Tăng cường trách nhiệm giải trình trong thực thi công vụ nhằm phòng ngừa tham nhũng

THÔNG TIN CHUYÊN ĐỀ SỐ 1/2021  
TĂNG CƯỜNG TRÁCH NHIỆM  
GIẢI TRÌNH TRONG THỰC THI CÔNG VỤ  
NHẰM PHÒNG NGỪA THAM NHŨNG  
TS NGUYỄN QUỐC HIỆP  
Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương  
Dân chủ, hiện đại, minh bạch, trách nhiệm giải trình và liêm chính  
luôn là những giá trị cơ bản của các nền công vụ phát triển trên thế giới.  
Quá trình thiết lập các giá trị này luôn vấp phải một thử thách lớn đó là  
vấn nạn tham nhũng. Vì vậy, việc thiết lập các giá trị này luôn được coi là  
ưu tiên hàng đầu và coi trách nhiệm giải trình như một trong những giải  
pháp quan trọng để phòng ngừa tham nhũng ở nước ta hiện nay.  
Trách nhiệm giải trình trong thực thi công vụ  
Trách nhiệm giải trình trong thực thi công vụ là việc cơ quan hành chính  
nhà nước và cán bộ, công chức, người có thẩm quyền làm việc trong cơ quan hành  
chính nhà nước chủ động hoặc theo yêu cầu thực hiện cung cấp thông tin đầy đủ,  
chính xác, kịp thời về quyền, nghĩa vụ, quá trình thực hiện chức trách, nhiệm vụ  
được giao và chịu trách nhiệm đối với kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ đó  
trước người dân, xã hội và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Trách nhiệm  
giải trình trong thực thi công vụ cần được thực thi bởi các yêu cầu cấp bách của  
cuộc sống.  
Thứ nhất, nhân dân được xem là chủ thể của quyền lực nhà nước, bộ máy  
nhà nước được nhân dân ủy quyền, được phân cấp và phân quyền thực hiện các  
quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp theo ý chí của nhân dân; nhà nước và bộ máy  
174  
THÔNG TIN CHUYÊN ĐỀ SỐ 1/2021  
nhà nước là người đại diện ở những cấp độ khác nhau, chịu trách nhiệm trước toàn  
thể nhân dân. Do đó, nguyên tắc chịu trách nhiệm trong quan hệ đại diện cần phải  
được xác lập trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước. Đó là lý do  
đầu tiên giải thích vì sao phải thực hiện trách nhiệm giải trình.  
Thứ hai, phát triển kinh tế cần tới một nhà nước hoạt động hiệu quả, minh  
bạch, liêm chính và trách nhiệm. Do đó, việc thiết lập trách nhiệm giải trình của cán  
bộ, công chức và bộ máy công vụ vừa là điều kiện, vừa là sự bảo đảm cho các chính  
sách kinh tế - xã hội được thực thi. Thiếu điều kiện đó, khó có thể tạo dựng được môi  
trường kinh doanh cạnh tranh lành mạnh, hỗ trợ người dân trong nước khởi nghiệp,  
thu hút các dòng vốn đầu tư nước ngoài. Trong bối cảnh đó, trách nhiệm giải trình  
xuất hiện và ngày càng được thảo luận rộng rãi về chức năng của nhà nước, nhằm  
xây dựng một nhà nước tinh gọn và can thiệp hiệu quả khi cần thiết.  
Nhiều chức năng của nhà nước đã và đang được chuyển dần sang cho khu  
vực kinh tế thị trường và xã hội; theo đó, từ một nhà nước đặt trọng tâm vào cai  
trị và kiểm soát, có thiên hướng chuyển đổi thành nhà nước tổ chức, kiến tạo, thúc  
đẩy tăng trưởng và phân bổ phúc lợi một cách hài hòa.  
Thứ ba, xuất phát từ chính yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng, chống tham  
nhũng. Trên bình diện quốc tế, trách nhiệm giải trình có nhiều ý nghĩa to lớn trong  
lĩnh vực phòng ngừa tham nhũng. Nhiều nước trên thế giới coi đây là một trong  
những giải pháp chủ yếu để phòng, chống tham nhũng hiệu quả. Đấu tranh chống  
tham nhũng là cuộc đấu tranh đầy khó khăn và thách thức đối với mọi quốc gia  
trên thế giới. Tham nhũng để lại những hậu quả nặng nề không thể phủ nhận.  
Nhiều biện pháp đấu tranh phòng ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng đã được  
tổng kết từ thực tiễn và được nghiên cứu, áp dụng. Theo kết quả nghiên cứu được  
cộng đồng quốc tế công nhận, tham nhũng được hình thành theo công thức: Tham  
nhũng = độc quyền + bưng bít thông tin - trách nhiệm giải trình. Như vậy, giảm  
độc quyền, bưng bít thông tin và tăng trách nhiệm giải trình chính là chìa khóa để  
phòng ngừa tham nhũng đạt hiệu quả.  
175  
THÔNG TIN CHUYÊN ĐỀ SỐ 1/2021  
Trách nhiệm giải trình được phân loại:  
- Trách nhiệm giải trình nội bộ của cá nhân/tổ chức đối với cấp trên trong hệ  
thống hành chính công (trách nhiệm giải trình hướng lên trên, còn gọi là trách nhiệm  
giải trình theo chiều dọc) và trách nhiệm giải trình hướng ra bên ngoài (còn gọi là  
trách nhiệm giải trình theo chiều ngang, với các bên liên quan, trong và ngoài hệ  
thống hành chính công, ví dụ, với các cơ quan có chức năng thanh tra công vụ,  
kiểm toán, với các cơ quan giám sát của cơ quan dân cử và giám sát xã hội).  
- Phổ quát nhất, có thể xem xét trách nhiệm giải trình từ 3 góc độ: Trách  
nhiệm giải trình về chính trị, trách nhiệm giải trình về hành chính công, và trách  
nhiệm giải trình với xã hội(1). Tương ứng với mỗi góc độ này sẽ là các nội dung,  
hình thức, yêu cầu và hình thức xử lý trách nhiệm khác nhau.  
Trách nhiệm giải trình về chính trị là sự tuân thủ đường lối và các chính  
sách của chính phủ hoặc đảng cầm quyền. Các cơ chế đánh giá trách nhiệm giải  
trình về chính trị được thiết lập qua giám sát nội bộ, giám sát theo hàng ngang,  
giám sát của cơ quan dân cử. Hậu quả hoặc chế tài là sự ủng hộ hoặc phản đối về  
chính trị, cụ thể là quan chức hành pháp và công chức không giữ chức vụ trong  
nền hành pháp công vụ, nếu không tuân thủ chính sách của chính phủ, có thể vi  
phạm đạo đức công chức, được đánh giá thấp hoặc bị phản đối về chính trị, không  
có cơ hội thăng tiến, có thể dẫn tới từ chức, thậm chí có nguy cơ bị sa thải.  
Trách nhiệm giải trình về hành chính công nhấn mạnh tới mức độ tuân thủ  
chuẩn mực và quy trình trong nội bộ nền hành chính. Trách nhiệm giải trình về  
mặt này đôi khi được phân loại thành trách nhiệm theo hàng dọc (giữa cá nhân, tổ  
chức cấp dưới với cấp trên) và hàng ngang (giữa cá nhân, tổ chức với các cá nhân,  
tổ chức khác có chức năng thanh tra, giám sát), trách nhiệm hành chính (thăng,  
giáng chức vụ, kỷ luật, di chuyển nhiệm sở) hoặc trách nhiệm pháp lý khác (kỷ  
luật, buộc thôi việc, bồi thường thiệt hại, thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự).  
Để bảo đảm thực hiện trách nhiệm giải trình về hành chính công, thường thực  
hiện cơ chế nội bộ, bao gồm kiểm tra và giám sát với các công cụ như thanh tra  
176  
THÔNG TIN CHUYÊN ĐỀ SỐ 1/2021  
công vụ, kiểm tra, kiểm toán, giám sát tuân thủ. Qua kiểm tra, giám sát, nếu phát  
hiện thấy không chấp hành, không tuân thủ, công chức phải chịu trách nhiệm kỷ  
luật hành chính, như bị hạ cấp, giảm bậc lương, thậm chí bị sa thải. Nếu tuân thủ  
tốt thì được khuyến khích thông qua các cơ chế khen thưởng. Hậu quả hoặc chế  
tài của việc vi phạm trách nhiệm giải trình về hành chính có thể dẫn tới việc xem  
lại hành vi hành chính, bồi thường nhà nước, thậm chí dẫn tới kỷ luật hành chính,  
truy cứu trách nhiệm hình sự đối với công chức có hành vi vi phạm nghiêm trọng  
chuẩn mực hành chính.  
Trách nhiệm giải trình với xã hội có thể bao gồm trách nhiệm giải trình chủ  
động và giải trình theo yêu cầu của người dân, được thực hiện bằng nhiều cơ chế,  
như tham vấn người dân và dư luận xã hội trước khi quyết định các chính sách và  
hành vi hành chính, hoặc lắng nghe ý kiến của người dân trong giải quyết khiếu  
nại, tố cáo sau khi quyết định hành chính đã hoặc đang được thực thi. Công chức  
và đơn vị hành chính phải chịu trách nhiệm về các kết quả đầu ra trước người dân,  
báo chí và dư luận xã hội nói chung. Cơ chế thực hiện là các kênh tham gia của  
người dân trước và sau khi hành vi hành chính (hoặc quyết định hành chính) được  
tiến hành, sự tham gia của báo chí và sức ép của xã hội. Kết quả, hậu quả hay chế  
tài thường là sự xem xét lại hành vi hành chính (hoặc quyết định hành chính),  
chấp nhận sự tham gia của người dân, nếu xét thấy cần thiết là sửa đổi, bổ sung  
hay hủy bỏ hành vi hành chính hoặc quyết định hành chính.  
Thực trạng thực hiện trách nhiệm giải trình trong thực thi công vụ  
nhằm phòng ngừa tham nhũng  
Pháp luật của Việt Nam hiện nay có nhiều quy định làm cơ sở cho việc thực  
hiện trách nhiệm giải trình nhằm phòng ngừa tham nhũng. Tuy không gọi là trách  
nhiệm giải trình, nhưng các quy định thể hiện trách nhiệm giải trình của cơ quan  
hành chính đã có trong khá nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Đó là quy định về  
trách nhiệm giải trình của cơ quan hành chính trước cơ quan dân cử trong Hiến  
pháp năm 2013, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân,  
177  
THÔNG TIN CHUYÊN ĐỀ SỐ 1/2021  
Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015; về giải trình của cơ quan hành  
chính thông qua chế độ báo cáo công tác, công khai, minh bạch trong hoạt động  
tại Luật Cán bộ, công chức, Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thanh tra... Các  
quy định này ràng buộc cơ quan hành chính, cán bộ, công chức trong quá trình  
thực thi công vụ phải có trách nhiệm giải thích, cung cấp thông tin, chịu trách  
nhiệm chính trị hoặc pháp lý về việc thực hiện nhiệm vụ được giao thông qua  
nhiều hình thức khác nhau như báo cáo, trả lời chất vấn trước Quốc hội, hội đồng  
nhân dân các cấp, giải trình với cấp trên, chủ động công khai, minh bạch thông  
tin, quá trình và kết quả giải quyết công vụ.  
Hiến pháp năm 2013 quy định: “Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ,...  
thực hiện chế độ báo cáo trước Nhân dân về những vấn đề quan trọng thuộc trách  
nhiệm quản lý” (Điều 99); “Thực hiện chế độ báo cáo trước Nhân dân thông qua  
các phương tiện thông tin đại chúng về những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền  
giải quyết của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ” (Khoản 6, Điều 98); “Ủy ban  
nhân dân thực hiện chế độ thông báo tình hình của địa phương cho Mặt trận Tổ  
quốc và các đoàn thể nhân dân, lắng nghe ý kiến, kiến nghị của các tổ chức này  
về xây dựng chính quyền và phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương” (Khoản 1,  
Điều 116). Ngoài việc chủ động giải thích, cung cấp thông tin cho người dân, cơ  
quan hành chính, cán bộ, công chức còn phải có trách nhiệm giải trình theo yều  
cầu của người dân. Theo đó, Chính phủ ban hành Nghị định số 90/2013/NĐ-CP,  
ngày 8-8-2013, về “Quy định trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước  
trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao”. Luật Phòng, chống tham  
nhũng năm 2018 quy định tại Điều 15: “Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có trách  
nhiệm giải trình về quyết định, hành vi của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ,  
công vụ được giao khi có yêu cầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân bị tác  
động trực tiếp bởi quyết định, hành vi đó”. Theo đó, yêu cầu cơ quan nhà nước,  
cán bộ, công chức cung cấp, giải thích, làm rõ các thông tin về thực hiện nhiệm  
vụ, quyền hạn được giao và trách nhiệm của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ,  
quyền hạn đó khi có yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trực tiếp  
178  
THÔNG TIN CHUYÊN ĐỀ SỐ 1/2021  
đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân có yêu cầu giải trình. Yêu cầu  
giải trình được thực hiện bằng văn bản hoặc trực tiếp tại cơ quan nhà nước có  
trách nhiệm giải trình. Cơ quan nhà nước có trách nhiệm tiếp nhận, nghiên cứu,  
xác minh, ban hành văn bản giải trình và gửi văn bản giải trình đến người yêu cầu  
giải trình. Năm 2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 09/2017/NĐ-CP, ngày 9-  
2-2017, về “Quy định chi tiết việc phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí  
của các cơ quan hành chính nhà nước”, trong đó, quy định người phát ngôn hoặc  
người được ủy quyền phát ngôn có trách nhiệm phát ngôn và cung cấp thông tin  
kịp thời, chính xác cho báo chí trong các trường hợp đột xuất, bất thường khi xảy  
ra các sự kiện, vấn đề quan trọng có tác động lớn trong xã hội, hoặc khi dư luận  
xuất hiện nhiều ý kiến không thống nhất về một vấn đề thuộc phạm vi quản lý của  
cơ quan hành chính nhà nước thì người phát ngôn hoặc người được ủy quyền phát  
ngôn phải thực hiện phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí để cảnh báo kịp  
thời và định hướng dư luận. Trường hợp xảy ra vụ việc cần có ngay thông tin ban  
đầu của cơ quan hành chính nhà nước thì người phát ngôn hoặc người được ủy  
quyền phát ngôn có trách nhiệm chủ động phát ngôn, cung cấp thông tin cho báo  
chí trong thời gian chậm nhất là 24 giờ, kể từ khi vụ việc xảy ra. Như vậy, Nhà  
nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật làm căn cứ cho việc thực  
hiện trách nhiệm giải trình trong thực thi công vụ.  
Thời gian vừa qua, việc thực hiện trách nhiệm giải trình bước đầu có kết  
quả đáng khích lệ. Hoạt động báo cáo, chất vấn trước Quốc hội, hội đồng nhân  
dân được truyền tải trực tiếp trên các phương tiện truyền thông, hoặc được thông  
tin, thông báo tại các cuộc họp báo. Hoạt động này ngày càng đi vào thực chất  
hơn, nhận được sự quan tâm của dư luận. Việc công khai, minh bạch trong hoạt  
động được triển khai thực hiện ở tất cả các cơ quan, tổ chức, đơn vị theo từng nội  
dung tương ứng. Theo đánh giá của Thanh tra Chính phủ, đây cũng chính là một  
trong những biện pháp phòng ngừa tham nhũng có hiệu quả trong giai đoạn vừa  
qua. Các cơ quan chủ động công khai các văn bản, thông tin về các chính sách,  
cung cấp, giải thích thông tin, giải trình về một số vấn đề gây bức xúc trong dư  
179  
THÔNG TIN CHUYÊN ĐỀ SỐ 1/2021  
luận hoặc được dư luận quan tâm. Một số kênh tương tác mới giữa chính quyền  
và người dân được thiết lập qua các chuyên trang điện tử, đường dây nóng,  
fanpage facebook... Qua đó, người dân có điều kiện để giám sát hoạt động của các  
cơ quan nhà nước, lên tiếng để tạo áp lực làm rõ và xử lý những vi phạm nếu có.  
Tuy nhiên, nhìn chung, công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình vẫn  
chưa được thiết lập ở mức độ cao. Chỉ số quản trị toàn cầu (WGI) qua đánh giá  
của Ngân hàng Thế giới đối với hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ qua các năm  
cũng ghi nhận, trách nhiệm giải trình của Việt Nam còn thấp và ít được cải thiện  
(7,7% năm 2006; 8,5% năm 2011; 10,3% năm 2016; 9,4% năm 2018, trên thang  
tối đa là 100%)(2). Theo đánh giá Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp  
tỉnh ở Việt Nam (PAPI), tổng hợp chỉ số về công khai, minh bạch trong hoạch  
định chính sách qua các năm không có sự cải thiện đáng kể, đột phá nào (năm  
2016: 5,55 điểm; năm 2018: 5,19 điểm; năm 2019: 5,28 điểm); tổng hợp chỉ số về  
trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước cũng ở tình trạng tương tự (năm  
2011: 5,08; năm 2015: 5,04; năm 2018: 4,89 điểm; năm 2019: 4,87 điểm, trên  
thang điểm 10). Việc thực hiện trách nhiệm giải trình còn mang tính hình thức,  
thể hiện cụ thể qua việc trả lời chất vấn của đại biểu cơ quan hành chính trước cơ  
quan dân cử và trước cơ quan báo chí nhiều khi còn chung chung, không đi trực  
tiếp vào vấn đề được hỏi, né tránh trách nhiệm. Trách nhiệm giải trình trong nội  
bộ liên quan đến nhiều vấn đề, như công tác tổ chức cán bộ, sử dụng ngân sách,...  
chưa được thực hiện nghiêm, là kẽ hở cho các hành vi tham nhũng xảy ra. Các  
báo cáo công tác mang tính hình thức, chưa đánh giá đúng kết quả công tác, tinh  
thần chịu trách nhiệm về kết quả thực thi công vụ không cao, khó quy trách nhiệm  
cho từng cá nhân. Các hình thức để cán bộ, công chức chịu trách nhiệm khi không  
thực hiện đúng trách nhiệm chưa được áp dụng nghiêm túc. Việc lấy phiếu tín  
nhiệm đối với các chức danh trong Chính phủ mới được áp dụng và chưa đi vào  
thực chất, còn nể nang, mang tính hình thức; việc lấy phiếu tín nhiệm đối với các  
chức danh trong ủy ban nhân dân cũng tương tự. Hệ quả của việc lấy phiếu tín  
nhiệm cũng không tạo ra ràng buộc trách nhiệm cao đối với các chức danh này so  
180  
THÔNG TIN CHUYÊN ĐỀ SỐ 1/2021  
với việc bỏ phiếu tín nhiệm, nhưng cho đến nay việc bỏ phiếu tín nhiệm vẫn chưa  
được thực hiện.  
Nghị định số 90/2013/NĐ-CP quy định về trách nhiệm giải trình được ban  
hành khá lâu, nhưng cho đến nay các quy định này gần như vẫn chưa được thực  
hiện có hiệu quả. Thực tế, hầu như không có yêu cầu giải trình nào được thực hiện  
theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Nghị định này. Việc cung cấp thông tin  
qua phương tiện thông tin đại chúng, các cuộc họp báo nhiều khi còn thiếu chủ  
động, kịp thời; nội dung thông tin sơ sài, nhiều câu hỏi còn chưa được trả lời thỏa  
đáng. Việc cung cấp thông tin cho báo chí theo quy định của Nghị định số  
09/2017/NĐ-CP chưa được thực hiện tốt. Một số cuộc họp báo để giải trình về  
những vấn đề gây bức xúc trong dư luận còn tổ chức thiếu kịp thời, gây phản ứng  
trái chiều, gay gắt trong dư luận, tác động tiêu cực tới công tác quản lý và uy tín  
của cơ quan nhà nước.  
Những hạn chế nói trên do nhiều nguyên nhân, trong đó có một số nguyên  
nhân chủ yếu sau:  
Một là, nhận thức và cách tiếp cận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo và cán bộ,  
công chức về trách nhiệm giải trình còn chưa đầy đủ, chưa thấy hết được tầm quan  
trọng và nội dung của trách nhiệm giải trình. Cán bộ, công chức còn e ngại việc  
thực hiện trách nhiệm giải trình vì sợ bị giám sát, sợ bị mất lợi thế, lợi ích có được  
từ việc bưng bít thông tin, sợ bị phát hiện những sai sót, tiêu cực trong quá trình  
thực hiện công vụ của mình và phải chịu trách nhiệm về nó, muốn dựa dẫm và đổ  
lỗi cho tập thể. Người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước chưa quan tâm,  
chưa gương mẫu trong việc thực hiện và quán triệt thực hiện trách nhiệm giải trình  
đến cán bộ, công chức.  
Hai là, hệ thống các quy định về trách nhiệm giải trình còn thiếu chặt chẽ,  
nhiều quy định còn mang nặng tính hình thức, khó triển khai hiệu quả trên thực  
tế. Các văn bản còn thiếu chế tài bảo đảm để các quy định liên quan đến trách  
nhiệm giải trình của cơ quan hành chính được thực hiện một cách nghiêm túc. Sự  
181  
THÔNG TIN CHUYÊN ĐỀ SỐ 1/2021  
phân công nhiệm vụ giữa các cơ quan, cán bộ, công chức không rõ ràng, dẫn tới  
việc khó quy kết trách nhiệm, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm. Trước hết, chức  
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan trong bộ máy nhà nước chưa được  
minh định rõ, còn chồng chéo, một nhiệm vụ do nhiều cơ quan đảm nhiệm, dẫn  
tới việc không xác định được ai, cơ quan nào chịu trách nhiệm chính. Tiếp đó là  
trong từng cơ quan, tổ chức, đơn vị, sự phân công đối với từng vị trí chưa rõ ràng.  
Chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của từng vị trí còn chung chung, một người tham  
gia vào nhiều việc nhưng không xác định được nhiệm vụ nào là chính, có thuộc  
phạm vi trách nhiệm của mình hay không, hoặc một công việc có thể có nhiều  
người tham gia nhưng phân công trách nhiệm thiếu cụ thể cho từng người. Điều  
này dẫn tới khi có hậu quả xảy ra không xác định được trách nhiệm thuộc về ai,  
ai chịu trách nhiệm chính và mức độ xử lý thế nào cho phù hợp.  
Ba là, công tác truyền thông về trách nhiệm giải trình chưa tốt nên người  
dân chưa biết đến hoặc chưa hiểu rõ về quyền yêu cầu giải trình của mình để  
thực hiện. Nhận thức và sự giám sát của các cấp ủy, tổ chức đảng đối với việc  
thực hiện trách nhiệm giải trình chưa đầy đủ. Quá trình thanh tra, kiểm tra trách  
nhiệm của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức chưa chú trọng đến nội dung  
thực hiện trách nhiệm giải trình nhằm phòng ngừa tham nhũng. Việc xử lý một  
số sai phạm được chỉ ra liên quan đến việc thực hiện công khai, minh bạch, trách  
nhiệm giải trình chưa được chú trọng và bảo đảm tính nghiêm khắc, một phần  
do còn thiếu quy định về chế tài xử lý, một phần do nhận thức về tính nghiêm  
trọng của các sai phạm này còn chưa đầy đủ, coi đó là sai phạm nhẹ nên có phần  
nể nang, bỏ qua.  
Một số giải pháp nhằm tăng cường trách nhiệm giải trình  
Phát huy những kết quả đã đạt được, khắc phục những hạn chế, yếu kém để  
tăng cường trách nhiệm giải trình trong thực thi công vụ nhằm phòng ngừa tham  
nhũng trong thời gian tới, cần chú trọng thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau:  
Trước hết, cần tiếp cận khái niệm “trách nhiệm giải trình” một cách rộng rãi  
182  
THÔNG TIN CHUYÊN ĐỀ SỐ 1/2021  
và toàn diện hơn. Trách nhiệm giải trình có thể được thể hiện qua nhiều góc độ,  
được thực hiện với nhiều cơ chế, dẫn tới những hệ quả, hậu quả pháp lý, chính trị  
và hành chính có thể rất khác nhau, cần quan niệm trách nhiệm giải trình của cơ  
quan hành pháp theo nghĩa rộng, đó không chỉ là trách nhiệm giải trình đối với các  
yêu cầu giải trình của cơ quan, tổ chức, cá nhân, mà cần hiểu và phân định trách  
nhiệm giải trình trong ba trường hợp: giải trình trước cơ quan dân cử, giải trình  
trước xã hội và giải trình trong nội bộ. Riêng giải trình trước xã hội, cần phân định  
hai trường hợp là giải trình trong thực thi quyền lập quy và giải trình trong thực thi  
quyền hành chính với hai hình thức, là giải trình chủ động và giải trình khi có yêu  
cầu. Sự khác biệt trong các trường hợp này là cơ sở khoa học để xác định sự khác  
biệt về chủ thể có trách nhiệm giải trình, trình tự, thủ tục giải trình.  
Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý, phân định rõ ràng nhiệm vụ,  
quyền hạn của các cơ quan hành chính nhà nước và các vị trí công tác để có thể  
xác định trách nhiệm rõ ràng trong thực thi công vụ, lưu ý đến các chế tài xử lý  
để thúc đẩy nhanh tiến trình thiết lập đầy đủ trách nhiệm giải trình cho nền công  
vụ, xây dựng cơ sở pháp lý rõ ràng hơn đối việc thực hiện trách nhiệm giải trình  
chủ động của cơ quan nhà nước, đặc biệt là đối với các vấn đề được dư luận xã  
hội quan tâm, gây bức xúc và có nhiều thông tin trái chiều. Thể chế hóa trách  
nhiệm giải trình thành nghĩa vụ thường xuyên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ,  
công vụ của cán bộ, công chức. Nghiên cứu đưa thêm các hình thức xử lý đối với  
các mức độ tín nhiệm của thành viên Chính phủ vào quy định của pháp luật (như  
không xét thăng chức đối với người có mức tín nhiệm đạt dưới 50% số phiếu lấy  
tín nhiệm); quy định cụ thể về vấn đề từ chức trong Luật Tổ chức Quốc hội, Luật  
Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương cũng như Luật Hoạt  
động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân.  
Thứ ba, trong các giải pháp để bảo đảm trách nhiệm giải trình trong thực  
thi công vụ nhằm phòng ngừa tham nhũng, việc phát huy vai trò của báo chí,  
truyền thông cần được xác định là một trong những giải pháp quan trọng hàng  
183  
THÔNG TIN CHUYÊN ĐỀ SỐ 1/2021  
đầu, nhất là trong bối cảnh bùng nổ công nghệ thông tin của cuộc Cách mạng công  
nghiệp lần thứ tư. Nhà nước phải thay đổi cách thức giải trình, tăng cường thiết  
lập kênh tương tác mới giữa chính quyền và người dân, như hộp thư điện tử,  
chuyên trang về tương tác, đường dây nóng, mạng xã hội, họp báo trực tuyến...  
để cung cấp và nhận phản hồi thông tin.  
Thứ tư, tăng cường sự giám sát của các cấp ủy đối với việc thực hiện trách  
nhiệm giải trình. Các tổ chức đảng không trực tiếp giám sát việc thực thi quyền lực  
nhà nước nhưng thực hiện hoạt động giám sát đối với tổ chức đảng cấp dưới và các  
đảng viên, do đó, có ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả thực hiện chức trách, nhiệm  
vụ của các cơ quan, tổ chức. Các tổ chức đảng cần chú trọng giám sát nội dung này  
đối với đảng viên giữ các vị trí trong cơ quan hành chính nhà nước để bảo đảm họ  
thực hiện đầy đủ, đúng đắn các quy định liên quan đến trách nhiệm giải trình. Từ  
đó, góp phần nâng cao uy tín của Đảng và Nhà nước trước xã hội.  
Thứ năm, trong quá trình thanh tra, kiểm tra trách nhiệm của cơ quan nhà  
nước, cán bộ, công chức, nhất là thanh tra, kiểm tra trách nhiệm thực hiện pháp  
luật về phòng, chống tham nhũng cần phải lưu ý đến nội dung thanh tra, kiểm tra  
việc thực hiện trách nhiệm giải trình nhằm phòng ngừa tham nhũng. Qua đó, các  
vi phạm trong việc thực hiện công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của  
các cơ quan nhà nước được phát hiện và kiến nghị xử lý kịp thời. Sau khi có kết  
luận chính thức của cơ quan kiểm tra, thanh tra, cần có chế tài xử lý kỷ luật đảng  
nghiêm khắc và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần xử lý nghiêm minh các  
trường hợp vi phạm theo quy định của pháp luật để bảo đảm kỷ luật, kỷ cương  
cho việc thực hiện các quy định về trách nhiệm giải trình  
⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯  
(1) Antonio Bar Cendon: “Accountability and Public Administration: Concepts,  
Dimensions, Developments”, United Nations Public Administration Network,  
Nguồn: Tạp chí Cộng sản - 2020 - số 951 - tr.71-77  
184  
pdf 11 trang Thùy Anh 16340 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tăng cường trách nhiệm giải trình trong thực thi công vụ nhằm phòng ngừa tham nhũng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftang_cuong_trach_nhiem_giai_trinh_trong_thuc_thi_cong_vu_nha.pdf