Thực trạng an ninh môi trường tác động đến thực hiện nghị quyết 07-NQ/TU ngày 27/12/2016 của thành ủy Cần Thơ về xây dựng và phát triển huyện Phong Điền thành đô thị sinh thái
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
THỰC TRẠNG AN NINH MÔI TRƯỜNG TÁC ĐỘNG ĐẾN THỰC HIỆN
NGHỊ QUYẾT 07-NQ/TU NGÀY 27/12/2016 CỦA THÀNH ỦY CẦN THƠ VỀ
XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN HUYỆN PHONG ĐIỀN THÀNH ĐÔ THỊ SINH THÁI
Cao Thị Bé Oanh1* và Hoàng Chí Thanh2
1Phòng Đào tạo, Trường Đại học Kỹ thuật - Công nghệ Cần Thơ
2Ban Tổ chức, Huyện ủy Phong Điền, Thành phố Cần Thơ
*Tác giả liên hệ: [email protected]
Lịch sử bài báo
Ngày nhận: 17/12/2020; Ngày nhận chỉnh sửa: 08/4/2021; Ngày duyệt đăng: 14/5/2021
Tóm tắt
Thời gian qua huyện Phong Điền đã có nhiều giải pháp khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên phục
vụ phát triển kinh tế-xã hội. Song, thực tế vấn đề môi trường, an ninh môi trường chưa được các cấp chính
quyền và tầng lớp nhân dân nhận thức một cách đầy đủ, từ đó dẫn đến nguy cơ làm xáo trộn hệ sinh thái
trên địa bàn huyện. Bằng phương pháp lược khảo tài liệu và tiếp cận thực tế trong quá trình công tác và
thực địa, tác giả phân tích những vấn đề về môi trường, an ninh môi trường, đô thị sinh thái và phân tích
những kết quả đạt được so với các tiêu chí về đô thị sinh thái. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các nhóm giải
pháp về tuyên truyền, về cơ chế chính sách và về liên kết trong việc xây dựng và phát triển đô thị sinh thái
huyện Phong Điền, để làm cơ sở trong qua trình triển khai thực hiện Nghị quyết số: 07-NQ/TU của Thành
ủy Cần Thơ, ngày 27/12/2016 về “xây dựng và phát triển huyện Phong Điền thành đô thị sinh thái” đạt
được những kết quả như mong muốn, góp phần cho phong trào phát triển bền vững kinh tế ở Việt Nam.
Từ khóa: An ninh môi trường, Cần Thơ, đô thị sinh thái, huyện Phong Điền, Nghị quyết 07-NQ/TU.
----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
THE CURRENT ENVIRONMENTAL SECURITIES AFFECTING THE
EXERCISE OF BUILDING PHONG DIEN TO BE AN ECO-URBAN DISTRICT
UPON THE RESOLUTION/CENTRAL No.07 DATED 27 DECEMBER 2016 BY
CANTHO CITY PARTY COMMITTEE
Cao Thi Be Oanh1* and Hoang Chi Thanh2
1Department of Academic Affairs, CanTho University of Technology
2Organization Commission, Phong Dien District Party Committee, CanTho City
*Corresponding author: c[email protected]
Article history
Received: 17/12/2020; Received in revised form: 08/4/2021; Accepted: 14/5/2021
Abstract
Phong Dien district has recently deployed many strategies using natural resources to promote socio-
economic development. However, the governors and people here hold an insufficient awareness of the
importance of environment and environmental security, thereby possibly impairing the local ecosystem. This
field-observation research addresses the accomplishments of the district on the environment, environmental
securities, and eco-city issues upon the eco-city criteria. Thereby, it proposes some solutions such as
propaganda, policies, and cooperations in the process of developing this district, creating a reference
framework for exercising the Resolution/Central No.07 dated 27 December 2016 by Cantho City Party
Committee on “building and developing Phong Dien to be an eco-urban district” as expected, contributing
to Vietnam’s sustainable economic development.
Keywords: Can Tho, environmental securities, eco-city, Phong Dien District, the resolution/central No.07.
Trích dẫn: Cao Thị Bé Oanh và Hoàng Chí Thanh. (2021). Thực trạng an ninh môi trường tác động đến thực hiện Nghị
quyết 07-NQ/TU ngày 27/12/2016 của Thành ủy Cần Thơ về xây dựng và phát triển huyện Phong Điền thành đô thị
sinh thái. Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, 10(4), 60-69.
60
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tꢀp 10, Số 4, 2021, 60-69
1. Đặt vấn đề
tạo, quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con
người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự
tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên"
(Điều 1. Luật bảo vệ môi trường của Việt Nam).
Hiện nay, vấn đề an ninh môi trường
(ANMT) là vấn đề thật sự bức bách đối với sinh
loại toàn cầu nói chung và từng quốc gia dân tộc
nói riêng. Nhất là trong giai đoạn hiện nay, trên
thế giới đang bước vào cuộc cách mạng công
nghiệp 4.0 và hội nhập quốc tế ngày càng sâu
rộng, tác động đến hầu hết các quốc gia trên thế
giới. Làm cho quá trình phát triển kinh tế-xã hội
với tốc độ nhanh hơn, cùng với đó vấn đềANMT
ngày càng phức tạp, công tác quản lý và kiểm
soát chưa đáp ứng kịp thời. Ví dụ: vụ khủng
hoảng môi trường của nhà máy bột ngọt Vedan và
Formosa. Nếu không cân bằng được yếu tố môi
trường và sự phát triển, hay nói cách khác, nếu
không giữ đượcANMT, thì sự tồn tại và phát triển
không chất lượng và kém bền vững, sẽ dẫn đến
phát triển nóng, ảnh hưởng không nhỏ đến chất
lượng cuộc sống loài người. Vì vậy, mối quan hệ
giữa vấn đềANMT và quá trình phát triển là mối
quan hệ không thể tách rời, đối với tất cả các quốc
gia, các vùng miền. Tại huyện Phong Điền, thành
phố Cần Thơ (TPCT) được Thành ủy Cần Thơ
ban hành Nghị quyết 07-NQ/TU ngày 27 tháng
2.2. An ninh môi trường
Theo Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc (năm
1992), ANMT là “Sự khan hiếm các tài nguyên
thiên nhiên, suy thoái và ô nhiễm môi trường
và những hiểm hoạ có thể gây suy yếu nền kinh
tế, gia tăng đói nghèo, gia tăng bất ổn chính trị,
thậm chí trở thành ngòi nổ cho các cuộc xung đột
và chiến tranh”. Theo Lê Thị Thanh Hà - Viện
Triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh, ANMT là trạng thái hệ thống các yếu tố
cấu thành môi trường cân bằng để bảo đảm điều
kiện sống và phát triển của con người cũng như
các loài sinh vật trong hệ thống đó. Khái niệm
ANMT dù được hình thành từ nhiều cách khác
nhau, nhưng đang dần thể hiện một khuôn mẫu
thay thế cho việc sắp xếp và xử lý các mối đe
dọa ngày càng tăng cao.
2.3. Đô thị sinh thái
Từ thập niên 80 của thế kỷ XX, một số nước
12 năm 2016 về xây dựng và phát triển huyện phát triển trên thế giới đã quan tâm đến vấn đề
Phong Điền thành đô thị sinh thái (ĐTST) đồng
thời đảm bảo ANMT địa phương. Để đánh giá
về thực trạng ANMT, tác động như thế nào đến
việc xây dựng và phát triển huyện Phong Điền
thành ĐTST, tác giả tìm hiểu và làm rõ về môi
trường và ANMT là gì?
xây dựng ĐTST nhằm tạo ra không gian sinh
sống và làm việc hài hòa với điều kiện tự nhiên
và xã hội của từng quốc gia hoặc vùng lãnh thổ.
Cho đến nay, chưa có một khái niệm về ĐTST
nào được xem là khái niệm hoàn chỉnh. Theo
cách hiểu hiện nay, ĐTST là đô thị mà trong quá
trình tồn tại và phát triển của nó không làm cạn
kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, không làm
suy thoái môi trường, không gây tác động xấu
đến sức khỏe cộng đồng và tạo điều kiện thuận
tiện cho mọi người sống, sinh hoạt và làm việc
trong đô thị.
2. Một số khái niệm
2.1. Môi trường
Có nhiều khái niệm về môi trường, như khái
niệm của UNESCO năm 1981; hay trong Môi
trường và tài nguyên Việt Nam (Nguyễn Ngọc
Sinh, 1984) và cũng có nhiều tác giả đưa ra định
nghĩa về môi trường. Nhưng, để thống nhất về
mặt nhận thức, chúng ta sử dụng định nghĩa trong
Luật bảo vệ môi trường đã được Quốc hội Nước
Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kì
họp thứ tư thông qua ngày 27/12/1993 định nghĩa
khái niệm môi trường như sau: "Môi trường bao
gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân
Từ cách tiếp cận trên, có thể quan niệm:
ĐTST Phong Điền là đô thị xanh, có sắc thái đặc
trưng sông nước, miệt vườn, phát triển hài hòa
giữa đô thị và nông thôn; phát triển kinh tế - xã
hội một cách năng động, có giá trị, hiệu quả kinh
tế cao; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa; bảo
đảm cho nhân dân có chất lượng cuộc sống tốt
61
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
đẹp và bền vững; đồng thời góp phần xây dựng
gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe người
và phát triển TPCT thành thành phố sinh thái, dân; Suy giảm tài nguyên rừng và đa dạng sinh
học, hiện nay, diện tích rừng bị cháy và bị chặt
phá gây sức ép không nhỏ đối với phát triển lâm
nghiệp cũng như đối với môi trường tự nhiên
của nước ta, khi hệ sinh thái rừng đóng vai trò
mang đậm bản sắc văn hoá sông nước vùng Đồng
bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), theo như tinh
thần Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 05/8/2020
của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển TPCT
đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
trong
quan trọng trong hấp thụ và lưu giữ CO2
tự nhiên. Đa dạng sinh học của Việt Nam liên
tục bị suy giảm và suy thoái. Nhiều loài động,
thực vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng, diện
tích rừng nguyên sinh còn rất thấp và khó có
khả năng phục hồi, một số loài sinh vật biển suy
giảm nghiêm trọng... Vấn đề môi trường trong
khai thác khoáng sản, hiện nay, thực trạng khai
thác tài nguyên và khoáng sản của Việt Nam cho
thấy đang tồn tại nhiều bất cập. Công nghệ khai
thác, chế biến khoáng sản còn lạc hậu, không phù
hợp với loại khoáng sản khai thác, nên mức độ
thu hồi thấp, tác động tiêu cực tới môi trường.
Trong quá trình khai thác, bụi, nước thải, bùn đỏ
tác động rất lớn đối với môi trường xung quanh,
gây nên khan hiếm nguồn nước do nhu cầu sử
dụng nước cho dự án là rất lớn, phá vỡ cấu trúc
địa chất... Ngoài ra ô nhiễm môi trường biển; ô
nhiễm xuyên biên giới… đã đe dọa đến ANMT
ở nước ta.
3. Thực trạng về ANMT
3.1. Một vài nét về ANMT hiện nay ở
nước ta
Ngoài những mặt tích cực về sự đa dạng,
phong phú và dồi dào về tài nguyên thiên nhiên,
cũng như những tác động hợp lý của con người
đến môi trường tự nhiên ở nước ta. Bên cạnh đó,
những yếu tố không đảm bảo ANMT tồn tại và
phát sinh, như: Tác động của biến đổi khí hậu
(BĐKH) đã gây ra các biến động không có lợi
về môi trường, gây khủng hoảng sinh thái, từ
đó đe dọa đến tất cả các lĩnh vực và sự sống của
loài người. Có thể thấy, một trong những vấn
đề quan trọng hàng đầu của ANMT hiện nay là
BĐKH. Việt Nam được đánh giá là một trong
những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề của BĐKH;
An ninh nguồn nước, theo đánh giá, mực nước
sông Mê Kông ngày càng thấp, năm 2015 thấp
mức kỷ lục trong vòng 90 năm qua, là một trong
những nguyên nhân chính gây ra tình trạng hạn
hán và xâm nhập mặn đặc biệt nghiêm trọng ở
ĐBSCL. Bên cạnh đó, nguồn nước sông Hồng
từ biên giới phía Trung Quốc đổ về hạ lưu ngày
càng bị ô nhiễm. Lượng chất thải rắn sinh hoạt
phát sinh có xu hướng ngày càng tăng nhanh.
Tuy nhiên, số lượng được thu gom xử lý còn rất
hạn chế, theo Tạ Đình Thi và cộng sự, tỷ lệ thu
gom chất thải nội đô khoảng 84% - 85%; nông
thôn 40% - 55%; rác thải công nghiệp được thu
gom, xử lý mới chỉ đạt con số 40%; chất thải
nguy hại do y tế đạt 80%. Những con số này cho
thấy, nguy cơ tiềm ẩn đối với môi trường ở nước
ta là tương đối lớn.
3.2. Khái quátANMT hiện nay ở ĐBSCL
và TPCT
ĐBSCL cũng như cả nước có nguồn tài
nguyên, thiên nhiên phong phú, đa dạng và thế
mạnh của ĐBSCL là một trong những trung tâm
nông nghiệp lớn nhất Việt Nam và có tầm ảnh
hưởng đến phạm vi toàn cầu; có 2 nhánh sông
chính là sông Tiền và sông Hậu và hệ thống sông
ngòi, kênh rạch chằng chịt, giao thoa cùng núi
rừng, biển đảo đã hình thành một vùng sinh thái
đa dạng. Tuy nhiên, thời gian gần đây có một
số xu hướng thay đổi, làm ảnh hưởng đến môi
trường và ANMT, như: Suy giảm diện tích sinh
cảnh tự nhiên và tính toàn vẹn của hệ sinh thái; ô
nhiễm môi trường, nguồn nước; giảm diện tích và
chất lượng than bùn; gia tăng các hiện tượng thời
tiết cực đoan; tình trạng ngập lụt, sạt lở ngày càng
nghiêm trọng và phức tạp. Đặc biệt, tình trạng
Ngoài ra, lượng nước thải công nghiệp, chất
thải từ các hoạt động nông nghiệp, ô nhiễm không
khí tại các thành phố lớn đang là vấn đề bức xúc,
62
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tꢀp 10, Số 4, 2021, 60-69
3.3. Thực trạng về ANMT tác động đến
xây dựng và phát triển ĐTST huyện Phong
Điền, TPCT
xâm nhập mặn năm 2019-2020 đã ảnh hưởng đến
10/13 tỉnh ĐBSCL, ranh giới độ mặn 4gam/lít đã
làm 42,5% diện tích tự nhiên của toàn vùng bị
ảnh hưởng, tương đương 1.688.600 ha, cao hơn
năm 2016 là 50.376 ha. Những thay đổi này sẽ
tác động xấu đến ANMT của ĐBSCL.
3.2.1. Những lợi thế trong việc triển khai
thực hiện ANMT trong xây dựng và phát triển
ĐTST huyện Phong Điền
Cần Thơ là một vùng đất nằm ở vị trí trung
tâm của ĐBSCL, được thiên nhiên ưu đãi cho
điều kiện tự nhiên lý tưởng với những vùng sinh
thái rộng lớn, ruộng đất phì nhiêu, quanh năm
nước ngọt, là khu vực bồi tụ phù sa nhiều năm
của sông Mê Kông (chiếm gần 1/2 tổng lượng
phù sa sông Mê Kông) và là vùng trọng điểm phía
Nam giữa một mạng lưới sông ngòi, kênh rạch
chằng chịt. Cần Thơ có hệ sinh thái, hệ thống cây
trồng, vật nuôi đa dạng, phong phú. Là nơi thích
hợp cho nhiều loài động vật cư trú, đặc biệt nhất
là có vườn cò Bằng Lăng tại ấp Thới Bình, xã
Thới Thuận, quận Nốt Nốt, TPCT, với diện tích
12.500 m2, có tới 200 ngàn con cò, từ 20 chủng
loại khác nhau. Tuy nhiên, Cần Thơ cũng như các
thành phố lớn khác trong cả nước chịu những tác
động ảnh hưởng xấu đến môi trường, như nồng
độ bụi trong không khí đo được tại các nút giao
thông cao hơn tiêu chuẩn cho phép; ảnh hưởng
bởi BĐKH, tình trạng ngập lụt, sạt lở ngày càng
nghiêm trọng. Mặc dù Cần Thơ không có tiếp
giáp biển, nhưng thời gian gần đây đã xuất hiện
xâm nhập mặn, vào năm 2016 và 2020 có hai đợt
xâm nhập mặn ở mức báo động 3; Cần Thơ hiện
nay có 04 khu công nghiệp: Thốt Nốt, Trà Nóc
1 và 2, Hưng Phú 2B và khu công nghiệp Hưng
Phú 1- cụm A. Tuy nhiên, hiện nay chỉ có 2 khu
công nghiệp Thốt Nốt và Trà Nóc có hệ thống xử
lý nước thải tập trung đi vào hoạt động. Điều đó
làm cho lượng nước thải ra môi tường rất lớn, có
mức độ ô nhiễm cao; nghành nông nghiệp với các
hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy
sản với nguy cơ gây ô nhiễm môi trường từ việc
sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật
Huyện Phong Điền được thành lập theo Nghị
định số 05/2004/NĐ-CP ngày 02 tháng 01 năm
2004 của Chính phủ, là huyện vùng ven, nằm ở
phía Tây Nam của TPCT cách trung tâm thành
phố khoảng 15 km. Với 7 đơn vị hành chính cấp
xã (6 xã, 1 thị trấn). Có tổng dân số là 98.454
người, mật độ dân số bình quân 786 người/km2.
Có diện tích đất tự nhiên 12.526 ha, đất nông
nghiệp 10.269 ha, chiếm 81,98% diện tích đất tự
nhiên (trong đó đất vườn cây ăn trái hơn 8.300 ha,
còn lại là đất lúa). Phong Điền nghĩa là vùng đất
tốt: tốt về thổ nhưỡng, phong thủy, vạn vật,... với
hệ thống sông, rạch chằng chịt, cung cấp nguồn
nước ngọt quanh năm cho vườn cây ăn trái rộng
lớn. Với lợi thế đó, Phong Điền được mệnh danh
là “thủ phủ trái cây” và nhà Nam Bộ học Sơn
Nam đã từng ví Phong Điền là nền “văn minh
kinh xáng” hay “văn minh miệt vườn”. Người
dân nơi đây có đặc điểm hội đủ sự bản lĩnh, dũng
cảm và mưu trí trong chiến tranh, nhưng lại hiền
hòa, hiếu khách, cần cù, sáng tạo trong lao động,
nhất là có nhiều kinh nghiệm trong nghề làm
vườn. Cùng với những yếu tố đó, Phong Điền
cũng được xem là vùng đất “địa linh nhân kiệt”.
Đây là những yếu tố tự nhiên có lợi thế để thực
hiện đảm bảo ANMT.
Nhận thức đúng và sự quan tâm của các cấp
lãnh đạo, cũng là yếu tố lợi thế trong thực hiện
đảm bảoANMT ngay khi Nghị quyết 07 được ban
hành. Bởi từ khi thành lập, Phong Điền đã quan
tâm định hướng phát triển trên các lĩnh vực đời
sống- văn hóa, kinh tế- xã hội, đều hướng đến và
gắn với các yếu tố về môi trường sinh thái, bảo tồn,
không đúng qui trình, yêu cầu kỹ thuật. Ngoài ra, bảo vệ và khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên đất,
trong quá trình xây dựng hệ thống kênh, rạch bị
lấp dần; bệnh viện, trường học phát triển mạnh,
dân số thành thị tăng nhanh gây sức ép đáng kể
đến đảm bảo ANMT.
nước một cách hợp lý. Trên cơ sở về điều kiện tự
nhiên, về định hướng phát triển của huyện Phong
Điền, Thành ủy Cần Thơ đã quyết định ban hành
Nghị quyết số: 07-NQ/TU của Thành ủy Cần Thơ,
63
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
ngày 27/12/2016 về “xây dựng và phát triển huyện
Phong Điền thành ĐTST”. Phong Điền đã cụ thể
hóa bằng chương trình hành động, kế hoạch và
các hình thức chỉ đạo triển khai thực hiện nghị
quyết. Đặc biệt là trong công tác qui hoạch xây
dựng, quản lý quy hoạch, quản lý trật tự kỷ cương,
văn minh đô thị, bảo vệ môi trường sinh thái, xây
dựng quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất phù
hợp... nhằm đảm bảo ANMT tạo điều kiện thực
hiện nghị quyết một cách hiệu quả.
- Ngày 13/7/2020 UBND TPCT đã ban
hành quyết định số 1394/QĐ-UBND, về việc
ban hành các tiêu chí phấn đấu xây dựng và
phát triển huyện Phong Điền thành ĐTST gồm 3
nhóm tiêu chí, với 15 tiêu chí thành phần. Trong
đó, môi trường tự nhiên (3 tiêu chí); kinh tế - xã
hội (9 tiêu chí); và kiến trúc cảnh quan đô thị (3
tiêu chí). Đây là điều kiện thuận lợi cho huyện
Phong Điền làm cơ sở để có giải pháp thực hiện
đảm bảo ANMT, tạo điều kiện xây dựng và phát
triển ĐTST. Đặc biệt là, trên cơ sở Nghị quyết
số 07 và Quyết định 1394, huyện đã xây dựng kế
hoạch và tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn rộng
rãi trong cộng đồng dân cư, đạt cơ bản tiêu chí
số 9, thuộc nhóm 2 của quyết định.
Về môi trường sinh thái: huyện tổ chức các
hoạt động tuyên truyền, vận động từ trong cán bộ
công chức, viên chức (CBCCVC), các tổ chức,
doanh nghiệp, ra các tầng lớp nhân dân thực hiện
bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo ANMT,
bằng những hoạt động cụ thể như: thu gom rác
thải đến tận ấp; hằng năm tổ chức ra quân chiến
dịch giao thông - thủy lợi, môi trường mùa khô;
trồng và cắt tỉa cây xanh, hoa kiểng trên các
tuyến đường bộ, công viên, quảng trường. Đối
với tuyến sông, rạch và diện tích ao hồ tự nhiên,
một mặt huyện bảo tồn hệ sinh thái, mặt khác
phát động phong trào trồng cây Bần chống sạt
lở, đồng thời nhằm tăng diện tích hệ sinh thái,
tạo cảnh quan không gian mặt nước và đa dạng
sinh học (Cơ bản đáp ứng được tiêu chi số 1 và 2,
thuộc nhóm 1); bên cạnh đó, việc thu gom nước
thải sinh hoạt đô thị đáp ứng tiêu chí số 3, thuộc
nhóm 1 (tuy nhiên hiện nay chưa có hệ thống xử
lý nước thải trước khi thải ra môi trường). Theo
kết quả quan trắc tại huyện Phong Điền, giai đoạn
2015-2020, cho thấy 17/17 chỉ tiêu quan trắc
chất lượng nước mặt đều nằm trong ngưỡng cho
phép và chỉ có 01/13 thông số nước ngầm vượt
quy chuẩn cho phép. Ngoài ra, kết quả quan trắc
cũng cho thấy bụi lơ lửng, tiếng ồn và rác thải
ổn định, tăng, giảm không đáng kể qua các năm.
- Ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật trong
phát triển kinh tế nông nghiệp, hướng đến nền
nông nghiệp sinh thái chất lượng cao, gắn với
phát triển du lịch sinh thái. Hiện nay, huyện đã
chuyển đổi được 8.300 ha diện tích vườn cây ăn
trái (so với tiêu chí số 01, thuộc nhóm 2 là 8.500
ha, đạt 97,6%), tổ chức được 6 mô hình sản xuất
các loại trái cây đặc sản như: sầu riêng, dâu Hạ
Châu, nhãn Idor, chanh không hạt và vú sữa, có
quy mô lớn từ 30 ha trở lên. Cùng với đó, huyện
cũng định hướng, tổ chức sản xuất theo mô hình
mới, hiện đại, như: phát triển nông nghiệp đô thị,
tận dụng diện tích đất trống, sân vườn, thảm cỏ,
bờ đường, ban-công, sân thượng… trong trung
tâm được sử dụng để trồng rau, các loại sinh vật
cảnh; sản xuất nông nghiệp ven đô thị, theo hình
thức thâm canh và thương mại hóa toàn bộ hay
một phần sản phẩm nông nghiệp như rau, hoa
quả, thịt, trứng,…; và sản xuất lâm nghiệp đô
thị và ven đô thị cũng được quan tâm, bên cạnh
các chức năng cung cấp lương thực và phi lương
thực, còn có các chức năng môi trường (Nguyễn
Văn Bảnh, 2012). Tuy nhiên, mô hình này chỉ
mới bước đầu triển khai, nhằm tăng cường đảm
bảo ANMT cho ĐTST Phong Điền.
Những yếu tố lợi thế trong phát triển kinh
tế- xã hội thực hiện đảm bảo ANMT theo nghị
quyết 07: từ thực tế về điều kiện tự nhiên, kinh
tế - xã hội, huyện đã xác định cơ cấu kinh tế phát
triển theo hướng “Thương mại, dịch vụ, du lịch
- nông nghiệp chất lượng cao - công nghiệp, tiểu
thủ công nghiệp”. Nhằm, ưu tiên phát huy lợi thế,
đảm bảo cân bằng sinh thái, hướng đến mục tiêu
nâng cao chất lượng sống cho người dân.
- Về phát triển các loại hình dịch vụ, thương
mại, làng nghề: thế mạnh của huyện hiện nay
là phát triển đa dạng các loại hình du lịch, toàn
huyện hiện có 63 điểm tham quan du lịch. Trong
đó, có 28 điểm du lịch hoạt động thường xuyên,
64
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tꢀp 10, Số 4, 2021, 60-69
01 điểm du lịch đang xây dựng, 17 điểm du lịch nhất là cảnh quan không gian kiến trúc đô thị,
liên kết theo thời vụ, 17 điểm di tích lịch sử - văn đảm bảo thông thoáng (đủ ánh sáng, gió và nắng),
hóa và du lịch tâm linh (có 06 di tích được xếp sử dụng các loại vật liệu thân thiện môi trường
hạng gồm: 02 di tích cấp quốc gia và 04 di tích và cây xanh. Theo đó, các công trình công cộng,
cấp thành phố). Trong số 63 điểm du lịch, có 03 trụ sở làm việc và hệ thống cây xanh tự nhiên,
vườn cây ăn trái đáp ứng tiêu chí tỷ lệ diện tích
cây xanh 20 - 30% và 7 m2 cây xanh công cộng/
người của tiêu chí 1, thuộc nhóm tiêu chí số 3;
về giao thông, huyện đang định hướng phát triển
các loại phương tiện công cộng, xe buýt, xe điện,
xe đạp và các loại xuồng, ghe. Vấn đề này hiện
nay, chủ yếu được các điểm du lịch triển khai
thực hiện. Riêng tuyến xe buýt công cộng Cần
Thơ - Phong Điền đã đưa vào hoạt động. Như
vậy tiêu chí số 6, của nhóm tiêu chí 2 đang được
tổ chức thực hiện. Ngoài ra, hệ thống giao thông
nói chung và giao thông nông thôn nói riêng được
quan tâm đầu tư xây dựng, gắn với tạo cảnh quan
môi trường được đảm bảo trên hầu hết các tuyến
(5 năm qua sửa chữa 114,5 km, nâng cấp 129 km
đường giao thông nông thôn từ 2 m lên 3,5- 4 m,
xây dựng mới 119,4 km đường giao thông nông
thôn từ 2- 4 m). Cơ bản đáp ứng được tiêu chí
số 3, thuộc nhóm 3.
điểm du lịch được Hiệp hội Du lịch ĐBSCLcông
nhận là điểm du lịch tiêu biểu và 05 điểm du lịch
được công nhận là điểm du lịch tiêu biểu cấp
thành phố, hằng năm thu hút khoảng 1.800.000
khách (chiếm 90 % tiêu chí số 2, thuộc nhóm
2). Là yếu tố tác động tích cực đảm bảo ANMT.
Đồng thời, Chợ nổi Phong Điền, nét đặc trưng
độc đáo vùng sinh thái sông nước, đang có kế
hoạch xây dựng đề án khôi phục lại, cùng với
đó phát triển các loại hình thương mại, dịch vụ
hiện đại như: siêu thị, trung tâm thương mại, cửa
hàng tiện ích gắn với việc nâng cấp các điểm chợ
truyền thống theo hướng thân thiện môi trường
sinh thái (Toàn huyện có 10 siêu thị và cửa hàng
tiện ích các loại và có 9 dịch vụ tài chính). Ngoài
ra còn có các dịch vụ khách sạn, Homestay và
ẩm thực mang đậm nét truyền thống quê hương
Phong Điền; vận động người dân tham gia khôi
phục nghề thủ công, mỹ nghệ, ẩm thực dân gian
của địa phương như: sản phẩm làng nghề trầm
nón, đương thảm lục bình, kết cườm. Các món ăn
truyền thống như: các loại bánh dân gian, bánh
hỏi thịt nướng Út Z, hủ tíu Gia truyền,…đã tham
gia các lễ hội Bánh dân gian của TPCT, đạt được
nhiều giải, kể cả huy chương vàng. Về lĩnh vực
này, huyện đã thực hiện đáp ứng được tiêu chí
số 2 và 4, thuộc nhóm 2.
- Về hệ thống điện chiếu sáng và nước sạch:
Các tuyến điện khu vực dân cư, công cộng đảm
bảo độ sáng, cảnh quan và tiết kiệm, thực hiện
đúng tiêu chí số 5, thuộc nhóm 2. Cùng với đó
huyện đã triển khai một số tuyến điện chiếu sáng
công cộng, sử dụng pin năng lượng mặt trời, như
tuyến trục chính Phan Văn Trị tại trung tâm thị
trấn và 1 km tuyến chiếu sáng theo công nghệ
mới tại xã Nhơn Nghĩa và trong tương lai sẽ từng
bước thay thế toàn bộ hệ thống chiếu sáng công
cộng trên địa bàn huyện. Đồng thời, khuyến khích
các hộ dân sử dụng nguồn điện này; về nước sạch
có 90,5% hộ sử dụng, riêng việc thu gom nước
mưa chủ yếu được thực hiện trong dân. Cơ bản
đáp ứng tiêu chí số 7, thuộc nhóm 2.
- Quy hoạch kiến trúc, xây dựng và giao
thông: Về quy hoạch, kiến trúc, xây dựng, huyện
cũng đã xác định trung tâm ĐTST với quy mô
1.500 ha, gồm toàn bộ thị trấn Phong Điền, một
phần xã Mỹ Khánh, xã Tân Thới dọc theo nhánh
sông Cần Thơ. Trong đó thị trấn Phong Điền là
trung tâm tạo sức lan tỏa ra các khu sinh thái khác
và hiện nay đang hợp đồng đơn vị tư vấn lập quy
hoạch trình phê duyệt. Đối với việc triển khai
thực hiện xây dựng các công trình công cộng,
trụ sở làm việc và vận động nhân dân xây dựng
công trình nhà ở đảm bảo các yếu tố sinh thái,
- Ngoài ra các lĩnh vực giáo dục, y tế văn
hóa - xã hội: Huyện quan tâm chỉ đạo thực hiện
đảm bảo hướng đến vấn đề ANMT và các tiêu
chí phấn đấu xây dựng và phát triển ĐTST. Hiện
nay, hệ thống cơ sở vật chất trường lớp đạt chuẩn
65
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
quốc gia là 33/39 trường, chiếm tỷ lệ 82,5%; 5 liệu chưa phù hợp, tiêu hao năng lượng lớn; chưa
năm qua huyện đã sửa chữa, xây dựng mới 368 tính đến mật độ dân cư, mật độ giao thông như
căn nhà tình nghĩa cho gia đình chính sách và 490 thế nào cho phù hợp; việc khai thác và sử dụng
căn nhà đại đoàn kết cho hộ nghèo; năm 2020 nguồn nước ngọt hiệu quả còn thấp, chưa có hệ
huyện có 86,49% người dân tham gia bảo hiểm thống thu gom công cộng nguồn nước mưa và hệ
y tế, điều đó cho thấy tỷ lệ người dân khám chữa thống xử lý nước thải đô thị; tình trạng sử dụng
bệnh tại cơ sở y tế khá cao. Những nội dung này
cơ bản đáp ứng được tiêu chí số 8, thuộc nhóm 2.
thuốc bảo vệ thực vật một cách bừa bãi và xả rác
ra môi trường vẫn còn, nhất là xả xuống sông và
kinh rạch gây ảnh hưởng xấu đến môi trường.
Các tiêu chí phấn đấu xây dựng và phát
triển huyện Phong Điền thành ĐTST như đã
phân tích trên, được UBND TPCT ban hành
kèm theo quyết định 1394/QĐ-UBND, ngày 13
tháng 7 năm 2020, vừa là cơ sở, vừa là động lực
và là mục tiêu để huyện phấn đấu thực hiện đảm
bảo ANMT, là những yếu tố lợi thế cho huyện
thực hiện thành công Nghị quyết số 07, ngày
27/12/2016, của Thành ủy Cần Thơ về xây dựng
và phát triển huyện Phong Điền thành ĐTST.
- BĐKH, theo dự báo Việt Nam sẽ là một
trong những quốc gia bị tác động mạnh của
hiện tượng BĐKH và nước biển dâng, trong đó
ĐBSCLsẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất. Một
trong những tác động tiêu cực của BĐKH là gây
hiện tượng xâm nhập mặn, khô hạn và ngập úng
ảnh hưởng trực tiếp tới sự sống của các loài cây
trồng, trong đó có cây ăn quả.
- Theo kết quả khảo sát của Trung tâm Môi
trường Đô thị và Công nghiệp, Viện Khoa học
Khí tượng Thủy văn và BĐKH công bố ngày
13/9/2012, BĐKH sẽ làm thay đổi chế độ thủy
văn. Cụ thể, khi mực nước biển dâng lên 15 cm,
diện tích ngập có độ sâu trên 0,5 m là 1.005 km2,
ngập 1m là 431 km2; vào giữa thế kỷ này, diện
tích ngập có độ sâu trên 0,5 m từ 1.021 - 1.082
km2, ngập trên 1 m là 537 - 598 km2; đến cuối thế
kỷ, diện tích ngập có độ sâu trên 0,5 m từ 1.266
- 1.336 km2, ngập trên 1 m là 934 - 1.224 km2.
BĐKH làm gia tăng tình trạng ngập lụt ở TPCT
trong thời gian tới, tập trung ở các huyện: Vĩnh
Thạnh, Cờ Đỏ, Thới Lai, kế đến là các quận: Thốt
Nốt, Ô Môn và huyện Phong Điền. Năm 2019,
trên địa bàn huyện do ảnh hưởng ngập lụt, đã xảy
ra 11 vụ sạt lở, làm hư hỏng 251 m lộ giao thông
nông thôn; triều cường làm ngập và tràn nước
53,8 km đường giao thông (trong đó đường giao
thông nông thôn 48 km và đường tỉnh 5,8 km);
và từ đầu năm đến nay xảy ra 24 vụ sạt lở, ảnh
hưởng 640 m đường giao thông. Khi đó, sản xuất
nông nghiệp sẽ bị tổn thất nặng nề và thiệt hại
nông nghiệp trong giai đoạn 2020-2050.
3.2.1. Những mặt bất lợi, hạn chế trong công
tác đảm bảo ANMT tác động đến xây dựng và
phát triển ĐTST huyện Phong Điền
Bên cạnh những lợi thế trong việc triển khai
thực hiệnANMT tạo đà cho huyện trong việc xây
dựng và phát triển ĐTST. Hiện nay vẫn còn tồn
tại những mặt bất lợi không đảm bảo ANMT, là
nguyên nhân chính cản trở và ảnh hưởng đến quá
trình thực hiện nghị quyết. Đó là:
- Theo Quyết định số 2782/QĐ-BTNMT
ngày 31/10/2019 có đưa ra phương pháp xác định
chỉ sốANMT. Tuy nhiên, hiện nay chính phủ vẫn
chưa ban hành bộ tiêu chí về ĐTST, để các địa
phương trong cả nước, trong đó có huyện Phong
Điền vận dụng, làm cơ sở triển khai thực hiện.
Do đó, việc triển khai thực hiện đảm bảoANMT
và xây dựng ĐTST huyện Phong Điền theo tinh
thần Nghị quyết 07 còn khó khăn, lúng túng.
- Vấn đề môi trường, ANMT thời gian qua
vẫn còn bị xem nhẹ, ý thức một bộ phận người
dân về khai thác, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi
trường, về ĐTST chưa cao. Vì vậy, trong quá
trình đầu tư xây dựng, tác động vào tự nhiên làm
xáo trộn lớn đến hệ sinh thái trong đô thị như: tỷ
lệ bê tông hóa cao; tỷ lệ cây xanh thấp; làm suy
giảm đa dạng sinh vật; sử dụng những loại vật
Chưa phát huy hết lợi thế về điều kiện tự
nhiên sẵn có về môi trường sinh thái, nhất là
trong việc kết hợp tốt giữa hệ thống sông, rạch,
66
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tꢀp 10, Số 4, 2021, 60-69
hệ thống thủy lợi, mạng lưới giao thông nông
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về chủ
thôn với các điểm vườn sinh thái và các khu di trương, mục đính và ý nghĩa cũng như nội dung,
tích văn hóa - lịch sử, tạo thành hệ thống giao tiêu chí về môi trường, ANMT và ĐTST cho tất
thông - du lịch liên hoàn. Bên cạnh đó,việc sử cả các đối tượng, từ trong CBCCVC ra các tầng
dụng phương tiện di chuyển bằng xe đạp, xe điện, lớp nhân dân, nhằm củng cố nhận thức, nâng cao
xe ngựa, xe buýt và các loại ghe xuồng ít thải ý thức trong thực hiện đảm bảoANMT, thực hiện
khí gây ô nhiễm môi trường và sử dụng nguyên, xây dựng và phát triển huyện thành ĐTST. Đồng
nhiên, vật liệu thân thiện với môi trường còn hạn thời cũng có những biện pháp chế tài nghiêm đối
chế. Mô hình kinh tế nông nghiệp đô thị và ven với những trường hợp vi phạm đến ANMT và
đô thị đã hình thành, nhưng còn rất hạn chế, chưa ĐTST, nhất là tình trạng xả rác thải ra kênh rạch
phổ biến trong dân cư.
và môi trường.
Chưa có cơ chế, chính sách đặc thù riêng,
Đề xuất Chính phủ sớm ban hành bộ tiêu
làm đòn bẩy, làm khâu đột phá để thực hiện đảm chí cho ĐTST và có cơ chế về tài chính, quản
bảo ANMT, tạo điều kiện thực hiện Nghị quyết lý, điều hành, đầu tư xây dựng cho đặc thù riêng
số 07 của Thành ủy Cần Thơ về xây dựng và phát của ĐTST. Có chính sách ưu đãi, khuyến khích
triển huyện Phong Điền thành ĐTST.
các nhà đầu tư, người dân tham gia đầu tư, thực
hiện tuân thủ các điều kiện, tiêu chí ĐTST.
Chẳng hạn, chính sách ưu đãi đặc biệt về thuế
chuyển mục đích cho các doanh nghiệp, tổ chức,
cá nhân khi đầu tư vào những lĩnh vực đảm bảo
được vấn đề ANMT và các tiêu chí về ĐTST
hoặc miễn thuế giá trị gia tăng cho người dân
khi xây dựng công trình nhà ở, sử dụng đảm bảo
tỷ lệ vật liệu thân thiện môi trường và cây xanh
theo quy định,...
* Nguyên nhân của hạn chế
Do BĐKH, thời tiết, dịch bệnh diễn biến
ngày càng phức tạp, hậu quả ngày càng nghiêm
trọng, nhất là thiệt hại về cảnh quan môi trường
sinh thái tự nhiên.
Do năng lực quản lý của các cơ quan quản
lý nhà nước các cấp và trình độ dân trí, nhận thức
của một bộ phận các tầng lớp nhân dân còn hạn
chế; chưa có bộ tiêu chí về ĐTST để làm cơ sở
triển khai thực và tuyên truyền rộng rãi ra quần
chúng nhân dân.
Khảo sát và thống kê toàn bộ hiện trạng hệ
thống sông ngòi, kênh rạch, nguồn tài nguyên, hệ
sinh thái hiện có nhằm phát huy tối đa lợi thế về
điều kiện tự nhiên và dựa vào đó để quản lý, khai
thác, sử dụng và quy hoạch, thiết kế xây dựng,…
hoặc tác động vào môi trường tự nhiên một cách
hợp lý ở mức độ cho phép; có kế hoạch chuyển
đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều
kiện thổ nhưỡng, đặc biệt là phù hợp với điều
kiện BĐKH hiện nay; khuyến khích các mô hình
sản xuất nông nghiệp hữu cơ, nhằm đảm bảo an
toàn vệ sinh thực phẩm, ANMT và mô hình sản
xuất kinh tế nông nghiệp đô thị, ven đô thị gắn
với ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại, nâng
cao chất lượng, sản lượng hàng nông sản và tạo
mảng xanh cho đô thị.
Vấn đề môi trường, ANMT và ĐTST là
những vấn đề mới, chưa có nguồn lực tương
ứng thực hiện một cách có hiệu quả những yêu
cầu đặt ra.
Tốc độ đô thị hóa và dân số ngày càng tăng.
Nguồn lực tài chính còn hạn chế.
4. Những giải pháp chủ yếu
Trên cơ sở bộ tiêu chí phấn đấu xây dựng
và phát triển huyện Phong Điền thành ĐTST,
được ban hành theo Quyết định số 1394, ngày
13/7/2020 của UBND TPCT. Huyện Phong Điền
cần cụ thể hóa bằng những chương trình hành
động, kế hoạch cụ thể cho toàn huyện, từng cơ
quan, ban ngành, đoàn thể và các xã, thị trấn để
làm cơ sở triển khai thực hiện một cách đồng bộ
có hệ thống.
Nâng cao năng lực tiếp nhận, nắm bắt diễn
biến thời tiết và BĐKH trong ngắn và dài hạn,
nhằm kịp thời khuyến cáo, cảnh báo đến bà con
67
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
nhân dân chủ động phòng, chống và có kế hoạch đảng, sự điều hành, quản lý của chính quyền; sự
chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi thích ứng đồng thuận cao trong hệ thống Mặt trận, các đoàn
với BĐKH.
thể nhân dân và phải có quyết tâm chính trị cao
trong chỉ đạo triển khai thực hiện./.
Trong đô thị cần đầu tư xây dựng hệ thống
thu gom nước mưa để phục vụ cho việc tưới
cây, rửa đường và sử dụng vào mục đích khác;
đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải đô thị
để xử lý trước khi thải ra môi trường tự nhiên;
có chính sách khuyến khích và vận động các tổ
chức, doanh nghiệp, cá nhân và người dân đầu
tư, sử dụng các loại phương tiện dùng nhiên
liệu thân thiện với môi trường cả đường bộ và
đường thủy.
Tài liệu tham khảo
Bộ Chính trị. (2005). Nghị quyết số 45-NQ/TW
ngày 17/02/2005 của Bộ Chính trị (khóa IX)
về Xây dựng và phát triển TPCT trong thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Bộ Chính trị. (2012). Kết luận số 17-KL/TW
ngày 21/3/2012 của Bộ chính trị (khóa XI)
về Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết
số 45-NQ/TW, ngày 17/02/2005 của Bộ
Chính trị (khóa IX); Về xây dựng và phát
triển TPCT trong thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước.
Nắm bắt nguồn nhân lực cả về số lượng và
chất lượng để có kế hoạch đào tạo lâu dài, phù
hợp và đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước
trong việc đảm bảo ANMT. Cùng với đó là, ứng
dụng mạnh tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhằm thực
hiện có hiệu quả Nghị quyết 07.
Bộ Chính trị. (2020). Nghị quyết số 59-NQ/TW
ngày 05/8/2020 của Bộ Chính trị (khóa XII)
về Xây dựng và phát triển TPCT đến năm
2030 tầm nhìn đến 2045.
Để thực hiện các giải pháp trên một cách có
hiệu quả, việc cần thiết mời gọi các chuyên gia
chuyên ngành, tham gia tư vấn lập quy hoạch
chi tiết về xây dựng ĐTST huyện Phong Điền,
nhằm đạt được mục tiêu đảm bảo ANMT, cũng
như đảm bảo các tiêu chí xây dựng và phát triển
ĐTST Phong Điền.
Chính phủ. (2006). Nghị định số 02/2006/NĐ-CP
ngày 05/01/2006 của Chính phủ quy định về
Qui chế khu đô thị mới.
Chính phủ. (2006). Quyết định số 207/2006/QĐ-
TTg ngày 07/09/2006 của Thủ tướng Chính
phủ về việc Phê duyệt Quy hoạch chung xây
dựng TPCT đến năm 2025.
5. Kết luận
Xây dựng và phát triển ĐTST là quá trình lâu
dài, có nguyên tắc, phương pháp, có quy hoạch,
phân chia lộ trình thích hợp từng giai đoạn. Trước
hết là quy hoạch tổng thể, quy hoạch cấu trúc
Chính phủ. (2009). Nghị định số 42/2009/NĐ-
CP ngày 07/5/2009 của Chính phủ về Phân
loại đô thị.
không gian đô thị có trọng tâm, trọng điểm; tập Chi cục Thống kế huyện Phong Điền. (2019).
trung khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của
huyện; đồng thời cơ cấu lại kinh tế - xã hội theo
tiêu chí ĐTST; trong đó cần quan tâm đến vấn đề
môi trường và những giải pháp bảo đảm ANMT
nhằm hình thành một môi trường cân bằng để bảo
đảm điều kiện sống và phát triển của con người
cũng như hệ sinh thái vốn có của huyện Phong
Điền. Đây là những vấn đề vừa cơ bản vừa có
tầm chiến lược, đòi hỏi phải có sự chủ động, tích
cực của Đảng bộ, chính quyền huyện Phong Điền
trong xây dựng và phát triển ĐTST Phong Điền.
Thể hiện trước hết là vai trò lãnh đạo của cấp ủy
Niên giám thống kê huyện Phong Điền.
Đảng bộ Huyện Phong Điền. (2007). Biên khảo
lịch sử Phong Điền - Cần Thơ.
Đảng bộ TPCT. (2020). Nghị quyết Đại hội đại
biểu Đảng bộ TPCT, lần thứ XIV, nhiệm kỳ
2020-2025.
Đảng bộ Huyện Phong Điền. (2020). Văn kiện
Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XII,
nhiệm kỳ 2020-2025.
Đặng Phi Sơn. (2018). Qui hoạch ĐTST - Xây
dựng đô thị phát triển bền vững và toàn
68
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tꢀp 10, Số 4, 2021, 60-69
triển. Trong Nguyễn Thế Chinh (Biên tập),
Kinh tế và Quản lý môi trường. Hà Nội:
NXB Thống kê.
quy-hoach-do-thi-sinh-thai-xay-dung-do-
thi-phat-trien-ben-vung-va-toan-dien/.
Lê Huy Bá, Lâm Minh Triết. (2005). Sinh thái
môi trường học cơ bản. Thành phố Hồ Chí
Minh: NXB Đại học Quốc gia.
Nguyễn Thị Hạnh. (Ngày 7 tháng 7 năm
2009). Xây dựng ĐTST - Lộ trình rất
dài. Báo Xây dựng. Truy cập từ http://
xay-dung-do-thi-sinh-thai-se&hellip.
Lê Thị Thanh Hà. (2017). Vấn đề ANMT ở Việt
Nam hiện nay. Tạp chí Lý luận chính trị.
ly-luan/van-de-an-ninh-moi-truong-o-viet-
nam-hien-nay-115852.
Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia (2006). Cần Thơ
thế - lực mới trong thế kỷ XXI.
Quốc hội. (2014). Luật Bảo vệ môi trường.
Quốc hội. (2009). Luật Quy hoạch đô thị.
Lê Văn Bảnh. (2012). Phát triển nông nghiệp đô
thị và đô thị du lịch sinh thái ở huyện Phong
Điền, TPCT. Kỷ yếu Hội thảo khoa học:
Phong Điền xây dựng và phát triển ĐTST
từ nay đến năm 2025.
Sở Tài nguyên và Môi trường TPCT. (2020). Báo
cáo hiện trạng môi trường TPCT giai đoạn
2015- 2020.
Nguyễn Đức Khiển, Nguyễn Kim Hoàng. (2013).
An ninh môi trường. Hà Nội: NXB Thông
tin và Truyền thông.
Tạ Đình Thi, Phan Thị Kim Oanh, Tạ Văn Trung,
Bùi Đức Hiếu. (2017). Đảm bảo ANMT ở
Việt Nam: Vấn đề cấp thiết cần phải giải
quyết. Tạp chí Khoa học biến đổi khí hậu, (2).
Nguyễn Hữu Thiện. (2017). BĐKH và Đa dạng
sinh học đất ngập nước ĐBSCL: Sự thiếu
hụt trong thích ứng. Bản tin Chính sách
số 21 - Trung tâm Con người và Thiên
net/2016/09/03/bdkh-va-da-dang-sinh-hoc-
dat-ngap-nuoc-dbscl-su-thieu-hut-trong-
thich-ung/.
Thanh Phong. (Ngày 20 tháng 06 năm 2020).
Đợt hạn, mặn nghiêm trọng nhất trong lịch
sử ĐBSCL. Báo Nhân dân điện tử. Truy cập
dot-han-man-nghiem-trong-nhat-trong-lich-
su-dbscl-475180/.
Trung tâm Xúc tiến Thương mại Du lịch và Quản
lý Di tích huyện Phong Điền. (2020). Báo
cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2020,
phương hướng nhiệm vụ 2021.
Nguyễn Ngọc Sinh. (1984). Môi trường và tài
nguyên Việt Nam. Hà Nội: NXB Khoa học
Kỹ thuật.
69
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng an ninh môi trường tác động đến thực hiện nghị quyết 07-NQ/TU ngày 27/12/2016 của thành ủy Cần Thơ về xây dựng và phát triển huyện Phong Điền thành đô thị sinh thái", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
thuc_trang_an_ninh_moi_truong_tac_dong_den_thuc_hien_nghi_qu.pdf

