Hoàn thiện quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị hiện nay ở Việt Nam

N G H I Ê N C Ứ U K H O A H Ọ C  
nNgày nhận bài: 16/3/2021 nNgày sửa bài: 12/4/2021 nNgày chấp nhận đăng: 06/5/2021  
Hoàn thiện quản lý nhà nước  
về quy hoạch đô thị hiện nay ở Việt Nam  
Issues of state management of current urban planning today in Vietnam  
pháp thống kê từng khu phố để quyết định ranh giới của đô thị. Tại  
> LÊ THỊ PHƯƠNG LAN  
các nước đang phát triển, ngoài việc sử dụng đất và mật độ dân số quy  
ước nhất định nào đó, một điều kiện cần thiết là phần đông dân số,  
thông thường là 80% trở lên, không sản xuất nông nghiệp hoặc làm  
nghề biển. Tuy vậy, các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới vẫn có  
một điểm tương đồng về đô thị, đó là khu vực tập trung đông dân cư  
sinh sống và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông  
nghiệp, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá và có vai trò thúc đẩy sự  
phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc vùng lãnh thổ.  
Sự hình thành và phát triển của đô thị gắn liền với lịch sử phát  
triển của xã hội loài người, đặc biệt gắn với sự phát triển của nền kinh  
tế hàng hóa và chịu tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế - xã  
hội, đặc biệt là các quy luật của nền kinh tế thị trường. Các tác động  
này vừa là thời cơ, vừa là thách thức cho sự phát triển bền vững của  
các đô thị. Con người có thể tham gia và điều khiển được quá trình  
phát triển của đô thị theo quy luật khách quan, nghĩa là có thể quản lý  
được sự vận động và phát triển của đô thị, trong đó quản lý nhà nước  
về quy hoạch đô thị giữ vai trò đặc biệt quan trọng [3].  
Vấn đề đặt ra là quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị phải  
luôn được đổi mới, hoàn thiện phù hợp với sự phát triển của đô thị  
trên cơ sở đánh giá khách quan thực trạng cũng như tham khảo  
kinh nghiệm của các nước trong vấn đề này.  
1. Quy hoạch đô thị và kinh nghiệm của một số nước về  
quản lý quy hoạch đô thị.  
Quy hoạch đô thị là việc tổ chức không gian, kiến trúc, cảnh  
quan, công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và nhà ở để tạo  
lập môi trường sống thích hợp cho người dân sống trong đô thị,  
đảm bảo kết hợp hài hòa giữa lợi ích quốc gia và lợi ích cộng đồng,  
đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc  
phòng và bảo vệ môi trường [6].  
Viện Quy hoạch xây dựng miền Nam – Bộ Xây dựng  
(Bài báo được thẩm định bởi GS.TSKH Nghiêm Văn Dĩnh –  
Trường Đại học Giao thông Vận tải)  
TÓM TẮT:  
Từ sự phân tích khái niệm đô thị, sự hình thành và phát triển của đô  
thị, quy hoạch đô thị, tìm hiểu kinh nghiệm về quy hoạch đô thị của  
một số nước trên thế giới và vấn đề quản lý nhà nước về quy hoạch  
đô thị ở Việt Nam. Bài viết tổng kết những thành tựu và hạn chế  
trong công tác quy hoạch đô thị hiện nay và đề xuất các giải pháp,  
kiến nghị nhằm góp phần nâng cao nhận thức cũng như hiệu quả  
công tác quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị hiện nay ở Việt Nam.  
Từ khóa: Đô thị, quy hoạch, quy hoạch đô thị, quản lý nhà nước,  
giải pháp.  
ABSTRACT:  
From the urban concept analysis, the formation and development  
of the urban, regulation urban planning, learn experiences in  
urban planning of some countries around the world, and state  
management of urban planning in Vietnam. Articles summarizing  
these achievements and limitations in current urban planning and  
proposed solutions measures and recommendations to contribute  
to raising awareness as well as the effectiveness of governance  
State management on current urban planning in Vietnam.  
Keywords: Urban, planning, urban planning, state management,  
solutions, and efficiency improvement.  
Về hình thức, quy hoạch đô thị được thể hiện ở đồ án quy  
hoạch gồm sơ đồ, bản vẽ, mô hình và thuyết minh.  
Quy hoạch đô thị đóng vai trò quan trọng trong đầu tư xây dựng  
và phát triển kinh tế - xã hội, là cơ sở tạo lập môi trường sống tiện nghi,  
an toàn và bền vững, thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần ngày  
càng cao của nhân dân; bảo vệ môi trường, di sản văn hóa, bảo tồn di  
tích lịch sử - văn hóa, cảnh quan thiên nhiên, giữ gìn và phát triển bản  
sắc văn hóa dân tộc. Quy hoạch đô thị là căn cứ quan trọng cho công  
tác kế hoạch, quản lý đầu tư và thu hút đầu tư xây dựng; quản lý khai  
thác và sử dụng các công trình xây dựng trong đô thị, điểm dân cư  
nông thôn. Với tầm quan trọng như vậy, quy hoạch đô thị phải phù  
hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát  
triển của các ngành liên quan, quy hoạch sử dụng đất.  
Nhiều nước trên thế giới đã có những kinh nghiệm tốt về  
quản lý quy hoạch đô thị [4]  
- Australia: Bài học kinh nghiệm của Australia là quy hoạch đô  
thị phải dựa trên những tiêu chí mang tính bền vững về xã hội, tự  
nhiên, kỹ thuật và tài chính.  
Mở đầu  
Đô thị đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử. Thông thường, một khu  
vực được gọi là đô thị phải là khu vực tập trung dân cư sinh sống có  
mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông  
nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc  
chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của  
quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội  
thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn  
[6]. Các nước châu Âu định nghĩa đô thị dựa trên việc sử dụng đất  
thuộc đô thị, không cho phép có một khoảng trống tiêu biểu nào quá  
lớn và thường dùng không ảnh chụp từ vệ tinh thay vì dùng phương  
62  
05.2021  
ISSN 2734-9888  
+ Bền vững về xã hội: Các chuyên gia về quy hoạch đô thị  
Australia luôn xác định bền vững về xã hội là tiêu chí quan trọng  
hàng đầu. Quy hoạch đô thị ảnh hưởng đến nhiều giai tầng trong  
xã hội. Quy hoạch chỉ có thể được xem là mỹ mãn khi nó phục vụ  
con người, vì chất lượng sống của con người, cân bằng được mọi  
giá trị văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, bảo đảm các yếu tố xã hội  
như giáo dục, y tế, việc làm, thu nhập, giao thông và các dịch vụ  
thiết yếu. Công tác truyền thông được phát huy ở mức độ cao,  
được tiến hành trong nhiều giai đoạn của quy hoạch, ý kiến đóng  
góp của người dân, được tôn trọng và xem xét.  
+ Bền vững về tự nhiên: Cấu trúc của đồ án quy hoạch phải hướng  
tới sự thân thiện với môi trường sinh thái: bảo vệ nước như nguồn tài  
nguyên quý giá nhất, cây xanh ở Australia được bảo vệ bằng pháp luật  
như bảo vệ con người. Tài nguyên khoáng sản, được bảo vệ và gìn giữ  
cho thế hệ tương lai. Thổ nhưỡng cũng rất được coi trọng, phục vụ  
cho sản xuất những sản phẩm nông nghiệp có giá trị cao, tạo lợi thế  
cạnh tranh của Australia trên thị trường thế giới.  
+ Bền vững về kỹ thuật: Trong quy hoạch luôn tích hợp đầy đủ  
các yêu cầu hạ tầng kỹ thuật và đồng bộ với các phương án hợp lý,  
bảo đảm cho cuộc sống lâu dài. Không chỉ công trình chính mà tất  
cả các công trình phụ trợ như điện, cấp/ thoát nước, viễn thông,  
cây xanh, chiếu sáng đều được tính đến trong một dự án. Tiến độ  
triển khai quy hoạch được thiết lập cụ thể, chi tiết và đồng bộ.  
+ Bền vững về tài chính: Đồ án quy hoạch phải tính đến bảo  
đảm đầy đủ tài chính cho triển khai quy hoạch. Mục đích hướng tới  
là nhằm tính toán mọi chi phí cần thiết trong đầu tư, vận hành, bảo  
dưỡng và quản lý công trình một cách đầy đủ nhất.  
- Ở Cộng hòa Pháp: Paris là thành phố di sản đô thị, vì vậy, trong  
định hướng quy hoạch đô thị của thành phố, luôn coi trọng  
nguyên tắc bảo tồn di sản đô thị, đặc biệt các không gian đô thị có  
giá trị lịch sử, trong đó có các không gian công cộng. Quy hoạch  
mới phải được quản lý rất chặt chẽ để bảo đảm hoà nhập với  
không gian đô thị hiện có. Người sử dụng được phép sửa sang cơi  
nới bên trong hoặc không gian ngầm để tăng diện tích sử dụng,  
song không được phép thay đổi diện mạo bên ngoài, nhịp điệu  
kiến trúc tuyến phố. Ngoài đường phố, có thể đặt thêm cột đèn  
đường, biển báo, trạm chờ xe buýt, song tất cả phải được quy  
hoạch, thiết kế hài hoà với kiến trúc công trình quanh nó. Trong  
khuôn viên khu nhà, không được phép tự ý tăng mật độ xây dựng.  
Quản lý quy hoạch minh bạch, không bỏ qua nhu cầu mở rộng  
diện tích kinh doanh của người dân, nhưng không được chiếm chỗ  
đi bộ và phần cơi nới phải có kết cấu nhẹ, tháo dỡ được.  
+ Cấp Trung ương: Bộ quy hoạch là cơ quan quản lý quy hoạch  
và xây dựng đô thị, Cục đất đai quốc gia chịu trách nhiệm lập quy  
hoạch sử dụng đất. Bộ xây dựng phê duyệt các quy hoạch, phân  
vùng khu vực; phân chia đất đai các khu vực và quyết định các dự  
án đầu tư mở rộng đô thị có quy mô lớn.  
+ Cấp địa phương: Do chính quyền địa phương đảm nhiệm.  
Hệ thống pháp luật về quy hoạch và quản lý quy hoạch: Luật  
mới về quy hoạch đô thị chủ yếu hướng đến giảm bớt sự tập trung  
quyền hạn và tăng cường sự tham gia của quần chúng mà vẫn  
tăng cường vai trò của quy hoạch tổng thể nhằm giải quyết các  
vấn đề một cách toàn diện. Quá trình lập quy hoạch đô thị có sự  
tham gia của nhiều bên liên quan, đó là chính quyền ở cả cấp  
Trung ương và cấp địa phương, của tư nhân và của người dân. Hệ  
thống điều chỉnh lại đất đai ở Nhật Bản đã được thể chế hóa và  
thực hiện gần 100 năm nay.  
Điều chỉnh đất được áp dụng đối với những khu vực đã có người  
sinh sống với cơ sở hạ tầng dưới mức tiêu chuẩn và các khu đất có  
hình dạng bất thường. Điều chỉnh đất ở từng khu vực làm cho khu vực  
đó phát triển một cách toàn diện. Trong quá trình điều chỉnh đất,  
không bắt buộc giải phóng mặt bằng. Các chủ đất có thể ở lại khu vực  
đó mà không phải di dời và những người bị ảnh hưởng bởi công trình  
xây dựng đó sẽ được bồi thường thỏa đáng. Một yếu tố thành công  
trong quy hoạch đô thị ở Nhật Bản là có sự tham gia tích cực của khu  
vực tư nhân trong quá trình phát triển đô thị.  
- Singapore: Cục tái thiết đô thị của Singapore (URA) là cơ quan  
chịu trách nhiệm về quy hoạch sử dụng đất trên toàn lãnh thổ, như lập  
và phê duyệt quy hoạch, chuẩn bị xây dựng cơ sở hạ tầng, quản lý quy  
hoạch, khai thác quỹ đất công. Một đất nước có diện tích nhỏ, hầu như  
không có tài nguyên, Singapore đã quy hoạch phát triển không gian  
đô thị ưu tiên cho các hoạt động phát triển kinh tế thương mại, các  
ngành có giá trị gia tăng cao, dành quỹ đất để hình thành các trục  
trung tâm đa chức năng về thương mại, tài chính, ngân hàng, xây  
dựng các trung tâm thương mại cấp vùng. Việc quy hoạch sử dụng đất  
được tối ưu hóa, trong đó ưu tiên tận dụng không gian, nâng cao mật  
độ sử dụng đất, tận dụng không gian dưới mặt đất, thực hiện mục tiêu  
quy hoạch là “thành phố trong vườn”, quan tâm đến việc bảo tồn các  
di sản, các khu nhà ở cũ.... Công tác quy hoạch ở Singapore gồm 3  
bước: (a) Quy hoạch chiến lược, hay được gọi là quy hoạch ý niệm: (b)  
Quy hoạch tổng thể: Nội dung quy hoạch giai đoạn này quy định chi  
tiết từng ô, phố, từng khu đất bao gồm diện tích, mật độ xây dựng,  
mục đích sử dụng đất... và công khai cho mọi người biết để thu hút  
đầu tư và hướng dẫn người dân thực hiện theo quy hoạch; (c) Quy  
hoạch triển khai chi tiết: Giai đoạn này do các chủ đầu tư dự án trên  
các khu đất được giao quản lý thực hiện. Nhiệm vụ của Cục phát triển  
nhà ở (HDB) là phải giải quyết nhà ở cơ bản phù hợp với sức mua của  
người dân từng giai đoạn; quy hoạch và phát triển các khu ở mới, huy  
động vốn và quản lý nguồn vốn của nhà nước trợ cấp về chương trình  
nhà ở; phân phối, quản lý công bằng có hiệu quả và đề ra các chính  
sách về nhà ở. Singapore có chính sách khuyến khích được nhiệt huyết  
trí tuệ của đội ngũ công chức trong suốt quá trình xây dựng và phát  
triển đất nước, minh bạch hóa trong việc xử lý công việc và bố trí kiểm  
tra chéo lẫn nhau.  
- Trung Quốc: Vấn đề quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị  
được chính phủ coi trọng và áp dụng đa dạng các mô hình quản lý  
với nhiều chính sách tập trung thu hút nguồn lực giải quyết mục  
tiêu lớn. Cùng với quản lý tập trung, chính phủ vẫn cho phép mỗi  
địa phương có cách quy hoạch riêng. Lấy người dân làm trọng tâm  
để quy hoạch phát triển đô thị bền vững và lành mạnh. Tăng  
cường hợp tác công tư trong quy hoạch và quản lý đô thị nói  
chung, quản lý kiến trúc, cảnh quan không gian công cộng nói  
riêng. Thưc hiện từng bước sau: Cải cách thể chế quản lý đất đai;  
Chọn phương án tài chính bền vững; Đổi mới quy hoạch và thiết  
kế đô thị; Tăng cường vai trò quản trị địa phương.  
2. Quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị ở Việt Nam:  
- Nhật Bản: Quá trình phát triển đô thị Nhật Bản có nhiều điểm  
tương đồng với Việt Nam như tốc độ đô thị hóa nhanh, gia tăng đột  
biến dân số đô thị. Ba vấn đề chính được đặt ra là: Quản lý sự phát triển  
của các đô thị như thế nào, làm thế nào để có thể cung cấp nhà ở và  
các dịch vụ khác cho số lượng dân cư đô thị đang ngày càng phình ra,  
và làm cách nào để đối phó với tình trạng tắc nghẽn, mất an toàn giao  
thông, và suy giảm môi trường. Nhật Bản đã hoàn thiện một hệ thống  
hành chính quản lý quy hoạch đô thị theo 2 cấp:  
Quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị là việc cơ quan quản lý nhà  
nước có thẩm quyền sử dụng bộ máy và công cụ pháp lý thực hiện  
chức năng quản lý đối với quy hoạch đô thị. Quản lý quy hoạch đô thị  
được hiểu là tổng thể các biện pháp, cách thức mà các cơ quan nhà  
nước sử dụng các công cụ quản lý để tác động vào các hoạt động xây  
dựng và phát triển đô thị nhằm đạt được các mục tiêu đề ra, đảm bảo  
cho đô thị phát triển ổn định, bền vững, hài hòa các lợi ích quốc gia,  
cộng đồng và các cá nhân một cách bền vững. Quá trình hoạt động  
05.2021  
63  
ISSN 2734-9888  
N G H I Ê N C Ứ U K H O A H Ọ C  
quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị là một quá trình xây dựng pháp  
luật và thực hiện pháp luật, là quá trình huy động nhân tài và vật lực  
của đô thị, tận dụng các thời cơ, chế ngự các nguy cơ để phục vụ cho  
việc cải tạo và phát triển đô thị, không ngừng nâng cao đời sống của  
người dân. Quản lý quy hoạch và xây dựng phát triển đô thị có vai trò  
đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển đô thị. Việt Nam đang  
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong bối cảnh phát triển  
nền kinh tế tri thức và toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ đòi hỏi tư duy  
và phương thức quy hoạch, quản lý quy hoạch đô thị phải thay đổi để  
phù hợp với tình hình mới. Hiện nay, quy hoạch được lập từ tổng thể  
(quy hoạch vùng, quy hoạch chung) đến chi tiết. Bên cạnh những ưu  
điểm mà phương thức quy hoạch cũ mang lại thì phương thức này  
cũng bộc lộ nhiều khuyết điểm. Quá trình lập, phê duyệt, đến khâu bồi  
thường, giải phóng mặt bằng, triển khai xây dựng, bảo trì, duy tu các  
công trình… gặp nhiều khó khăn do chưa có cơ chế phù hợp để huy  
động nguồn lực từ nhân dân….  
Đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình; (vi) Điều  
tra, thống kê và lưu trữ hồ sơ các công trình trong đô thị.  
Công tác quản lý, cải tạo và xây dựng công trình trong đô thị  
theo quy hoạch được tiến hành trong ba giai đoạn: chuẩn bị đầu tư,  
Giai đoạn tiến hành đầu tư, Giai đoạn kết thúc đầu tư xây dựng  
2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về quy hoạch  
đô thị:  
- Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước: Đây là yếu  
tố ảnh hưởng quan trọng đến quá trình đô thị hóa và quản lý nhà  
nước đối với quy hoạch xây dựng đô thị. Khi tốc độ phát triển kinh  
tế - xã hội càng nhanh thì quá trình đô thị hóa diễn ra càng mạnh,  
các yêu cầu phát triển hạ tầng kỹ thuật, nhu cầu về lao động, các  
dịch vụ khác... càng lớn. Sự chuyển dịch nền kinh tế từ lạc hậu sang  
nền kinh tế phát triển theo nguyên tắc thị trường, cạnh tranh kéo  
theo sự phát triển kinh tế tăng lên về mặt quy mô, số lượng và các  
cơ sở kinh tế. Điều này đặt ra một đòi hỏi khách quan về sự đáp  
ứng của công nghiệp, dịch vụ, thương mại phục vụ cho nền kinh tế.  
Mặt khác, khi tốc độ phát triển kinh tế - xã hội tăng nhanh song  
song cùng với sự tăng trưởng của các thành phần kinh tế công  
nghiệp, dịch vụ, thương mại... với tốc độ càng cao thì khả năng gây  
ô nhiễm môi trường càng lớn. Về mặt xã hội, sự gia tăng dân số với  
nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm, nhu cầu được bảo đảm về việc làm,  
giải trí... cũng tạo áp lực lớn lên sự phát triển kinh tế và làm gia  
tăng sự suy thoái về môi trường.  
2.1. Nội dung chủ yếu quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị [6]:  
Việc quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị trên phạm vi lãnh  
thổ quốc gia do cơ quan quản lý nhà nước thực hiện và theo sự  
phân cấp đã được quy định tại Luật Quy hoạch đô thị, cụ thể:  
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện định hướng, chiến lược phát  
triển đô thị.  
- Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật  
về quản lý hoạt động quy hoạch đô thị.  
- Ban hành quy chuẩn, tiêu chuẩn về quy hoạch đô thị, quy chế  
quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị.  
- Quản lý hoạt động quy hoạch đô thị.  
- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin về  
quy hoạch đô thị.  
- Tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân  
lực, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong hoạt  
động quy hoạch đô thị.  
- Hợp tác quốc tế trong hoạt động quy hoạch đô thị.  
- Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi  
phạm trong hoạt động quy hoạch đô thị.  
Quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị ở Việt Nam hiện nay do  
ba cấp trực tiếp quản lý: Chính phủ, UBND tỉnh/ thành phố trực  
thuộc Trung ương và UBND huyện/ thị xã/ thành phố thuộc tỉnh:  
- Chính phủ: Quản lý lập, thẩm định, phê duyệt và thanh tra,  
kiểm tra, giám sát thực hiện quy hoạch đô thị đối với các đô thị cấp  
thành phố thuộc tỉnh trở lên, ban hành quy định về quản lý quy  
hoạch; thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm; lập, thẩm định, phê duyệt  
quy hoạch quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị; quản lý xây dựng, cải  
tạo công trình, kiến trúc và bảo vệ môi trường.  
- Cơ chế chính sách của Nhà nước về phát triển đô thị: Chính sách  
đô thị là hệ thống các quan điểm, mục tiêu và giải pháp bao gồm cả kế  
hoạch hành động của chính quyền về đô thị để đạt được mục tiêu  
quản lý của mình. Cơ chế chính sách là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến  
sự phát triển của đô thị và đô thị hóa. Cơ chế chính sách thông thoáng,  
hấp dẫn, thuận tiện sẽ tạo sự phát triển nhanh cho nền kinh tế cũng  
như phát triển đô thị. Đối tượng của chính sách đô thị là tất cả các vấn  
đề của đô thị trên ba lĩnh vực bao quát nhất, đó là kinh tế, xã hội và  
môi trường. Tuy nhiên, với quan điểm “Nhà nước tạo điều kiện”, những  
gì mà cá nhân công dân không tự làm được thì nhà nước phải “tạo  
điều kiện”, và phải có chính sách ở đó. Do đó, chính sách đô thị sẽ  
hướng vào việc đảm bảo về hạ tầng đô thị, bảo vệ môi trường và tạo  
điều kiện cho thị trường phát triển. Đó cũng là ba chức năng cơ bản  
của chính quyền đô thị. Việc tăng cường hiệu lực của bộ máy quản lý  
đô thị giúp đổi mới cơ chế, chính sách, tạo vốn phát triển cơ sở hạ tầng,  
cơ sở đô thị, quản lý tốt quy hoạch - kiến trúc đô thị, giúp phát triển  
quỹ đất về nhà ở và đất đô thị, quản lý tốt môi trường đô thị. Cơ chế  
chính sách tốt sẽ tạo động lực, hỗ trợ quá trình phát triển kinh tế - xã  
hội nói riêng và sự phát triển của đô thị nói chung. Đồng thời sẽ hạn  
chế những ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống, môi trường…  
- Cấp tỉnh (UBND)/ thành phố trực thuộc Trung ương: Quản lý  
lập, thẩm định, phê duyệt và thanh tra, kiểm tra, giám sát thực hiện  
quy hoạch đô thị đối với các đô thị cấp thành phố thuộc tỉnh, thị xã,  
thị trấn trên địa bàn tỉnh.  
- Môi trường pháp lý và thủ tục hành chính trong quản lý đô thị:  
Môi trường pháp lý là nền tảng, là động lực cho sự phát triển của  
đô thị. Thủ tục hành chính giúp nhà nước thực hiện chức năng  
quản lý của mình về các vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội... Thủ tục  
hành chính không bắt nguồn từ quy phạm pháp luật quản lý, mà  
sâu xa hơn là từ quan điểm quản lý và nội dung quản lý. Quan  
điểm quản lý của chế độ bao cấp là kiểm soát các hoạt động trong  
xã hội, quan điểm quản lý của cơ chế thị trường là kích thích và tạo  
điều kiện. Phương pháp quản lý hành chính bao cấp là “lệnh”, của  
cơ chế thị trường là “luật”. Thủ tục hành chính là thủ tục chuẩn bị  
cho việc ra quyết định. Thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử  
dụng đất, thủ tục cấp giấy phép xây dựng, thủ tục cấp giấy chứng  
nhận đăng ký kinh doanh... đều là các thủ tục để ban hành một  
quyết định, một lệnh theo nghĩa khái quát. Xu hướng chung là  
cùng với việc nâng cao trình độ dân trí, tăng cường ý thức thượng  
tôn pháp luật, giảm bớt việc kiểm soát hành vi, tăng cường hậu  
kiểm và xử lý một cách nghiêm minh để nâng cao tính tự động hóa  
- Cấp huyện (UBND)/ thị xã/ thành phố thuộc tỉnh: Quản lý lập,  
thẩm định, phê duyệt và tổ chức thanh tra, kiểm tra, giám sát thực  
hiện quy hoạch đô thị đối với các đô thị cấp thị trấn, thị tứ. Quản lý  
nhà nước về quy hoạch đô thị ở cấp huyện được cụ thể theo các  
nội dung: (i) Quản lý các đồ án quy hoạch đô thị trên địa bàn  
huyện và quản lý xây dựng các công trình trong đô thị.  
Công tác quản lý nhà nước trong cải tạo và xây dựng công  
trình trong đô thị theo quy hoạch bao gồm các công việc: (i) Lựa  
chọn địa điểm xây dựng và cấp phép quy hoạch; (ii) Cấp giấy phép  
xây dựng hoặc ra quyết định đình chỉ việc xây dựng, cải tạo các  
công trình trong đô thị; (iii) Hướng dẫn việc cải tạo và xây dựng các  
công trình trong đô thị; (iv) Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm; (v)  
64  
05.2021  
ISSN 2734-9888  
vận hành của xã hội theo pháp luật. Để thực hiện tốt việc này, cần  
phải đơn giản hóa các nội dung quản lý.  
xây dựng 31 khu kinh tế cửa khẩu, 18 khu kinh tế biển, khoảng trên  
261 khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao.  
- Mức độ hội nhập quốc tế và sự phát triển kinh tế thị trường: Ngày  
nay, không một quốc gia nào có thể phát triển một cách ổn định và  
hài hóa nếu không tham gia vào quá trình hội nhập, đó là xu thế tất  
yếu. Việc hội nhập là tiền đề, tạo động lực cho sự phát triển. Kinh tế đô  
thị vốn là con đẻ của kinh tế hàng hóa, là kết quả phát huy tác dụng  
của cơ chế thị trường. Nhưng chỉ có sản xuất thì không thể hình thành  
đô thị hoàn chỉnh, cần phải có sự bảo đảm thị trường lưu thông. Thị  
trường phát triển nhanh hay chậm và được kiện toàn hay không, phụ  
thuộc khá lớn vào sự lưu động các yếu tố sản xuất có thông suốt, hợp  
lý hay không, ảnh hưởng đến sự thành bại và là tiền đề để phát triển  
đô thị. Thị trường có cơ chế tự điều tiết tự động, nó luôn luôn thay đổi,  
khi kinh tế thị trường phát triển sẽ tạo ra nhiều nguồn lực để phát triển  
đô thị. Song nó phát triển và tác động theo quy luật khách quan, nên  
trong quản lý đô thị cần phải tuân thủ và vận dụng sáng tạo. Kinh tế  
thị trường là công cụ để chính quyền thực thi điều tiết, khống chế vĩ  
mô. Về căn bản và rên lĩnh vực càng rộng lớn hơn nó tự động điều tiết  
hướng đi và sự phát triển của nền kinh tế. Việc phát triển nền kinh tế  
thị trường và hội nhập quốc tế có sự tham gia của nhiều thành phần  
kinh tế, đặc biệt là thành phần kinh tế tư nhân, sẽ ảnh hưởng rất lớn  
đến quá trình phát triển đô thị.  
- Ảnh hưởng của sự phát triển khoa học công nghệ: Khi nền kinh  
tế phát triển nói chung và quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa  
diễn ra nói riêng, khoa học kỹ thuật là yếu tố không thể thiếu. Sự phát  
triển của khoa học kỹ thuật là tiền đề phục vụ quá trình công nghiệp  
hóa - hiện đại hóa, nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sản xuất.  
Đồng thời, là nhân tố giúp cho sự phát triển bền vững. Khoa học kỹ  
thuật phát triển tạo điều kiện cho việc áp dụng công nghệ, kỹ thuật  
vào cuộc sống, bao gồm các hoạt động công nghệ và kỹ thuật cho  
phép khai thác bền vững các loại tài nguyên thiên nhiên, năng lượng  
và xã hội, hướng tới việc xây dựng xã hội phát triển bền vững.  
Tính đến 31/12/2020, toàn quốc có 775 đô thị gồm 02 đô thị  
loại đặc biệt, 11 đô thị loại I, 15 đô thị loại II, 51 đô thị loại III, 55 đô  
thị loại IV, 639 đô thị loại V. Số đô thị có quy hoạch chung xây dựng  
được phê duyệt chiếm tỷ lệ 95%, trong đó có 100% đô thị từ loại IV  
(thị xã) trở lên đã có quy hoạch chung xây dựng được phê duyệt.  
Tỷ lệ quy hoạch đô thị chi tiết được phê duyệt khoảng 48%. Các dự  
án đầu tư phát triển các khu đô thị mới đã được triển khai trên địa  
bàn của 48/63 tỉnh, thành phố. Đến 31/12/2020, cả nước có 654 dự  
án khu đô thị mới với tổng diện tích khoảng 131.596 ha, tập trung  
chủ yếu tại các đô thị từ loại III cho tới đô thị loại đặc biệt; trong số  
đó có 89 khu đô thị mới (17,5%) có quy mô trên 200 ha (với 22 khu  
đô thị mới có quy mô trên dưới 1.000 ha); có 293 khu đô thị mới  
(49,7%) có quy mô từ 50-200 ha, 268 khu đô thị mới có quy mô từ  
20-50 ha. Ngoài ra, còn có hàng ngàn các khu vực xây dựng dưới  
dạng ''khu đô thị mới'' nhưng có quy mô nhỏ dưới 20 ha nằm đan  
xen khắp các khu vực, đặc biệt là vùng ven đô. Thực hiện Chương  
trình hành động của Chính phủ triển khai Nghị quyết của Bộ Chính  
trị BCHTW Đảng khóa XII và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ,  
các địa phương đang tiến hành rà soát quy hoạch đô thị nông thôn  
mới. Đến 31/12/2020, theo báo cáo của 61/63 tỉnh, có 2.570 xã/  
8.209 xã đã lập quy hoạch đô thị. Những thành tựu trong quy  
hoạch đô thị nêu trên là kết quả của việc đổi mới công tác quy  
hoạch đô thị, linh hoạt trong việc xác định mục tiêu, định hướng,  
chú ý nhiều hơn đến yếu tố thị trường để cập nhật phục vụ việc lập  
quy hoạch, bổ sung và điều chỉnh quy hoạch kịp thời. Vì vậy, nhiều  
quy hoạch đô thị đã bám sát với tình hình thực tế, đáp ứng được  
yêu cầu phát triển trong tình hình mới; đồng thời cũng là căn cứ để  
xây dựng các kế hoạch dài hạn, năm năm, hàng năm. Tuy nhiên,  
công tác quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị trong những năm  
qua cũng còn không ít những tồn tại, hạn chế như:  
2.3. Những thành tựu và hạn chế của quản lý nhà nước về  
quy hoạch đô thị ở Việt Nam hiện nay:  
- Chất lượng công tác quy hoạch chưa cao, thiếu tầm nhìn xa, tính  
khả thi thấp, ít phù hợp với khả năng huy động các nguồn lực để thực  
hiện. Nhiều đồ án quy hoạch còn mang tính tình thế, gây lãng phí tài  
nguyên. Nhiều đồ án quy hoạch có chất lượng dự báo thấp nên phải  
điều chỉnh trước thời hạn; một số đồ án thiếu cập nhật các quy hoạch  
định hướng hạ tầng diện rộng của vùng, của quốc gia nên khi triển  
khai gặp vướng mắc phải điều chỉnh. Với 30 khu kinh tế cửa khẩu đã  
đầu tư xây dựng và đi vào hoạt động, một số hoạt động không hiệu  
quả, như Khu kinh tế cửa khẩu Bờ Y (Gia Lai) đã đưa vào hoạt động,  
nhưng mỗi ngày chỉ phục vụ từ 150 đến 220 khách xuất nhập cảnh.  
Khu Kinh tế mở Chu Lai (Quảng Nam) theo quy hoạch đô thị đã được  
Nhà nước đầu tư xây dựng hạ tầng từ hơn gần 30 năm trước, có sân  
bay, cảng biển... nhưng khai thác không hiệu quả, lãng phí một lượng  
vốn lớn. Theo báo cáo của cơ quan quản lý Cảng Kỳ Hà (là một cảng  
nước sâu) thuộc khu kinh tế mở này thì hiện Cảng chỉ hoạt động với  
khoảng 3,5% khả năng của nó. Về thủy điện, chỉ riêng lưu vực sông  
Đồng Nai đã có 23 dự án thủy điện, với tổng công suất 2.792 MW nằm  
trên 3 sông chính: sông Đồng Nai, La Ngà và sông Bé. Tuy nhiên, một  
khảo sát mới đây đối với các nhà máy thủy điện trên sông Đồng Nai  
cho thấy, hàng loạt thủy điện phải ngưng hoạt động do thiếu nước,  
tính toán không phù hợp.  
Hiện nay, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội và quy  
hoạch ngành được triển khai theo quy định của Luật Quy hoạch đô thị  
số 38/2009/QH12 ngày 17/06/2009, Luật Xây dựng số 50/2014/QH13,  
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng số  
62/2020/QH14 ngày 17/6/2020, Luật Quy hoạch số 21/2017/QH14  
ngày 24/11/2017, Nghị định số 37/2019/NĐ-CP ngày 07/5/2019 của  
Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quy hoạch,  
các Nghị định hướng dẫn thực hiện các luật liên quan đến công tác  
quy hoạch, công tác lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch  
đô thị; các Nghị định về công tác quản lý không gian, kiến trúc, cảnh  
quan đô thị và các Thông tư của Bộ Xây dựng hướng dẫn chi tiết một  
số nội dung của các Nghị định này.  
Quy hoạch kinh tế - xã hội của các vùng lãnh thổ và quy hoạch  
tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của 63 tỉnh thành trong cả nước  
đến nay đã hoàn thành về cơ bản. Quy hoạch phát triển các khu  
công nghiệp ở Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm  
2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số  
1107/QĐ-TTg ngày 21/8/2006 đã bổ sung 115 khu công nghiệp dự  
kiến ưu tiên thành lập mới đến năm 2015 và 27 KCN dự kiến mở  
rộng; mục tiêu đưa tỷ lệ đóng góp của các khu công nghiệp vào  
tổng giá trị sản xuất công nghiệp từ trên 24% năm 2006 lên 39-40%  
vào năm 2010 và tới trên 60% vào giai đoạn tiếp theo; nâng tổng  
diện tích các khu công nghiệp đến năm 2010 lên 45.000 ha -  
50.000 ha, năm 2015 lên 65.000 ha - 70.000 ha; phấn đấu đạt tỷ lệ  
lấp đầy các khu công nghiệp bình quân trên toàn quốc trên 60%.  
Tính đến 31/12/2020, cả nước đã quy hoạch và triển khai đầu tư  
- Các quy hoạch phát triển đô thị, hạ tầng xã hội, khu dân cư ở  
các tỉnh, thành phố thiếu đồng bộ, triển khai không đúng tiến độ,  
không theo kịp tốc độ đô thị hóa. Hiện vẫn còn xảy ra tình trạng  
không phù hợp giữa quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết,  
nhiều quy hoạch chi tiết triển khai trước khi có quy hoạch tổng thể  
hoặc không căn cứ vào quy hoạch tổng thể, dẫn đến phải điều  
chỉnh, thậm chí phải thay đổi.  
05.2021  
65  
ISSN 2734-9888  
N G H I Ê N C Ứ U K H O A H Ọ C  
- Công tác chọn tổ chức tư vấn lập quy hoạch đô thị không chú  
trọng đến đấu thầu, tuyển chọn. Đội ngũ cán bộ quy hoạch từ  
Trung ương đến địa phương còn thiếu về số lượng, yếu về chất  
lượng. Công tác đào tạo cán bộ quy hoạch chưa được chú trọng.  
- Công tác lập và thực hiện các quy hoạch chuyên ngành trên  
cùng một địa bàn còn thiếu đồng bộ, dẫn đến các dự án đầu tư xây  
dựng chuyên ngành không có sự đồng bộ, gây lãng phí tiền của,  
công sức. Nhiều dự án hạ ngầm đường dây đi nổi ở một số đô thị  
lớn cũng cho thấy sự thiếu đồng bộ và cung cách làm thiếu tính  
chuyên nghiệp.  
- Việc công bố, công khai và cung cấp thông tin quy hoạch đô thị  
chưa được thực hiện nghiêm túc theo Luật Xây dựng và Luật quy  
hoạch đô thị. Thiếu vắng sự tham gia của cộng đồng dân cư trong quá  
trình lập quy hoạch, nếu có cũng chỉ mang tính hình thức.  
- Kinh phí phục vụ cho công tác xây dựng quy hoạch chưa  
được cân đối, không đủ khả năng thuê tư vấn có trình độ cao trong  
nước hoặc tư vấn quốc tế.  
tính dân chủ, công khai, minh bạch trong quản lý nhà nước vừa là  
điều kiện để quảng bá, giới thiệu quy hoạch thu hút đầu tư để dân  
biết, dân làm, dân kiểm tra giám sát thực hiện quy hoạch.  
- Kiến nghị bổ sung các điều khoản trong văn bản pháp quy về  
quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị, quy định rõ các đối tượng cần  
thiết, các cơ quan quản lý chuyên ngành, như cơ quan quản lý, sử  
dụng các công trình ngầm, hệ thống cấp/ thoát nước, quy hoạch xử lý  
nước thải, quy hoạch thu gom và xử lý chất thải rắn, cấp điện, thông  
tin liên lạc... mà cơ quan, tổ chức lập quy hoạch bắt buộc phải lấy ý  
kiến đối với từng loại quy hoạch đô thị cụ thể nhằm tạo sự phối hợp,  
thống nhất và hợp lý, có tính khả thi giữa quy hoạch đô thị với quy  
hoạch chuyên ngành và các dự án ĐTXD chuyên ngành sau này.  
- Thi tuyển, tuyển chọn về ý tưởng quy hoạch để lựa chọn tổ chức  
tư vấn lập quy hoạch đô thị đối với quy hoạch chung các đô thị có  
quy mô lớn, có tính đặc thù; quy hoạch phân khu; quy hoạch chi  
tiết các khu vực có ý nghĩa quan trọng trong đô thị đã được nêu  
trong Nghị định số 37/2010/NĐ-CP ngày 07/4/2010 của Chính phủ  
“về lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch đô thị” nhưng  
phải nêu rõ tài liệu cần thiết tối thiểu mà cơ quan/ tổ chức lập quy  
hoạch phải cung cấp cho tổ chức tư vấn tham gia thi tuyển, tuyển  
chọn để rút ngắn thời gian của tổ chức tư vấn trong việc điều tra,  
khảo sát… Kiến nghị bổ sung một điều về nội dung này.  
- Công tác quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị và quản lý  
đầu tư theo quy hoạch đô thị còn yếu, nhất là tình trạng nhiều dự  
án không tuân theo quy hoạch đô thị vì lợi ích cục bộ. Nhiều nơi  
còn buông lỏng công tác kiểm tra, thanh tra thực hiện theo quy  
hoạch đã duyệt.  
- Cùng với các điều kiện đối với tổ chức, cá nhân thiết kế quy hoạch  
đô thị đã được quy định cụ thể tại Luật Xây dựng, Luậtquy hoạch đô thị  
và Nghị định số 37/2010/NĐ-CP, cần bổ sung quy định về tiêu chí lựa  
chọn, hướng dẫn xét tuyển cán bộ công chức làm chức trách thẩm định  
nhiệm vụ quy hoạch và thẩm định đồ án quy hoạch, khắc phục tình  
trạng bố trí cán bộ không hiểu biết chuyên môn về quy hoạch và xây  
dựng, dẫn đến việc xem xét, thẩm định, đánh giá chất lượng, kết luận về  
chất lượng của đồ án quy hoạch do người (hay cơ quan) thẩm định quy  
hoạch đưa ra không có tính thuyết phục. Đề nghị bổ sung vào Nghị định  
số 37/2010/NĐ-CP các quy định cụ thể về việc bắt buộc phải thẩm định  
đối với nhiệm vụ và đồ án quy hoạch của quy hoạch đô thị vùng, quy  
hoạch chung xây dựng và quy hoạch chi tiết xây dựng; bổ sung quy định  
yêu cầu năng lực chuyên môn tối thiểu đối với công chức thẩm định  
tương ứng với từng loại hồ sơ quy hoạch (Các địa phương vùng sâu,  
vùng xa thiếu cán bộ có thể cho phép một lộ trình phù hợp); bổ sung  
quy định về việc các bộ quản lý xây dựng chuyên ngành phối hợp cùng  
Bộ Xây dựng thiết lập chương trình khung đào tạo để bồi dưỡng, đào  
tạo ngắn hạn chuyên môn và nghiệp vụ cho những công chức thẩm  
định quy hoạch và quản lý quy hoạch các cấp phù hợp với nội dung  
nhiệm vụ họ phải thực hiện trước khi trao nhiệm vụ cho họ.  
3. Đề xuất giải pháp và kiến nghị hoàn thiện quản lý nhà  
nước về quy hoạch đô thị ở Việt Nam:  
- Công tác quy hoạch phải đi trước, việc lập quy hoạch phải là  
một nhiệm vụ được ưu tiên thực hiện trong chương trình phát  
triển kinh tế - xã hội cũng như trong nhiệm vụ kế hoạch hàng năm  
của ngành, các cấp chính quyền và của địa phương.  
- Chú trọng về chất lượng quy hoạch trong tất cả các khâu, từ điều  
tra, khảo sát, lập nhiệm vụ quy hoạch, thẩm định phê duyệt nhiệm vụ  
quy hoạch; lập đồ án quy hoạch, thẩm định và phê duyệt đồ án quy  
hoạch. Tùy theo đối tượng và giai đoạn quy hoạch, quản lý nhà nước  
về quy hoạch đô thị cần được thực hiện đầy đủ trong các nội dung  
khảo sát, đánh giá hiện trạng và điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội,  
nhu cầu của thị trường, các động lực phát triển; định hướng phát triển  
không gian và các công trình hạ tầng kỹ thuật; xác định các công trình  
cần đầu tư xây dựng, các công trình cần chỉnh trang, cải tạo, bảo tồn,  
tôn tạo... trong khu vực quy hoạch; dự kiến những hạng mục ưu tiên  
phát triển và nguồn lực thực hiện. Những nội dung này phải bảo đảm  
độ tin cậy, phân tích và đánh giá một cách khoa học, thực tiễn, bảo  
đảm hiệu quả và tính bền vững.  
- Chú trọng tính đồng bộ trong việc lập quy hoạch và thực hiện quy  
hoạch giữa quy hoạch đô thị với các quy hoạch chuyên ngành trên  
cùng một địa bàn. Cơ quan, tổ chức lập quy hoạch đô thị chủ trì, phối  
hợp với Ủy ban nhân dân có liên quan và tổ chức tư vấn lập quy hoạch  
có trách nhiệm lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, cộng đồng  
dân cư có liên quan theo đúng quy định của Luật quy hoạch đô thị;  
chú trọng việc lấy ý kiến của các cơ quan, đơn vị liên quan đến quản lý  
và sử dụng các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị.  
- Ưu tiên bố trí vốn đáp ứng yêu cầu của công tác quy hoạch, bảo  
đảm các khâu lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch được triển khai  
thực hiện và hoàn thành theo tiến độ. Quy hoạch đô thị các khu vực có  
địa hình, vị trí, cảnh quan môi trường đặc biệt, có giá trị thu hút đầu tư...  
cần chú trọng công tác đấu thầu, tuyển chọn tư vấn có trình độ cao.  
- Tuyển chọn và kết hợp tăng cường đào tạo cán bộ, công chức  
làm nhiệm vụ quy hoạch đô thị có chuyên môn để đáp ứng yêu cầu  
của công việc.  
- Thực hiện việc công bố, công khai, cung cấp thông tin quy hoạch  
đô thị và lấy ý kiến tham gia của cộng đồng dân cư trong quá trình  
lập quy hoạch đô thị theo quy định của Luật Quy hoạch đô thị.  
Việc công bố, công khai quy hoạch đã được duyệt vừa thể hiện  
Kết luận:  
Hoàn thiện quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị là vấn đề  
thời sự hiện nay. Nghiên cứu kinh nghiệm của các nước, đánh giá  
khách quan thực trạng quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị cùng  
các nhân tố ảnh hưởng đến công tác này ở Việt Nam là cơ sở để đề  
xuất các giải pháp và kiến nghị hoàn thiện quản lý nhà nước về  
quy hoạch đô thị ở Việt Nam. Những nghiên cứu trên đây được hi  
vọng là những gợi ý, tham khảo tốt cho công tác quản lý nhà nước  
về quy hoạch đô thị ở Việt Nam trong thời gian tới đây.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO:  
1. Nguyễn ThếBá, Quy hoạch xây dựng - Phát triển đô thị, Nhà xuất bản Xây dựng, H. 2004.  
2. Chitkara, K. K, Construction Project Management, New Delhi: Tata McGraw-Hill  
Education, p.4, 1998, ISBN 9780074620625.  
3. Nghiêm Văn Dĩnh, Quản lý đô thị, Nhà xuất bản Giao thông vận tải, H. 2008.  
4. Trần Trọng Hanh, Quy hoạch đô thị ở châu Á, Nhà xuất bản Xây dựng, H. 2017.  
5. Nguyễn Đăng Sơn, Phương pháp tiếp cận mới về quy hoạch và quản lý đô thị, Nhà  
xuất bản Xây dựng, H. 2005.  
6. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, luật quy hoạch đô thị  
66  
05.2021  
ISSN 2734-9888  
pdf 5 trang Thùy Anh 19660 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hoàn thiện quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị hiện nay ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhoan_thien_quan_ly_nha_nuoc_ve_quy_hoach_do_thi_hien_nay_o_v.pdf