Chiến lược nợ công ở Việt Nam: Những vấn đề đặt ra cho giai đoạn 2021-2030

Chiến lược nợ công ở Việt Nam:  
Những vấn đề đặt ra cho giai đoạn 2021-2030  
Đinh Lâm Tấn(*)  
Nguyễn Hữu Khánh(**)  
Tóm tắt: Nợ công, nợ nước ngoài và quản lý nợ công đang là chủ đề được thảo luận sôi  
nổi trên các diễn đàn, từ phạm vi toàn cầu đến mỗi quốc gia. Bài viết phân tích thực trạng  
thực hiện Chiến lược nợ công của Việt Nam giai đoạn 2011-2020, trên cơ sở đó đưa ra  
những đề xuất đối với việc xây dựng Chiến lược nợ công giai đoạn 2021-2030, gồm: (i)  
Nâng cao chất lượng xây dựng chiến lược, kế hoạch và có chế tài về cách thức phối hợp  
giám sát thực thi chiến lược, kế hoạch; (ii) Xây dựng và hoàn thiện quy trình và phối hợp  
trong quản lý nợ công và nợ nước ngoài, chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ; (iii)  
Phân biệt rõ hơn nợ địa phương và nợ trung ương; (iv) Đánh giá khả năng chịu đựng  
rủi ro trong quá trình xây dựng chiến lược; và (v) Nâng cao chất lượng thống kê và cung  
cấp thông tin trong quản lý nợ công, xác định rõ phạm vi nợ công theo mục đích quản lý.  
Từ khóa: Nợ công, Chiến lược, Ngân sách, Quản lý, Việt Nam  
Abstract: Public debt, external debt and public debt management are mong ardently  
debated topics on national and global forums. The paper analyzes the implementation  
of the Vietnam’s Public Debt Strategy for the period of 2011-2020, based on which a  
proposal todevelop the Public Debt Strategy for 2021-2030 period includes: (i) improve  
the quality of strategy-making and planning processes as well as legal framework on  
coordinating and monitoring the implementation of strategies and plans; (ii) develop and  
complete procedures and coordinations related to public and foreign debt management,  
fiscal and monetary policies; (iii) more clearly distinguish between local and central  
government debts; (iv) assess risk tolerance during strategy for mulation; and (v) enhance  
statistical capability and provide accurate information associated with public debt  
management, and evidently define scope of public debt for management purposes.  
Keywords: Public Debt, Strategy, Government Budget, Management, Vietnam  
1. Đặt vấn đề 1(*)  
trang trải các khoản chi tiêu và góp phần  
Nợ công là khoản nợ do các cơ quan  
nhà nước vay trong và ngoài nước nhằm  
thực hiện các chức năng, nhiệm vụ theo  
luật định. Khi đến hạn, các khoản vay này  
sẽ phải hoàn trả cả gốc và lãi, do đó, nhà  
nước sẽ phải thu thuế tăng lên để bù đắp.  
Vì vậy, bản chất của nợ công là sự lựa chọn  
(*)  
,
(**) TS., Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch  
và Đầu tư; Email: [email protected]  
Chiến lược nợ công…  
13  
thời gian đánh thuế hôm nay hay ngày mai, phân tích quá trình thực hiện Chiến lược nợ  
đánh thuế thế hệ này hay thế hệ sau. Xét về công giai đoạn 2011-2020 nhằm làm rõ các  
xuất xứ nguồn vốn, nợ công bao gồm nợ chính sách chính được Chính phủ thực thi,  
trong nước (internal debt) và nợ nước ngoài kết quả quản lý nợ công, những vấn đề tồn  
(external debt). Nợ trong nước do người cư tại và nguyên nhân, từ đó chỉ rõ những vấn  
trú trong nước nắm giữ, nợ nước ngoài do đề cần đặt ra trong xây dựng Chiến lược nợ  
người không cư trú trong nước nắm giữ.  
công giai đoạn 2021-2030.  
Quản lý nợ công, theo Quỹ Tiền tệ 2. Những công cụ liên quan đến Chiến  
Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới lược nợ công  
(WB), là toàn bộ quá trình lập kế hoạch và  
Nợ công bao gồm nợ ngắn hạn và nợ  
tổ chức thực hiện chiến lược quản lý nợ của dài hạn, do đó các chính phủ phải xây dựng  
chính phủ, nhằm mục tiêu huy động được được một hệ thống các chính sách, chiến  
nguồn vốn theo yêu cầu đặt ra với chi phí lược quản lý nợ công tổng thể, hoàn thiện  
thấp nhất, trong bối cảnh tầm nhìn trung với đầy đủ các cấp độ ngắn hạn, trung hạn,  
và dài hạn, phù hợp với mức độ thận trọng dài hạn và được gắn chặt với các kế hoạch,  
về quản lý rủi ro (Dẫn theo: International chiến lược khác của quốc gia. Theo Hoàng  
Monetary Fund, 2014). Quản lý nợ công Ngọc Âu (2018), những công cụ liên quan  
hiệu quả là vấn đề hết sức quan trọng và đến Chiến lược nợ công, bao gồm:  
cấp bách trong phát triển kinh tế của mỗi  
Chiến lược dài hạn về nợ công đưa ra  
quốc gia. Nếu quản lý nợ công không hiệu mục tiêu, định hướng, các giải pháp, chính  
quả có thể khiến một nước lâm vào tình sách đối với quản lý nợ công được xây dựng  
trạng khó khăn về tài chính, thậm chí có thể trong khung khổ chiến lược tài chính quốc  
rơi vào tình trạng khủng hoảng nợ.  
gia, phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế  
Ở Việt Nam, trong thời gian qua, quản - xã hội 5 năm và chiến lược phát triển kinh  
lý nợ công đã đạt được một số kết quả quan tế - xã hội 10 năm của đất nước. Chiến lược  
trọng, góp phần thực hiện nhiệm vụ phát dài hạn về nợ công bao gồm các nội dung  
triển kinh tế - xã hội. Khung khổ pháp lý về như: đánh giá thực trạng nợ công và công  
quản lý nợ công đang từng bước được hoàn tác quản lý nợ công trong giai đoạn thực  
thiện, đã huy động được lượng vốn lớn bổ hiện chiến lược trước đó; mục tiêu, định  
sung cho đầu tư phát triển; việc phân bổ, hướng huy động, sử dụng vốn vay và quản  
sử dụng vốn vay về cơ bản đúng mục đích lý nợ công; các giải pháp, chính sách quản  
và có hiệu quả. Tuy nhiên, việc huy động lý đảm bảo huy động vốn, sử dụng vốn có  
vốn vay đã thoát ly chiến lược, kế hoạch hiệu quả và an ninh tài chính; tổ chức thực  
đã được phê duyệt nên hiệu lực thi hành hiện chiến lược.  
thấp, bị động, chưa có các chế tài để đảm  
Chương trình quản lý nợ công trung  
bảo việc tuân thủ trong tổ chức thực hiện hạn cụ thể hóa nội dung chiến lược dài hạn  
các công cụ quản lý nợ này (Trương Hùng về nợ công cho giai đoạn 3 năm liền kề phù  
Long, 2018).  
hợp với khung khổ chính sách kinh tế, tài  
Trong bối cảnh Việt Nam đang xây chính và kế hoạch ngân sách trung hạn của  
dựng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội chính phủ. Chương trình quản lý nợ công  
2021-2030 và Kế hoạch phát triển kinh trung hạn bao gồm các nội dung: mục tiêu,  
tế - xã hội 2021-2025, bài viết tập trung nhiệm vụ và giải pháp về huy động, sử  
Thông tin Khoa học xã hội, số 6.2020  
14  
dụng vốn vay, trả nợ; cơ chế, chính sách, tổ của chính phủ so với GDP; Nghĩa vụ trả nợ  
chức quản lý nợ trong giai đoạn 3 năm liền trực tiếp của chính phủ (không bao gồm cho  
kề để thực hiện các chỉ tiêu an toàn về nợ vay lại) so với tổng thu ngân sách nhà nước  
đã được quốc hội xác định trong mục tiêu, hằng năm; Nợ nước ngoài của quốc gia so  
định hướng huy động, sử dụng vốn vay và với GDP; Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của  
quản lý nợ công.  
quốc gia so với tổng kim ngạch xuất khẩu  
Kế hoạch vay và trả nợ chi tiết hằng hàng hóa và dịch vụ.  
năm của chính phủ được xây dựng bao gồm 3. Chiến lược nợ công của Việt Nam giai  
kế hoạch rút vốn vay và trả nợ chi tiết của đoạn 2011-2020  
chính phủ. Nội dung của kế hoạch này như  
Chiến lược dài hạn về nợ công giai  
sau: (i) Kế hoạch vay trong nước bao gồm đoạn 2011-2020 được thể hiện trong Quyết  
kế hoạch huy động vốn cho ngân sách nhà định số 958/QĐ-TTg ngày 27/7/2012 của  
nước và kế hoạch huy động vốn cho đầu Thủ tướng Chính phủ. Quyết định này  
tư phát triển; (ii) Kế hoạch vay nước ngoài phê duyệt Chiến lược nợ công và nợ nước  
được thực hiện thông qua các hình thức ngoài của quốc gia giai đoạn 2011-2020 và  
huy động gồm vay hỗ trợ phát triển chính tầm nhìn đến năm 2030. Theo đó, các chỉ  
thức (ODA), vay ưu đãi, vay thương mại và tiêu an toàn về nợ công và nợ nước ngoài  
được chi tiết theo chủ nợ nước ngoài; (iii) của quốc gia bao gồm: (i) Nợ công đến năm  
Kế hoạch trả nợ được chi tiết theo chủ nợ, 2020 không quá 65% GDP, trong đó, dư nợ  
có phân định trả nợ gốc và trả nợ lãi; trả nợ chính phủ không quá 55% GDP và nợ nước  
trong nước và trả nợ nước ngoài.  
ngoài của quốc gia không quá 50% GDP;  
Chính sách quản lý nợ công là các (ii) Nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ  
chính sách, văn bản tạo khung pháp lý cho (không kể cho vay lại) so với tổng thu ngân  
việc quản lý nợ công, định hướng các mục sách nhà nước hằng năm dưới 25% giá trị  
tiêu, huy động, sử dụng vốn vay. Chính xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ; (iii) Tỷ lệ  
sách quản lý nợ công giúp phân định rõ dự trữ ngoại hối so với tổng dư nợ nước  
chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các ngoài ngắn hạn hằng năm trên 200%.  
cơ quan, đơn vị tham gia trong công tác  
Căn cứ theo các quy định trên, tính  
quản lý nợ công, giúp các đơn vị tham gia đến cuối năm 2019, các chỉ tiêu thể hiện  
quản lý nợ công hoạt động hiệu quả, không kết quả quản lý nợ công của Việt Nam  
chồng chéo. Đồng thời, chính sách cũng vẫn được duy trì trong ngưỡng an toàn.  
bao gồm cả việc ban hành hệ thống chỉ tiêu Dư nợ công dưới 55% GDP, nợ chính phủ  
giám sát nợ công và các tiêu chí đánh giá dưới 48,5% GDP (trong đó: nợ trong nước  
việc quản lý nợ công giúp cho việc kiểm chiếm 62,3%, nợ ngoài nước chiếm 37,7%)  
tra, giám sát công tác quản lý nợ công được (Bộ Tài chính, 2020), nợ nước ngoài của  
rõ ràng, minh bạch.  
quốc gia khoảng 45,8% GDP, qua đó góp  
Hệ thống các chỉ tiêu giám sát nợ công phần đảm bảo an ninh tài chính quốc gia  
là các chỉ tiêu an toàn nợ, quy định giới hạn (xem Bảng 1). Nợ trong nước chủ yếu là  
tối đa về nợ có liên quan do quốc hội quyết các khoản trái phiếu chính phủ đã được cải  
định. Các chỉ tiêu giám sát về nợ công, nợ thiện về kỳ hạn, chi phí huy động, cơ cấu  
nước ngoài của quốc gia bao gồm: Nợ công nhà đầu tư. Kỳ hạn còn lại của danh mục  
so với tổng sản phẩm quốc nội (GDP); Nợ nợ trái phiếu chính phủ năm 2019 đạt 7,4%/  
Chiến lược nợ công…  
Bảng 1: Các chỉ tiêu giám sát nợ công  
15  
TTg ngày 23/4/2009); (ii) Chương  
trình quản lý nợ trung hạn giai đoạn  
2013-2015 (Quyết định số 689/QĐ-  
TTg ngày 04/5/2013); (iii) Chương  
trình quản lý nợ trung hạn 2016-  
2018 (Quyết định số 544/QĐ-TTG  
ngày 20/4/2017). Đây là những văn  
bản cụ thể hóa chiến lược nợ trung  
hạn trong giai đoạn từ 3 đến 5 năm,  
phù hợp với khung khổ chính sách  
kinh tế, tài chính và mục tiêu ngân  
sách trung hạn của Chính phủ. Năm  
2019, Bộ Tài chính đã trình Thủ  
tướng Chính phủ phê duyệt Chương  
trình quản lý nợ trung hạn 3 năm  
giai đoạn 2019-2021, kế hoạch vay,  
trả nợ của Chính phủ và các hạn  
mức vay nợ năm 2019.  
giai đoạn 2010-2019 (%)  
Nợ công Nợ chính Nợ nước ngoài  
Chỉ tiêu  
so với  
phủ so với của quốc gia so  
GDP  
GDP  
44,6  
43,2  
39,4  
42,6  
42,6  
49,2  
52,6  
51,8  
50,0  
49,2  
50,0  
với GDP  
42,2  
41,5  
37,4  
37,4  
37,4  
42,0  
44,7  
45,2  
46,0  
45,8  
45,0  
2010  
2011  
56,3  
54,9  
50,8  
54,5  
58,0  
61,0  
63,6  
62,5  
58,4  
56,1  
60,0  
2012  
2013  
2014  
2015  
2016  
2017  
2018  
20191  
Tầm nhìn 2030  
Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp từ các Bản tin nợ công  
của Bộ Tài chính (2019).  
Trong 9 tháng đầu năm 2019,  
năm, cao hơn 1,4%/năm so với năm 2016;  
Chính phủ đã vay trong nước thông  
lãi suất phát hành bình quân giảm từ 6,7%/ qua phát hành trái phiếu đạt 160.991,5 tỷ  
năm năm 2016 xuống còn 4,5%/năm năm đồng (bằng 52,5% kế hoạch cả năm), kỳ  
2019 (Bộ Tài chính, 2020). Nợ nước ngoài hạn phát hành bình quân 9 tháng duy trì  
chủ yếu vẫn là các khoản vay ODA, vay ở mức cao, đạt 13,51%/năm. Cũng trong  
ưu đãi từ các nhà tài trợ song phương và đa khoảng thời gian đó, Chính phủ đã thực  
phương với kỳ hạn vay dài, lãi suất ưu đãi. hiện giải ngân nguồn vốn vay ODA và  
Các chỉ tiêu nợ so với GDP duy trì trong vay ưu đãi nước ngoài khoảng 1.416 triệu  
các ngưỡng an toàn được Quốc hội cho USD, tương đương khoảng 32.737 tỷ đồng  
phép và tiếp tục xu hướng giảm của năm (trong đó cấp phát khoảng 1.021 triệu  
2018, chủ yếu do tình hình cân đối ngân USD, vay về cho vay lại khoảng 396 triệu  
sách nhà nước diễn biến thuận lợi, qua đó USD). Đối với hoạt động cho vay lại, kế  
giảm nhu cầu huy động vốn của Chính phủ hoạch phê duyệt cho năm 2019 là 43.402 tỷ  
để bù đắp bội chi cho đầu tư phát triển.1  
đồng. Giá trị giải ngân cho vay lại dự kiến  
Giai đoạn 2011-2020, Thủ tướng cả năm 2019 đạt khoảng 30.377 tỷ đồng  
Chính phủ đã phê duyệt 3 chương trình (khoảng 70% kế hoạch), trong đó phần cho  
quản lý nợ trung hạn, đó là: (i) Chương vay lại đối với chính quyền địa phương  
trình quản lý nợ nước ngoài trung hạn giai khoảng 12.122 tỷ đồng (chiếm 40%); phần  
đoạn 2009-2012 (Quyết định số 527/QĐ- cho vay lại đối với doanh nghiệp và đơn  
vị sự nghiệp công lập khoảng 18.255 tỷ  
đồng (chiếm 60%). Về thực hiện nghĩa vụ  
trả nợ, lũy kế 9 tháng đầu năm 2019, tổng  
trả n ợ c ủa Chính phủ khoảng 237.470 tỷ  
1 Dự kiến nợ đến ngày 31/12/2019 trong Báo cáo  
tình hình nợ công năm 2019 và dự kiến năm 2020  
(Chính phủ, 2019).  
Thông tin Khoa học xã hội, số 6.2020  
16  
đồng (bằng 71,3% kế hoạch năm), trong nhiều bất cập. Thứ nhất, phạm vi nợ công  
đó trả n ợ trong nước khoảng 196.281 tỷ còn chồng chéo, chưa phản ánh đúng bản  
đồng, trả n ợ n ước ngoài khoảng 41.189 tỷ chất từng khoản nợ và còn khác biệt so với  
đồng (Chính phủ, 2019).  
thông lệ quốc tế, chưa xác định rõ ràng các  
Kế hoạch vay và trả nợ chi tiết hằng mục tiêu, công cụ để chủ động quản lý nợ.  
năm của Chính phủ ở Việt Nam ngày càng Thứ hai, giai đoạn 2011-2015, chưa có kế  
được chú trọng, nội dung mỗi năm một hoạch đầu tư công trung hạn, kế hoạch tài  
hoàn thiện hơn. Tuy nhiên, kế hoạch này chính trung hạn, chủ yếu điều hành theo kế  
vẫn có một số khác biệt trong nội dung hoạchhằngnămvàthườngxuyênđiềuchỉnh  
thông tin công bố, do đó tình hình về ngân nên không thể quản lý nợ theo trung hạn.  
sách nhà nước nói chung, vay nợ và khả Thứ ba, chương trình quản lý nợ trung hạn  
năng trả nợ của Chính phủ nói riêng chưa của Việt Nam còn bao hàm nhiều nội dung  
được phản ánh đầy đủ, để đánh giá chính không thuộc nghiệp vụ quản lý nợ công và  
xác không phải là dễ.  
thiên về chính sách tiền tệ, chi tiêu công,...,  
Chiến lược, kế hoạch và chính sách trong khi đó, còn chưa bao quát đầy đủ các  
quản lý nợ công giai đoạn 2011-2020 đã phân tích, đánh giá về nguồn vay, cơ cấu  
góp phần quan trọng vào việc thực hiện nợ và kịch bản huy động gắn liền với chi  
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất phí - rủi ro theo chuẩn mực quốc tế. Thứ tư,  
nước. Chính sách quản lý nợ công đã từng hệ thống thông tin, số liệu về nợ công chưa  
bước được nghiên cứu, xây dựng, ban hành, được cập nhật thường xuyên; chế độ báo  
bổ sung và hoàn thiện, tiếp cận dần với cáo chưa chấp hành đầy đủ, chậm so với  
thông lệ quốc tế, góp phần nâng cao hiệu yêu cầu và chất lượng không cao, nhất là  
lực, hiệu quả quản lý nợ công. Chính phủ đối với nợ của khu vực doanh nghiệp được  
đã ban hành nhiều nghị định, Thủ tướng Chính phủ bảo lãnh và nợ của địa phương  
Chính phủ đã ban hành nhiều quyết định, (Hoàng Ngọc Âu, 2018).  
chỉ thị có liên quan đến tăng cường quản  
Nguyên nhân chính dẫn đến những bất  
lý nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia. cập trên xuất phát từ cả thể chế và nhân lực  
Chính phủ đã chỉ đạo nghiên cứu, xây dựng quản lý nợ công. Thứ nhất, mặc dù Việt  
ban hành và tổ chức thực hiện các công cụ Nam đã hội nhập quốc tế về tài chính hơn  
quản lý nợ công, trình Quốc hội phê duyệt 10 năm, tuy nhiên khung pháp lý về lĩnh  
các chỉ tiêu nợ công, nợ chính phủ và nợ vực tài chính nói chung và quản lý nợ công  
nước ngoài của quốc gia đến hết năm 2018. nói riêng vẫn chậm thay đổi, còn có nhiều  
Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chiến khác biệt so với thông lệ quốc tế. Việc ký  
lược nợ dài hạn, các chương trình quản lý kết các hiệp định vay nợ với nước ngoài  
nợ trung hạn, kế hoạch vay trả nợ chi tiết thường ưu tiên áp dụng các quy định của  
của Chính phủ, các chỉ tiêu đánh giá bền các điều ước quốc tế, do đó nếu khung pháp  
vững nợ công, định hướng vay và trả nợ lý của chúng ta không theo các chuẩn mực  
công, góp phần sớm triển khai trên thực tế quốc tế sẽ gây bất lợi trong việc đàm phán  
các chủ trương, giải pháp quản lý nợ công. vay nợ (Dẫn theo: Hoàng Ngọc Âu, 2018).  
Tuy nhiên, quản lý nợ công giai đoạn Thứ hai, sự thiếu hụt đội ngũ cán bộ có  
2011-2020 cũng cho thấy khung pháp lý chuyên môn là nguyên nhân dẫn tới hạn chế  
quản lý nợ công của Việt Nam vẫn còn trong công tác xử lý các nghiệp vụ nợ công  
Chiến lược nợ công…  
17  
phức tạp, đòi hỏi am hiểu thị trường và sự hội, các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, thu-chi  
phân tích, xử lý thông tin rất cao. Ngoài ra, ngân sách nhà nước do Quốc hội quyết  
nhà quản lý nợ công còn phải có tiêu chuẩn định. Nếu chiến lược nợ công do Chính  
đạo đức nghề nghiệp để tránh xảy ra rủi ro phủ trình được Quốc hội thông qua dưới  
hoạt động trong quản lý nợ công.  
4. Những vấn đề đặt ra cho Chiến lược nợ gắn liền với từng nhiệm kỳ của Quốc hội  
công giai đoạn 2021-2030 (5 năm) thì hiệu lực pháp lý của chiến lược  
hình thức một nghị quyết của Quốc hội,  
Xây dựng chiến lược nợ đòi hỏi cần nợ công sẽ được nâng cao (Đào Văn Hùng,  
chú trọng tới 3 yếu tố cơ bản là: phân tích 2016). Xây dựng quy trình lập chiến lược  
chi phí/rủi ro, đánh giá ảnh hưởng của môi nợ dựa trên hướng dẫn của các tổ chức  
trường kinh tế vĩ mô và đánh giá sự phát quốc tế cũng như kinh nghiệm của các  
triển của thị trường nợ, trên cơ sở đó xây quốc gia thành công trong việc xây dựng  
dựng chiến lược nợ phù hợp với thông lệ chiến lược nợ. Việc xây dựng phải đề cập  
quốc tế và điều kiện Việt Nam. Trong quá đến quy mô và tốc độ tăng nợ, cơ cấu lãi  
trình xây dựng Chiến lược nợ công giai suất, cơ cấu kỳ hạn, cơ cấu đồng tiền vay  
đoạn 2021-2030, Việt Nam cần cân nhắc nợ cũng như khả năng trả nợ.  
xem xét các vấn đề sau:  
Thứ hai, cần xây dựng và hoàn thiện  
Thứ nhất, cần nâng cao chất lượng quy trình và phối hợp trong quản lý nợ  
xây dựng chiến lược kế hoạch và có chế công và nợ nước ngoài, chính sách tài  
tài, cách thức phối hợp, giám sát thực thi khóa và chính sách tiền tệ. Là nước có  
chiến lược, kế hoạch. Tập trung xây dựng, thu nhập trung bình không còn nằm trong  
trình cấp có thẩm quyền phê duyệt chiến số các nước thu nhập thấp, kể từ tháng  
lược nợ dài hạn, chương trình quản lý nợ 7/2017, Việt Nam đã không được tiếp tục  
trung hạn và hằng năm để báo cáo Quốc nhận tín dụng bao cấp qua chương trình  
hội các vấn đề về nợ công. Cụ thể, giai International Development Association  
đoạn tới cần quản lý chặt chẽ nợ công, (IDA) của WB. Theo đó, việc vay nợ đã  
đặc biệt là các khoản vay mới đều phải chuyển dần từ vay ODA chi phí thấp sang  
đánh giá tác động ngay từ khâu phê duyệt vay vốn kém ưu đãi và vay thương mại  
chủ trương; chỉ sử dụng nợ công cho các với chi phí thị trường, lãi suất vay các  
chương trình dự án thực sự thiết yếu, khoản nợ tăng từ mức ưu đãi tiến gần đến  
không điều chỉnh tăng tổng mức đầu tư, mức của thị trường. Đối với các nước thu  
hợp đồng sử dụng nguồn vay công. Bên nhập thấp, chính phủ thường vay ODA với  
cạnh đó, thực hiện siết chặt các điều kiện lãi suất ưu đãi vừa bù đắp thâm hụt ngân  
cấp bảo lãnh theo hướng không mở rộng sách, vừa cho tư nhân vay lại. Quản lý nợ  
đối tượng được bảo lãnh và kiểm soát công và nợ nước ngoài có thể đồng nhất  
việc bảo đảm trả nợ đối với các khoản vay các tiêu chí và thể chế. Tuy nhiên, đối với  
được Chính phủ bảo lãnh.  
các nước có thể tiếp cận thị trường vốn,  
Cần có Hội đồng chính sách nợ công khu vực tư nhân có thể vay vốn trên thị  
cấp quốc gia để hoạch định chính sách, trường thế giới. Quản lý nợ công và quản  
chiến lược vay nợ của quốc gia trong từng lý nợ nước ngoài cần thay đổi để tránh  
thời kỳ. Chiến lược nợ công cần được gắn chồng chéo, đáp ứng mục tiêu của từng  
liền với Chiến lược phát triển kinh tế - xã khoản vay riêng biệt.  
Thông tin Khoa học xã hội, số 6.2020  
18  
Đối với khoản vay nước ngoài không phồng quy mô nợ công. Từ năm 2010, Luật  
được chính phủ bảo lãnh, trách nhiệm Quản lý nợ công (2009 và 2017) và các văn  
quản lý, giám sát các khoản vay nước bản hướng dẫn Luật đã tạo ra cơ chế khá  
ngoài theo phương thức tự vay, tự trả linh hoạt và khuyến khích các bộ, ngành,  
thường thuộc về chức năng của ngân hàng địa phương và các doanh nghiệp tăng  
trung ương. Các quốc gia không đề ra mức cường huy động các nguồn vốn vay trong  
trần chung đối với các khoản vay nước và ngoài nước cho đầu tư công, nhất là đầu  
ngoài của khu vực tư nhân. Thay vào đó, tư xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ. So với  
các nước thường áp dụng công cụ quản lý Luật Quản lý nợ công năm 2009, Luật năm  
đối với từng loại doanh nghiệp, tổ chức 2017 quy định chặt chẽ quản lý nợ chính  
cụ thể. Chẳng hạn, Indonesia yêu cầu các quyền địa phương, xác định rõ trách nhiệm,  
doanh nghiệp phi tài chính sử dụng công điều kiện vay và trả nợ của chính quyền địa  
cụ phái sinh đối với các khoản vay nước phương; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ  
ngoài ngắn hạn, áp dụng các yêu cầu về với các luật có liên quan, đặc biệt là Luật  
tỷ lệ thanh khoản và xếp hạng tín dụng tối Đầu tư công năm 2014 và Luật Ngân sách  
thiểu (Bank Indonesia, 2014). Ấn Độ đề nhà nước năm 2015.  
ra hạn mức trần bằng USD cho các khoản  
Thứ tư, cần đánh giá khả năng chịu  
vay nước ngoài trong năm đối với từng đựng rủi ro trong quá trình xây dựng chiến  
doanh nghiệp, và mỗi lĩnh vực có mức trần lược. Đánh giá mức độ rủi ro mà chính phủ  
khác nhau. Việc vay vốn quá mức trần này sẵn sàng chấp nhận có thể thay đổi theo thời  
cần được Ngân hàng Trung ương Ấn Độ gian, tùy thuộc vào quy mô danh mục nợ  
cho phép (Reddy, 2000).  
của chính phủ và khả năng dễ tổn thương  
Thứ ba, cần phân biệt rõ hơn nợ chính của chính phủ trước các cú sốc về kinh tế  
quyền địa phương và nợ trung ương, phân - tài chính. Chiến lược như vậy bao gồm  
quyền cho quản lý, tăng trách nhiệm của nhiều lựa chọn, trong đó có sự lựa chọn về  
địa phương trong quản lý và chịu trách thời gian đáo hạn, đồng tiền vay nợ, các  
nhiệm nợ. Trước hết, cần xây dựng tiêu chí điều kiện về lãi suất vay,... Ngoài ra, cần  
phân loại nợ của chính quyền địa phương, có chiến lược đối với nợ công bất thường,  
để xác định cụ thể khoản nào được tổng tuy chưa được hình thành cụ thể nhưng các  
hợp vào nợ công, khoản nào được loại trừ khoản nợ công bất thường có thể dẫn đến  
(tránh trùng lắp) và những loại nào không trách nhiệm tài chính hoặc khoản nợ hiện  
mang bản chất là khoản vay (tạm ứng từ hữu trong điều kiện nhất định. Nếu nợ công  
quỹ đất, ứng từ ngân sách trung ương), bất thường không được cơ cấu hợp lý và  
bằng cách bóc tách các khoản nợ lẫn nhau thiếu sự theo dõi, kiểm soát của chính phủ  
giữa các cơ quan, tổ chức khu vực công, thì có thể gây ra những cú sốc làm gia tăng  
giữa các cấp ngân sách trong hệ thống ngân nợ công nhanh chóng. Bên cạnh đó, cần có  
sách nhà nước theo quy định của Luật Ngân sự đánh giá cụ thể về ảnh hưởng của các  
sách nhà nước (năm 2015). Điều này nhằm nhân tố vĩ mô tới nợ công. Việc đánh giá sự  
hạn chế khó khăn trong việc thu thập, tổng ảnh hưởng này không chỉ dựa vào các đánh  
hợp, báo cáo và công bố thông tin về nợ giá định tính mà cần được lượng hóa.  
công chung của cả nước, đồng thời không  
Thứ năm, cần nâng cao chất lượng  
gây tình trạng tính trùng các khoản nợ, thổi thống kê và cung cấp thông tin trong quản  
Chiến lược nợ công…  
19  
lý nợ công, xác định rõ phạm vi nợ công định hướng, các giải pháp, chính sách đối  
theo mục đích quản lý. Bổ sung nghĩa với quản lý nợ công ở Việt Nam. Trong  
vụ nợ dự phòng ngân sách nhà nước vào khuôn khổ chiến lược tài chính quốc gia,  
phạm vi nợ công, vì đó là các khoản nợ Chiến lược nợ công cần phải xây dựng phù  
phát sinh trong điều hành ngân sách nhà hợp với kế hoạch phát triển kinh tế - xã  
nước nhưng không bố trí được nguồn trả hội 5 năm và chiến lược phát triển kinh tế  
và chính phủ phải vay để trả các khoản nợ - xã hội 10 năm của đất nước. Tuy nhiên,  
này (nợ đọng xây dựng cơ bản của ngân thực tiễn thực thi Chiến lược nợ công giai  
sách Trung ương và địa phương, các khoản đoạn 2011-2020 cho thấy một số bất cập  
nợ hoàn thuế giá trị gia tăng (VAT), cấp bù từ khung pháp lý quản lý nợ công của Việt  
chênh lệch lãi suất), hoặc phát sinh từ các Nam như: phạm vi nợ công, hệ thống thông  
khoản vay được chính phủ bảo lãnh/cho tin, số liệu thống kê về nợ công chưa tốt  
vay lại trong trường hợp có rủi ro không và nhiều vấn đề khác liên quan đến nghiệp  
trả được nợ và ngân sách nhà nước phải bố vụ quản lý nợ. Để xây dựng Chiến lược tốt  
trí nguồn trả nợ thay (đã là nợ hiện hữu). và thực thi Chiến lược hiệu quả trong giai  
Theo IMF và WB (2020), khoản vay được đoạn 2021-2030, Việt Nam cần tiếp tục nỗ  
chính phủ bảo lãnh không thuộc phạm vi lực huy động nguồn lực đảm bảo, nâng cao  
nợ công, nó được coi như các khoản nợ dự chất lượng thống kê, phân định rõ nợ công  
phòng và chỉ nên ghi chép riêng dưới dạng trung ương và địa phương và đánh giá khả  
khoản mục ghi nhớ, bởi vì các khoản được năng chịu đựng rủi ro trước các cú sốc của  
chính phủ bảo lãnh chỉ trở thành nợ công nền kinh tế  
trong trường hợp các đối tượng được bảo  
lãnh không trả nợ vay đúng hạn và trong Tài liệu tham khảo  
thực tế, điều đó không phải lúc nào cũng 1. Hoàng Ngọc Âu (2018), Quản lý nợ  
xảy ra. Phạm vi nợ công nên quy định rõ  
đối với các khoản nợ của Ngân hàng Nhà  
nước, nợ tự vay tự trả; các khoản tự vay  
công ở Việt Nam trong Hội nhập quốc  
tế, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Học viện  
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.  
tự trả, các khoản phải trả của các doanh 2. Bank Indonesia (2014), Regulation  
nghiệp nhà nước. Ngoài ra, còn các khoản  
nợ tiềm tàng (nợ bất thường) như nợ của  
doanh nghiệp nhà nước, nợ phát sinh từ  
việc giải quyết các vấn đề cứu trợ, phá sản  
các tổ chức tín dụng, chi phí khắc phục  
hậu quả thiên tai, phục hồi thiên tai và các  
khoản nợ tiềm tàng khác - tất cả đều là  
Number 16/21/PBI/2014 Date 29th  
December 2014 concerning the  
implementation of prudential principles  
inmanagingexternaldebtofthenon-bank  
corporation,  
peraturan/moneter/Pages/pbi_162114.  
aspx, truy cập ngày 31/5/2020.  
những rủi ro tiềm ẩn cao đối với sự bền 3. Bộ Tài chính (2019), Bản tin nợ công,  
vững nợ công.  
Kết luận  
portal/btc/r/lvtc/qln/qln_chitiet;jsession-  
id=lt4LTg5qkHRRdHqpMBWzCr2IX-  
w4Xc_EjMDP-Gtd_byOpFVB36  
DT3!1406292146!-1887047968?  
dDocName=MOFUCM167517&_afr-  
Chiến lược nợ công là một trong những  
công cụ quan trọng phục vụ điều hành kinh  
tế vĩ mô, được triển khai trong giai đoạn  
2011-2020 bước đầu đã cung cấp mục tiêu,  
Thông tin Khoa học xã hội, số 6.2020  
20  
Loop=65450553252317688, truy cập 8. International Monetary Fund and  
03/5/2020.  
World Bank (2020), Public sector debt  
definitions and reporting in low-income  
developing countries, https://www.  
imf.org/en/Publications/Policy-Papers/  
Issues/2020/02/11/Public-Sector-Debt-  
Definitions-and-Reporting-in-Low-  
Income-Developing-Countries-49042,  
truy cập ngày 31/5/2020.  
4. Bộ Tài chính (2020), Báo cáo về công tác  
điều hành thực hiện nhiệm vụ tài chính -  
ngân sách nhà nước năm 2019, kế hoạch  
triển khai nhiệm vụ tài chính - ngân  
sách nhà nước năm 2020, https://img.  
vietnamfinance.vn/upload/news/hoang  
hung_btv/2020/1/10/bao-cao-tong-ket-  
nam-2019.pdf, truy cập ngày 03/5/2020. 9. Reddy, Y. V. (2000), Managing foreign  
5. Chính phủ (2019), Báo cáo Tình hình  
nợ công năm 2019 và dự kiến năm  
debt and liquidity: India’s experience,  
truy cập ngày 31/5/2020.  
2020,  
https://img.vietnamfinance.vn/  
upload/news/hoanghung_btv/2019/10/ 10. Trương Hùng Long (2018), Khuôn khổ  
23/bao-co-ve-tinh-hinh-no-cong-nam-  
2019.pdf, truy cập ngày 03/5/2020.  
6. Đào Văn Hùng (2016), Quản lý nợ công  
ở Việt Nam - tiếp cận thông lệ quốc tế,  
Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.  
7. International Monetary Fund (2014),  
Revised guidelines for public debt  
management, Washington, D.C.  
pháp lý quản lý nợ công ở Việt Nam:  
Những vấn đề đặt ra và định hướng  
che-chinh-sach/binh-luan-chinh-sach/  
khuon-kho-phap-ly-quan-ly-no-cong-  
o-viet-nam-nhung-van-de-dat-ra-va-  
dinh-huong-hoan-thien-135541.html,  
truy cập ngày 03/5/2020.  
pdf 9 trang Thùy Anh 12760 Free
Bạn đang xem tài liệu "Chiến lược nợ công ở Việt Nam: Những vấn đề đặt ra cho giai đoạn 2021-2030", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfchien_luoc_no_cong_o_viet_nam_nhung_van_de_dat_ra_cho_giai_d.pdf