mối quan hệ dọc, văn hóa chủ đạo thể hiện cái “thông thường”, tiểu văn hóa thể  
hiện cái “lệch lạc”.  
Giddens (as cited in Wuggenig, 2003) định nghĩa tiểu văn hóa là những phân khúc dân  
cư, được phân biệt qua khuôn mẫu văn hóa với xã hội tổng thể. Bên cạnh sự khác biệt theo hoàn  
cảnh giai cấp, dân tộc, thành phố và làng quê hoặc các vùng, Giddens còn nhắc đến các nhóm  
lối sống hay thế giới nghệ thuật- văn hóa cao hay văn hóa đại chúng.  
Các tiểu văn hóa có những cấp độ khác nhau về tổ chức tập thể và sự gắn kết (e.g., các  
băng đảng được tổ chức chặt chẽ, còn các mạng lưới theo trào lưu văn hóa đại chúng lỏng lẻo  
hơn) (Wuggenig, 2003).  
Tiểu văn hóa-Văn hóa đối kháng  
Nếu các giá trị, chuẩn mực, lối sống... của các thành viên một tiểu văn hóa khác biệt  
đáng kể với đa số trong xã hội, Giddens (as cited in Wuggenig, 2003) gọi là tiểu văn hóa lệch  
lạc hoặc không phù hợp (nonconformal). Khi các nhóm với những giá trị và chuẩn mực chủ  
đạo của nhóm từ chối văn hóa chủ đạo là văn hóa đối kháng/Counterculture. Ví dụ, liên quan  
đến thẩm mỹ, Yinger (as cited in Wuggenig 2003) đề cập đến nghệ thuật avant-garde (trong  
những năm 1960 và 1970). Và âm nhạc có tiềm năng tạo nên văn hóa đối kháng. Trong các  
nghiên cứu tiểu văn hóa ở Anh, ý nghĩa tiêu dùng âm nhạc được nhấn mạnh. Storey (as cited in  
Wuggenig, 2003) cho rằng âm nhạc là một công cụ đặc biệt quan trọng để giúp hình thành bản  
sắc và đánh dấu sự khác biệt với những người khác. Âm nhạc tạo nên ý nghĩa cho một cộng  
đồng thực hoặc tưởng tượng/ảo, được tạo lập nên qua hành động tiêu dùng.  
Tóm lại: Không có định nghĩa thống nhất về tiểu văn hóa. Tuy nhiên, đa số học giả đều  
nhất trí rằng tiểu văn hóa là những nhóm xã hội được tổ chức với những mối quan tâm chung  
và thực hành chung (Gelder & Thornton, 1997)1. Nhưng cũng có những tiểu văn hóa có mạng  
lưới khuếch tán.  
1 Tiểu văn hóa có phải là một cộng đồng? (Cộng đồng: dân số, lãnh thổ). Tiểu văn hóa có thể phi lãnh thổ, sự lựa chọn cá nhân.  
Tiểu văn hóa (Subculture) khác với “Cộng động” (Community) - là những cư dân gắn kết mang tính hàng xóm và gia đình là  
thiết chế chủ đạo. Tiểu văn hóa thường được nghiên cứu dưới góc độ tách biệt khỏi kết nối gia đình (Gelder & Thornton, 1997)  
Brewer and Gardner (as cited in Haenfler, 2014) cho rằng cần phân biệt giữa các nhóm xã hội vốn phát triển từ nền tảng liên  
kết chung (common bonds) (attachment to other group members) và các tiểu văn hóa bao gồm những người chia sẻ một bản  
sắc chung (common identity).  
Lâm Thị Ánh Quyên. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 15(1), 36-47 39  
Tiểu văn hóa là văn hóa bộ phận, với những thiết chế, giá trị, chuẩn mực, nhu cầu,  
phương thức hành vi và biểu tượng khác (distinct) với văn hóa chủ đạo, các thành viên của tiểu  
văn hóa này khác với tiểu văn hóa khác theo hoàn cảnh giai cấp, tuổi, nghề nghiệp hoặc nguồn  
gốc xuất thân. Các tiểu văn hóa có những lệch chuẩn so với văn hóa chủ đạo nhưng tùy theo  
cường độ biểu hiện, vì vậy, có thể hay không được xã hội chấp nhận.  
2.2. Lịch sử nghiên cứu  
Có thể phân ra 3 giai đoạn nghiên cứu về tiểu văn hóa (Berzano & Genova, 2015; Gelder  
& Thornton, 1997; Wuggenig, 2003).  
(1) Giai đoạn 1: 1920-1960, Trường phái Chicago: Tiểu văn hóa- lệch lạc.  
Trường phái Chicago (hay còn được gọi là Trường phái sinh thái học) sử dụng tiểu  
văn hóa lệch lạc, nhấn mạnh vào lối tiếp cận dân tộc học và thực nghiệm, tập trung vào người  
nhập cư, người Mỹ gốc Phi và tầng lớp lao động, đặc biệt là các nhóm thanh niên lệch lạc.  
Trường phái Chicago nghiên cứu các tiểu văn hóa lệch lạc ở đô thị- hình thành tại những  
khu vực nhất định - đó là do sự thất bại về mặt thiết chế để xã hội hóa một vài khu vực dân cư  
về những chuẩn mực và giá trị chung. Và như vậy các tiểu văn hóa hình thành một thế giới xã  
hội khác biệt (distinct) về cách thức hành động, nói năng, suy nghĩ…, có khái niệm riêng về  
những gì có ý nghĩa trong cuộc sống và lược đồ riêng. Lệch lạc là kết quả của các vấn đề xã hội  
và môi trường hơn là nhân cách cá nhân, do thiếu cơ hội lựa chọn, hoặc rối loạn tâm lý, liên  
quan đến những nhóm đứng ngoài dòng chảy của xã hội.  
(2) Giai đoạn 2: Những năm 1970-1980, Trường phái Birmingham (The Birmingham  
School): Tiểu văn hóa-kháng cự, xung đột.  
Lý thuyết của Trường phái Birmingham mang tính chính trị, phân tích các tiểu văn hóa  
thanh niên (thông qua nghi thức/ritual) như là phản ứng/sự kháng cự biểu tượng (symbolic  
resistance) đối với áp bức giai cấp, phát triển trong khung qui chiếu tân macxit (neomarxism)  
và các nghiên cứu của Trường phái Chicago và bị ảnh hưởng nhiều bởi Howard Becker với  
“Người ngoài”/ “Outsiders” (1963), Erving Goffman, Durkheim về “Phi chuẩn mực”/anomie,  
Trường phái Frankfurt về xã hội đại chúng và lý thuyết cấu trúc chính trị Pháp (French  
structuralist political theory).  
Trung tâm nghiên cứu văn hóa đương đại/Centre for Contemporary Cultural Studies  
(CCCS) (thuộc trường đại học Birmingham/University of Birmingham) (được thành lập năm  
1964 bởi Richard Hoggart và đóng cửa năm 2002), hoạt động hiệu quả từ giữa những năm  
1970-1980 đã định nghĩa lại tiểu văn hóa trong mối quan hệ với giai cấp, dân tộc và giới, với  
mục tiêu giải thích sự xuất hiện của các tiểu văn hóa thanh niên với kiểu lối và âm nhạc như  
Teddy boys, Mods, Skinheads, và Rockers trong thời kỳ hậu chiến tranh Thế giới II ở Anh. Và  
từ thời điểm này (những năm 1970), tiểu văn hóa được nghiên cứu dưới các lối tiếp cận lịch sử  
xã hội, nhân học, văn học, văn hóa và truyền thông.  
CCSS nhìn nhận các tiểu văn hóa dựa trên nền tảng giai cấp, vì đa số các tiểu văn hóa  
thuộc về nam thanh niên da trắng, tầng lớp thấp, kháng cự lại những giá trị văn hóa chủ đạo và  
cơ cấu giai cấp, với mong muốn đạt được mức sống cao hơn. Sự kháng cự này thể hiện rõ trong  
40 Lâm Thị Ánh Quyên. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 15(1), 36-47  
lối và nghi thức của các thành viên (Haenfler, 2014). Tuy nhiên, CCSS cho rằng sự kháng cự  
này ít đem lại biến đổi thực sự. Họ quá nhấn mạnh đến sự kháng cự, giai cấp và kiểu lối.  
(3) Giai đoạn 3 từ những năm 1980: nghiên cứu tiểu văn hóa chịu ảnh hưởng tiếp tục  
bởi Trường phái Birmingham, nhưng có những phản ứng khác nhau của các học giả về các công  
trình nghiên cứu của Birmingham (e.g., tại sao chỉ tập trung vào tiểu văn hóa và phản kháng),  
thậm chí có học giả quay trở lại với Trường phái Chicago (Gelder & Thornton, 1997). Nghiên  
cứu tiểu văn hóa tập trung vào sự khác biệt (Berzano & Genova, 2015).  
Giữa ba giai đoạn này, các nhà nghiên cứu sử dụng hoặc là các lối tiếp cận xã hội  
học/nhân học (với phương pháp quan sát tham dự, nghiên cứu tổ chức và tương tác) và lối tiếp  
cận văn hóa - ký hiệu học (các hình thức văn hóa như trang phục, biểu tượng và ý nghĩa) (Gelder  
& Thornton, 1997). Hiện nay, đã có những nghiên cứu hậu tiểu văn hóa/Post-Subcultural  
Studies với hội nghị khoa học đầu tiên được tổ chức tại Vienna 11-12/5/2001.  
3. Tiểu văn hóa và đô thị  
Bàn về tiểu văn hóa và đô thị, chúng ta tiếp tục nhắc đến Trường phái Chicago với lối  
tiếp cận sinh thái học, lý thuyết thành phần với Herbert Gans và tập trung vào lý thuyết tiểu văn  
hóa về tính đô thị của Claude Fischer.  
3.1. Trường phái Chicago với Lối tiếp cận sinh thái (Ecological Approach): “Các khu  
vực tự nhiên”/ “Natural Areas”  
Robert E. Park (1864-1944) và Ernest W. Burgess (1886-1966), Trường phái Chicago,  
trong những năm 1920, đã phát triển Chương trình nghiên cứu đô thị trong Khoa Xã hội học tại  
trường đại học Chicago (Robert Park là người sáng lập Trung tâm nghiên cứu đô thị đầu tiên  
tại Mỹ). Bài viết “The City: Suggestions for the Study of Human Nature in the Urban  
Environment” năm 1915 của Robert Park đóng vai trò quan trọng đối với các nghiên cứu về  
tiểu văn hóa sau này.  
Park và Burgess đưa ra lý thuyết sinh thái học đô thị: đô thị là môi trường giống môi  
trường tự nhiên, bị quản lý bởi nhiều lực. Các mối quan hệ xã hội chịu sự chi phối bởi bốn  
nguyên tắc: hợp tác, cạnh tranh, thích ứng và đồng hóa. Lực thúc đẩy quan trọng nhất chính là  
cạnh tranh. Cạnh tranh để giành lấy những nguồn lực hiếm hoi ở đô thị, đặc biệt là đất đai, dẫn  
đến cạnh tranh giữa các nhóm và cuối cùng dẫn đến sự phân chia không gian đô thị thành  
“những khu vực tự nhiên”/ “natural areas”, ở đó con người chia sẻ những đặc điểm xã hội giống  
nhau bởi vì họ là đối tượng của cùng sức ép sinh thái. “Tự nhiên”/ “Natural” bởi vì chúng được  
hình thành do sự thích nghi giữa môi trường và cư dân vốn là kết quả của cuộc cạnh tranh “tự  
nhiên”. “Natural areas” là những tiểu cộng đồng- thúc đẩy tự do ở đô thị cũng như phi tổ chức  
ở đô thị. Thành phố là tấm khảm của những cộng đồng nhỏ, nhiều trong số đó khác biệt nhau.  
Mỗi thành phố đều có khu trung tâm thương mại, khu ngoại vi, nhưng cũng có khu ổ chuột, khu  
người da đen/the ghettos, khu người nhập cư, khu phố xa xỉ, những khu vực có văn hóa ít nhiều  
khác lạ… là những khu vực có sự đồng nhất văn hóa.  
Thành phố tăng trưởng bằng sự mở rộng, nhưng thành phố mang đặc điểm của sự chọn  
lựa và phân tách của cư dân, mỗi cá nhân tìm cho mình một nơi chốn mà họ có thể hoặc buộc  
Lâm Thị Ánh Quyên. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 15(1), 36-47 41  
phải sống (Park, Burgess & McKenzie, 1925)2. Khu vực tự nhiên hình thành bởi vì chúng cho  
phép cư dân thỏa mãn những nhu cầu của mình và giải quyết các vấn đề. Có những khu vực với  
những đặc điểm nhất định để hấp dẫn và phát triển những loại nhân cách nhất định, và tiếp tục  
khu biệt hóa (Park, Burgess & McKenzie, 1925). Mỗi khu vực tự nhiên có truyền thống riêng,  
tập quán, qui ước riêng, có thể có ngôn ngữ riêng.  
Wirth (1928) trong “The Ghetto” cũng có quan điểm tương tự: Mỗi một khu vực trong  
thành phố đều mang lại chức năng (là ranh giới tự nhiên, kiến trúc, giao thông, khuôn mẫu văn  
hóa) và mỗi cư dân sẽ tìm kiếm khu vực nào phù hợp với họ (tương đồng với nguồn lực kinh  
tế) để thỏa mãn nhu cầu của họ. Một mặt, cư dân có thể lựa chọn để hội tụ tại một khu vực nhất  
định trong thành phố để theo đuổi thực hành văn hóa; mặt khác, tìm kiếm sự hỗ trợ, giúp đỡ từ  
những người giống họ; hoặc tránh sự phân tán.  
Harvey Zorbaugh (as cited in Lin & Mele, 2005) cũng mô tả thành phố là một hiện  
tượng tự nhiên. Các “natural areas” là sản phẩm phi qui hoạch, có xu hướng là những khu vực  
văn hóa khác biệt, mỗi khu vực bao gồm phức hợp các thiết chế, tập quán, niềm tin, truyền  
thống, thái độ, tình cảm và mối quan tâm. Chúng có thể là biểu hiện khác biệt về chủng tộc/dân  
tộc, có thể ốc đảo, và khu nhà trọ cho thuê. Đôi khi, “natural areas” và khu phố có nghĩa tương  
đồng; cũng có thể khu phố là tiểu đơn vị của “natural areas”. Theo Zorbough, thị trường nhà  
đất đã sàng lọc cư dân vào những khu vực- tạo nên tách biệt văn hóa. “Natural areas” hình thành  
thông qua sự trùng khớp ngẫu nhiên của ranh giới vật lý và lực văn hóa.  
Tóm lại: Những tiểu văn hóa hình thành trong những khu vực tự nhiên/natural areas là  
kết quả của trạng thái gần gũi sinh thái của các cá nhân với những đặc điểm tương đồng về văn  
hóa xã hội và tách biệt với những khu vực khác. Không gian đô thị sẽ được phân chia thành  
những khu vực mà cư dân khu vực này khác biệt với cư dân khu vực khác theo thị hiếu, mối  
quan tâm, tính cách.  
3.2. Lý thuyết thành phần: Herbert Gans và tấm khảm đô thị/urban mosaic  
Trong những năm 1960 và 1970, các nghiên cứu cộng đồng chỉ ra mâu thuẫn trong giả  
thuyết về phi tổ chức xã hội của những nghiên cứu thuộc Trường phái Chicago và đề cao những  
mối quan hệ sơ cấp quan trọng, khỏe mạnh và đời sống cộng đồng tích cực trong những khu  
phố ở đô thị.  
Đặc biệt, nghiên cứu của Herbert Gans và Oscar Lewis hay còn gọi là Lý thuyết thành  
phần đô thị (Compositional Theory of Urbanism). Các khu vực ở thành phố tạo nên “tấm khảm  
của thế giới xã hội”/ “mosaic of social worlds”. Thế giới xã hội là những nhóm xã hội dựa trên  
họ tộc, dân tộc, hàng xóm, nghề nghiệp... Nghiên cứu của Gans (1962) về những dân làng đô  
thị/Urban Villagers- những người Mỹ gốc Ý trong khu ổ chuột/slum ở Boston cho thấy đời  
sống trong cộng đồng của giai cấp lao động được tổ chức khá chặt chẽ.  
2 Tác phẩm “The City” (1925) của Robert Park, Ernest Burgess và McKenzie thường bị đặt tựa đề sai theo tên tác  
phầm “The City: Suggestions for Investigation of Human Behavior in the Urban Environment", vốn là tác phẩm  
của Robert Park (1915). Trong “The City” (1925), bài viết của Park năm 1915 là Chương 1 (trang 1-46). Và tên  
McKenzie có khi được đưa vào, có khi không.  
42 Lâm Thị Ánh Quyên. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 15(1), 36-47  
Và thành phố cũng là một tấm khảm của nhiều lối sống3, chỉ có một vài loại lối sống  
giống với “người thế giới”/ “cosmopolitan” được mô tả bởi Louis Wirth4. Gans giúp chúng ta  
hiểu về sự phức hợp của đời sống đô thị. Tất nhiên, một số ít lối sống chỉ có ở thành phố và yếu  
tố quyết định lối sống là những đặc điểm giai cấp hơn là chỉ thành phố tự nó. “Người thế giới”  
sống như họ sống bởi vì họ giàu có và trình độ giáo dục cao. Đời sống của người ngoài lề phản  
ánh nghèo đói, thiếu kỹ năng và đào tạo và nạn phân biệt chủng tộc.  
3.3. Lý thuyết tiểu văn hóa của Claude Fischer  
3.3.1. Định nghĩa “đô thị”, “tiểu văn hóa” và tóm tắt lý thuyết  
“Đô thị/urban” được định nghĩa theo sự tập trung dân số - số lượng người được tập  
hợp tại một nơi định cư càng nhiều thì nơi đó càng “đô thị/urban” (Fischer, 1975). Để xác định  
một “thành phố”/ “city” cần xác định theo bốn định nghĩa về nhân khẩu (thành phố là một nơi  
có dân số tương đối lớn), thiết chế, văn hóa và hành vi.  
“Tiểu văn hóa” “là một một tập hợp lớn những người có chung một đặc điểm xác định,  
liên kết với nhau, tuân theo một bộ giá trị riêng biệt, chia sẻ một bộ công cụ văn hóa và có  
chung cách sống”. Các thành phố kích thích tính độc đáo. Tập trung dân cư tạo ra sự đa dạng  
tiểu văn hóa (Fischer, 1995).  
Fischer (1975) chấp nhận một số qui tắc của Lý thuyết quyết định luận/Determinist  
theory của Louis Wirth, đề cập đến tác động của qui mô, mật độ và sự không đồng nhất. Fischer  
không coi trọng những hệ quả tiêu cực mà lý thuyết phi chuẩn mực/anomie của Durkheim đưa  
ra về tội phạm, sức khỏe tâm thần và các vấn đề xã hội ở các đô thị lớn. Fischer đồng ý với  
Wirth: thành phố và con người thành phố có những điểm khác biệt, đặc biệt các tiểu văn hóa  
mà Fischer gọi đó là lý thuyết phân hệ/tiểu văn hóa về tính đô thị (subcultural theory of  
urbanism), và khác với Wirth, Fischer nhấn mạnh môi trường đô thị thúc đẩy sự cố kết, và  
chúng không phải là những thành tố tiêu cực tạo ra tha hóa, phi tổ chức hoặc phi cá nhân, không  
phá hủy mối quan hệ nhóm. Trong thành phố, những người với những mối quan tâm-giá trị,  
hành vi giống nhau hoặc thậm chí bất thường giống nhau- tìm kiếm nhau để gặp gỡ. Khi họ  
cùng nhau tạo nên độ lớn và mật độ, họ đã tạo ra một đại chúng, hấp dẫn những người có  
3 Có sự khác biệt giữa “Tiểu văn hóa” và “Lối sống”? Hiện nay vẫn còn nhiều tranh cãi. Tumin (as cited in Lüdtke,  
1989) nhấn mạnh 3 yếu tố giống nhau giữa Tiểu văn hóa và Lối sống: (1) Chỉ báo về tiêu chuẩn đánh giá; (2) Sự  
tưởng thưởng hay là kết quả của bất bình đẳng (thu nhập, giáo dục); (3) Đòi hỏi về sự đánh giá giá trị và biểu  
tượng để chi ra khoảng cách thông qua bề ngoài hoặc tiêu dùng.  
Theo Berzano và Genova (2015), nghiên cứu lối sống với cách tiếp cận rộng, tìm hiểu các nhân tố tác động đến sự  
hình thành các phân khúc dân cư. Nghiên cứu Tiểu văn hóa với cách tiếp cận hẹp, giải thích và phân tích sự tồn  
tại của các nhóm trong dòng chảy của văn hóa chủ đạo.  
4 Lý thuyết của Wirth được xem là thuyết Quyết định luận. Wirth (1938) định nghĩa đô thị và nhấn mạnh 3 yếu tố  
đặc trưng: Đô thị là nơi định cư tương đối lớn (qui mô dân số), mật độ dày đặc của những con người khác biệt  
nhau về xã hội và văn hóa. Ba yếu tố này tạo nên tính đô thị/urbanism. Tính đô thị/Urbanism là kiểu mẫu đời sống,  
lối sống- tương đồng với tăng trưởng của thành phố. Ở đô thị, những quan hệ sơ cấp được thay thế bởi những quan  
hệ thứ cấp, những mối quan hệ họ hàng bị suy yếu, sự xuống cấp ý nghĩa xã hội về gia đình, sự biến mất quan hệ  
hàng xóm và những cơ sở truyền thống về đoàn kết xã hội bị hủy hoại. Tuy nhiên, đô thị lại là trung tâm của tự do  
và vị tha, ngôi nhà của sự phát triển, của phát minh, của khoa học, của tính duy lý. Cư dân đô thị khoan dung đối  
với sự khác biệt giữa các cá nhân. Vì họ khác nhau và vì thế có ích cho lẫn nhau, hơn là bởi vì họ tương đồng với  
nhau và suy nghĩ giống nhau.  
Lâm Thị Ánh Quyên. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 15(1), 36-47 43  
khuynh hướng giống nhau: e.g., đó là cộng đồng giải trí/entertainment community ở  
Hollywood, những người yêu thích nhạc đồng quê ở Nashville, cộng đồng đồng tính nam ở  
Philadelphia (Mỹ). Những địa điểm như vậy hiếm khi tồn tại ở những khu vực nông thôn (bởi  
vì họ đã di chuyển đến thành phố để được lợi từ khối lượng tới hạn (critical mass)5. Và đấy  
chính là các tiểu văn hóa. Sự hình thành các tiểu văn hóa lại tiếp tục khuyến khích sáng tạo  
thêm các tiểu văn hóa mới thông qua sự va chạm, tương tác giữa những cư dân khác biệt nhau  
và các cộng đồng không đồng nhất. Tức là qui mô và mật độ sẽ khuyến khích sự không đồng  
nhất. (Tương tự, Robert Park (as cited in Fischer, 1975) đã dùng khái niệm: thành phố hiện đại  
là tấm khảm của các thế giới đời sống/a mosaic of social worlds). Thành phố càng lớn, thì càng  
có nhiều tiềm năng sản sinh ra những cộng đồng tiểu văn hóa/subcultural communities. Khi các  
thành phố vừa không đồng nhất, vừa nhiều người hơn những địa điểm khác, các tiểu văn hóa  
này sẽ phát triển hơn và với cường độ cao hơn. Những tiếp xúc giữa các tiểu văn hóa sẽ dẫn  
đến tác động lẫn nhau thông qua khuếch tán văn hóa - e.g., hip hop và nhạc rap đã vượt ra khỏi  
văn hóa của người da đen đô thị và trở thành văn hóa đô thị chủ đạo. Khi những thành tố của  
tiểu văn hóa không điển hình thâm nhập vào xã hội đô thị, thành phố phát triển một cách khác  
biệt trong so sánh với những thành phố khác.  
Fischer (1995) không đồng ý với Lý thuyết thành phần/Compositional theory của Oscar  
Lewis và Herbert Gans - nhấn mạnh các đặc điểm về văn hóa, dân số (tuổi tác, dân tộc, vòng  
đời) và giai cấp của thị dân. Những lối sống đô thị khác nhau được hình thành không ngẫu  
nhiên, mà những nhóm lối sống đó - dân tộc thiểu số, nghệ sĩ … - chọn để sống ở thành phố,  
và kết quả là, lối sống của họ mang đặc trưng thành phố. Liên quan đến lĩnh vực của niềm tin  
và hành vi, cư dân đô thị thường khác biệt đáng kể so với cư dân ở những nơi không phải là  
thành phố. So với cư dân nông thôn, họ thường cư xử theo kiểu tách rời khỏi quy tắc trung tâm  
và truyền thống của xã hội tổng thể. Một số hành vi mà người đô thị dễ được xã hội chấp nhận  
(e.g., đổi mới nghệ thuật). Fischer (1975, 1995) sử dụng thuật ngữ “độc đáo” để chỉ những dạng  
hành vi và niềm tin khác biệt này. Có mối quan hệ giữa cư dân đô thị và tính không theo qui  
ước/tính độc đáo, vốn xuất hiện trong nhiều nền văn hóa, trong các giai đoạn lịch sử khác nhau.  
Lý thuyết tiểu văn hóa của Fischer ít liên quan đến bản sắc chính trị mà khá rộng, đề  
cập đến các nhóm - khác biệt cũng như lệch lạc, tội phạm, nghệ thuật, bohemians, các giáo phái  
tôn giáo mới, hippies, công nhân xây dựng…  
Trong “Hướng đến lý thuyết tiểu văn hóa về tính đô thị”/ “Toward a Subcultural Theory  
of Urbanism” (1975), Fischer đưa ra 7 mệnh đề (position). 1995, Fischer phát biểu lại trong 4  
mệnh đề:  
5 Fischer (1975, 1995) sử dụng khái niệm khối lượng tới hạn/critical mass (nghĩa là độ lớn và mật độ của cư dân  
đô thị cần phải đạt tới con số cần thiết để duy trì) nhằm nói đến điều kiện để hình thành tiểu văn hóa khi có đủ số  
lượng người với những mối quan tâm giống nhau nhưng khác lạ. Dân số của một tiểu văn hóa càng lớn, "sự hoàn  
thiện về thể chế" của nó càng lớn (Breton as cited in Fischer, 1975). Theo cơ chế thị trường, khi đạt đến kích thước  
nhất định sẽ cho phép hình thành một tiểu hệ thống xã hội và khuyến khích các thiết chế với cấu trúc, bao bọc, bảo  
vệ và nuôi dưỡng tiểu văn hóa. Những thiết chế này (e.g., phong cách ăn mặc, báo chí, hiệp hội) thiết lập các nguồn  
thẩm quyền và các điểm tập hợp và phân định ranh giới xã hội. Bên cạnh các con số, chúng còn khuyến khích và  
làm thành có thể những liên kết xã hội trong nhóm. Ví dụ các tiểu cộng đồng tội phạm, tiểu cộng đồng nghệ thuật,  
tiểu văn hóa sinh viên, nhóm những người “độc thân trẻ tuổi” … (Fischer, 1975)  
44 Lâm Thị Ánh Quyên. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 15(1), 36-47  
Mệnh đề 1: Các địa điểm càng lớn càng phát triển nhiều tiểu văn hóa chuyên biệt hơn  
các địa điểm ít dân cư, và như vậy sẽ có nhiều sự không đồng nhất về văn hóa, bởi vì có 2 quá  
trình: (a) Các địa điểm lớn cuốn hút nhiều người nhập cư từ những vùng sâu - xa, họ mang theo  
văn hóa của họ; (b) Các địa điểm này có sự khác biệt thông qua chuyên môn hóa kinh tế, không  
gian, thiết chế và văn hóa.  
Mệnh đề 2: Các địa điểm càng có đông dân cư sẽ phát triển không chỉ các tiểu văn hóa  
khác biệt mà các tiểu văn hóa có cường độ mạnh hơn các địa điểm ít dân cư. Có 2 lý do: (a) Địa  
điểm càng lớn càng có xu hướng có những tiểu văn hóa lớn, kết quả là dễ dàng có các thiết chế,  
ngăn cản những ảnh hưởng từ bên ngoài và phát triển mạng lưới xã hội giữa các thành viên.  
Kích cỡ đặc biệt quan trọng để đạt được khối lượng tới hạn; (b) Bởi vì các thành phố tương đối  
khác biệt, cư dân sẽ chạm trán nhiều hơn với các thành viên của các tiểu văn hóa khác so với ở  
nông thôn. Những cuộc chạm trán như vậy thường dẫn đến căng thẳng và xung đột, kết quả là  
củng cố ranh giới nhóm.  
Mệnh đề 3: Trong cùng thời gian, các tiếp xúc giữa các nhóm dẫn đến tác động lẫn  
nhau. Khi các nhóm lớn hơn tác động đến nhóm nhỏ hơn (e.g., các giá trị gia đình Anglo truyền  
tải đến thanh niên nhập cư người Việt Nam), tính không theo qui ước/độc đáo giảm xuống. Khi  
các tiểu văn hóa nhỏ hơn tác động cái lớn hơn (e.g., các tư tưởng của bohemian lan truyền đến  
tầng lớp trung lưu), tính không theo qui ước/độc đáo sẽ tăng trưởng- cho đến khi cái khác  
thường tự nó trở thành chuẩn mực.  
Mệnh đề 4: Địa điểm càng đô thị, tỷ lệ không theo qui ước càng cao trong mối quan hệ  
với xã hội lớn, bởi vì: (a) Các địa điểm càng lớn càng khuyến khích nhiều tiểu văn hóa khác  
biệt và chuyên biệt; (b) Khối lượng tới hạn và tiếp xúc liên nhóm thường xuyên hơn ở những  
địa điểm lớn, nơi sản sinh ra các tiểu văn hóa cường độ mạnh, đặc biệt đối với những cư dân  
không điển hình (atypical); (c) Tiếp xúc liên nhóm càng rộng ở những địa điểm lớn sẽ khuếch  
tán các thành tố văn hóa của tiểu văn hóa không điển hình đến những tiểu văn hóa khác trong  
khu vực.  
Nói chung, tính đô thị có tương quan với tính không theo qui ước/độc đáo, một phần,  
bởi vì nó kích thích sự phát triển của các tiểu văn hóa.  
3.3.2. Kiểm nghiệm lý thuyết  
Trong bài luận 20 năm sau để đánh giá lại lý thuyết tiểu văn hóa về tính đô thị, Fischer  
chỉ ra sự mơ hồ trong các định nghĩa. Ví dụ, làm thế nào để một nhà nghiên cứu xác định một  
tiểu văn hóa hoặc thậm chí xác định khi nào một tiểu văn hóa xuất hiện? Làm thế nào một tiểu  
văn hóa phải đạt được khối lượng tới hạn?... Fischer đặt ra những vấn đề khó khăn để kiểm  
nghiệm lý thuyết tiểu văn hóa về tính đô thị về đối tượng nghiên cứu, cấp độ nghiên cứu, tiếp  
cận tiểu văn hóa và bối cảnh lịch sử và văn hóa (Fischer, 1995).  
3.3.3. Kết luận của Fischer  
Tính đô thị và sự không đồng nhất tiểu văn hóa: Xét về mặt trung bình, các thành  
phố đa dạng hơn những địa điểm nhỏ. Càng đông dân, tỷ lệ dân tộc thiểu số và chủng tộc càng  
lớn. Các thành phố có xu hướng có sự khác biệt lớn về các nhóm nghề nghiệp, cấu trúc giai cấp  
Lâm Thị Ánh Quyên. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 15(1), 36-47 45  
và một loạt các nhóm có mối quan tâm đặc biệt được tổ chức xung quanh các hoạt động như sở  
thích (Fischer, 1995).  
Tính đô thị và cường độ tiểu văn hóa/Subcultural Intensity: Cần chỉ ra được sự liên  
kết giữa tính đô thị với cấp độ mà các nhóm tập trung trong thành phố, nghĩa là cấp độ mà tính  
đô thị và sự không đồng nhất tương quan với nhau; cần quan tâm đến cường độ của các tiểu  
văn hóa, không phải cấp độ trung bình của sự tham gia của các cá nhân, mặt dù hai yếu tố này  
liên quan đến nhau (Fischer, 1995).  
Tiểu văn hóa dân tộc: Không giống như các tiểu văn hóa đô thị hình thành từ nghề  
nghiệp, lối sống, các tiểu văn hóa dân tộc thường hình thành từ cơ sở nông thôn. Nhân tố chìa  
khóa thúc đẩy đoàn kết dân tộc chính là sự tập trung nhóm, không phải tính đô thị. Môi trường  
đô thị vừa thúc đẩy vừa làm suy yếu văn hóa dân tộc, phụ thuộc vào các nhân tố chủ chốt  
(Fischer, 1995). Đối với các nhóm dân tộc nhỏ, kết hôn và đạo đức quan trọng hơn ngôn ngữ  
hoặc trang phục. Thành phố nuôi dưỡng các tiểu văn hóa mới - cạnh tranh với văn hóa dân tộc.  
Một vài thành tố văn hóa khuếch tán từ đa số đến thiểu số sẽ làm suy yếu văn hóa dân tộc. Tuy  
nhiên, đa số các nghiên cứu không khảo sát sự thiết chế hóa mà khảo sát sự cam kết của các cá  
nhân đối với nhóm dân tộc - cấp độ phân tích sai. Theo Fischer (1995), lý thuyết tiểu văn hóa  
bàn về các địa điểm, không phải về con người, nhưng phần lớn nghiên cứu thực nghiệm - của  
riêng Fischer cũng như của bất kỳ ai khác - là về các cá nhân, cách mọi người khác biệt nhau  
theo quy mô của địa điểm. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu thường đo lường các thuộc tính của  
các địa điểm được tổng hợp từ các thuộc tính của cư dân - e.g., đo lường sự độc đáo/không theo  
qui ước của địa phương bằng cách thu thập câu trả lời trung bình của cư dân đối với các câu hỏi  
khảo sát. Tuy nhiên, lý thuyết tiểu văn hóa, cốt lõi, là một lý thuyết sinh thái, không phải là lý  
thuyết về con người. Nghiên cứu về các nhóm dân tộc đưa ra những kết quả hỗn hợp và gây  
nhầm lẫn phụ thuộc vào cấp độ phân tích (địa điểm so với cá nhân) và chiều kích cụ thể của  
cường độ tiểu văn hóa (xã hội, tổ chức, ý thức hệ). Nói chung, tập trung dân số - tính đô thị -  
dường như duy trì các thiết chế dân tộc, nhưng không nhất thiết duy trì sự gắn bó dân tộc của  
các cá nhân.  
Dân tộc và tôn giáo, nền tảng truyền thống cho sự liên kết là những trường hợp khó đối  
với lý thuyết tiểu văn hóa. Điều này được thừa nhận trong việc xây dựng lý thuyết, bởi vì những  
sự liên kết như vậy bị thách thức ở các thành phố bởi sự xuất hiện của tiểu văn hóa cách tân.  
Tính đô thị và sự độc đáo: Ít có nghiên cứu hệ thống về lệch lạc phi tội phạm  
(noncriminal deviance) so với tội phạm. Dự đoán tốt nhất là các địa điểm đô thị thường là các  
địa điểm của sự độc đáo/không theo quy tắc.  
Theo Fischer (1995), lý thuyết của Louis Wirth “Tính đô thị như một lối sống”/  
“Urbanism as a Way of Life” và lý thuyết của Claude Fischer “Hướng đến một lý thuyết Tiểu  
văn hóa về tính đô thị”/ “Toward a Subcultural Theory of Urbanism” được xếp hạng ngang  
nhau trong nhiều sách giáo khoa. Tính đô thị có thể thúc đẩy sự hình thành của nhiều tiểu văn  
hóa đa dạng và khác biệt trong cộng đồng. Liệu tính đô thị có thúc đẩy các tiểu văn hóa mạnh  
hơn hay không vẫn chưa có bằng chứng chắc chắn. Lý thuyết tiểu văn hóa của ông có lẽ là lý  
thuyết triển vọng về tính đô thị, nhưng vẫn chưa là lý thuyết về tính đô thị (vì thế ông gọi là  
“Hướng đến một lý thuyết Tiểu văn hóa về tính đô thị”).  
46 Lâm Thị Ánh Quyên. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 15(1), 36-47  
4. Kết luận  
Truyền thống nghiên cứu tiểu văn hóa thường tập trung vào giao tiếp mặt đối mặt trong  
cùng không gian địa lý. Tuy vậy, giao tiếp qua truyền thông/mediated communication đã hội  
nhập khá lâu vào nghiên cứu tiểu văn hóa. Cohen (2011) nghiên cứu sự quyết định của việc  
loan tin của báo chí đến sự hình thành bản sắc và các hoạt động của Mods và Rockers trong  
những năm 1960 ở Anh. Ngày nay, bên cạnh lối tiếp cận truyền thống, các nghiên cứu đã tập  
trung vào các tiểu văn hóa thông qua truyền thông và ảo/Mediated and virtual subcultures. Ví  
dụ nghiên cứu về Geek của McArthur (2009) và nghiên cứu của Blevins và Holt (2009) về tiểu  
văn hóa trực tuyến/online lệch chuẩn.  
Fischer (1995) đề nghị, đối với các nghiên cứu trong tương lai, để trả lời câu hỏi liệu lý  
thuyết này có hợp lý hơn các lý thuyết khác không, các nhà nghiên cứu phải cải tổ lý thuyết.  
Cần sử dụng các địa điểm làm đơn vị phân tích; trực tiếp đo lường các quá trình tiểu văn hóa,  
chẳng hạn như sự tập trung của nhóm, quyền tiếp cận, khối lượng tới hạn, sự liên kết giữa các  
nhóm và tự lựa chọn; kiểm tra một loạt các tiểu văn hóa (không chỉ các nhóm dân tộc) và một  
loạt các độc đáo (không chỉ tội phạm); và mở rộng các địa điểm nghiên cứu sang các quốc gia  
và thời đại khác. Mặc dù sự phát triển của công nghệ đã xóa bỏ khoảng cách không gian, nhưng  
Fischer khẳng định “những công nghệ này không phổ biến hay hiệu quả như chúng ta tưởng;  
bởi vì con người vẫn có nhu cầu gặp gỡ mặt đối mặt”.  
Hiểu các tiểu văn hóa ở đô thị sẽ kết nối với mối quan tâm ngày càng tăng về đời sống  
văn hóa và sáng tạo của các thành phố. Chúng ta tiếp tục nghiên cứu các tiểu văn hóa để khám  
phá tại sao các tiểu văn hóa hình thành, các hoạt động của tiểu văn hóa có thể nói gì về xã hội.  
Tài liệu tham khảo  
Berzano, L., & Genova, C. (2015). Lifestyle and subcultures. New York, NY: Routledge.  
Blevins, K. R., & Holt, T. J. (2009). Examining the virtual subculture of Johns. Journal of  
Cohen, S. (2011). Folk devils and moral panics: The creation of the Mods and Rockers.  
London, UK: Routledge.  
Fischer, C. (1975). Toward a subcultural theory of urbanism. American Journal of Sociology,  
80(6), 1319-1341. doi:10.1086/225993  
Fischer, C. (1995). The subcultural theory of urbanism: A twentieth-year assessment. American  
Journal of Sociology, 101(3), 543-577. doi:10.1086/230753  
York, NY: Free Press.  
Gelder, K., & Thornton, S. (1997). The subculture reader. London, UK: Routledge.  
Haenfler, R. (2014). Subcultures: The basics. London, UK: Routledge.  
Lâm Thị Ánh Quyên. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 15(1), 36-47 47  
Hartfiel, G., & Hillmann, K.-H. (1982). Subkultur [Subculture]. In G. Endruweit, G.  
Trommsdorff, & N. Burzan, Wörterbuch der soziologie [Dictionary of sociology].  
Stuttgart, Germany: völlig überarbeitete Auflage.  
Hebdige, D. (1979). Subculture: The meaning of style. New York, NY: Routledge.  
Lin, J., & Mele, C. (2005). The urban sociology reader. New York, NY: Routledge.  
Lüdtke, H. (1989). Expressive ungleichheit [Expressive inequality]. Opladen, Germany:  
Leske+Budrich.  
McArthur, J. A. (2009). Digital subculture: A geek meaning of style. Journal of Communication  
Park, R. E., Burgess, E. W., & McKenzie, R. D. (1925). The city. Chicago, US and London,  
UK: The University of Chicago Press.  
Schwendter, R. (1993). Theorie der subkultur [Theory of subculture]. Hamburg, Germany:  
Europäische Verlags Anstalt, Taschenbuch Nr. 210.  
Vascovics, L. A. (1989). Subkulturen-ein überholtes analytisches Konzept? [Sub-cultures - an  
outdated analytical concept?]. In M. Haller, N. Hoffmann, Hans-Joachim, W. Zapf, &  
Deutsche Gesellschaft für Soziologie (DGS) (Eds.), Kultur und gesellschaft:  
Verhandlungen des 24. Deutschen soziologentags, des 11. Österreichischen  
soziologentags und des 8. Kongresses der schweizerischen gesellschaft für soziologie in  
Zürich 1988 [Culture and society: Negotiations of the 24th German sociological  
conference, the 11th AustHrian sociological conference and the 8th congress of the Swiss  
society for sociology in Zurich in 1988]. Frankfurt am Main, Germany: Campus Verl.  
Wirth, L. (1928). The ghetho. Chicago, IL: The University of Chicago Press.  
Wirth, L. (1938). Urbanism as a way of life. The American Journal of Sociology, 44(1), 1-24.  
Wuggenig, U. (2003). Subkultur [Subculture]. In H.-O. Hügel (Ed.), Handbuch populäre  
kultur: Begriffe, theorien und diskussionen [Popular culture handbook: terms, theories,  
and discussions]. Verlag, Germany: J.B. Metzle.  
pdf 12 trang Thùy Anh 17540 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tiểu văn hóa đô thị: Khái niệm và lý thuyết", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftieu_van_hoa_do_thi_khai_niem_va_ly_thuyet.pdf