Cải cách doanh nghiệp nhà nước nhìn từ vai trò của doanh nghiệp Nhà nước để phát triển bền vững trong điều kiện toàn cầu hóa

123  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
CẢI CÁCH DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC NHÌN TỪ VAI TRÒ CỦA DOANH NGHIỆP  
NHÀ NƯỚC ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
Phạm Thị Tường Vân*  
TÓM TẮT: Nhìn nhận vai trò của doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) đóng góp trong phát triển bền vững nền  
kinh tế Việt Nam trong điều kiện toàn cầu hóa, trong khi khu vực kinh tế tư nhân hiện nay, mặc dù được coi  
là một động lực tăng trưởng kinh tế những vẫn còn nhỏ bé và yếu về tiềm lực là cần thiết và quan trọng.  
Bài viết đặt vấn đề xem xét vai trò của DNNN trong việc phát triển bền vững nền kinh tế Việt Nam trong  
điều kiện toàn cầu hóa trên cả 3 chân kiềng: đóng góp cho kinh tế, đóng góp cho xã hội và môi trường.  
Thông qua nghiên cứu thực trạng vai trò DNNN, đánh giá và nhìn nhận về vai trò của DNNN trong giai đoạn  
tiếp theo, từ đó đưa ra những khuyến nghị về tiếp tục cải cách DNNN trong giai đoạn tới và tập trung cải  
thiện quản trị công ty trong các DNNN.  
Từ khóa: Doanh nghiệp nhà nước, phát triển bền vững, toàn cầu hóa  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Trong thực tiễn, có nhiều quan điểm khác nhau về doanh nghiệp Nhà nước (DNNN), đó là  
do góc độ nhìn nhận khác nhau và vị trí của người quan sát khác nhau. Tuy nhiên, dù ở góc độ nào  
cũng đều nhìn nhận vai trò của DNNN qua từng giai đoạn lịch sử phát triển kinh tế. Trong nền kinh  
tế kế hoạch hóa tập trung, sở hữu toàn dân là tư tưởng chi phối, DNNN là tổ chức kinh tế thuộc sở  
hữu nhà nước, đóng vai trò là “cỗ máy cái” trong mọi khu vực, lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân.  
Vai trò này được công nhận ở các quốc gia có nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Theo đó,  
“DNNN là một chủ thể kinh tế mà quyền sở hữu hay quyền kiểm soát thuộc về chính phủ, phần  
lớn thu nhập của chúng được tạo ra từ việc bán hàng hóa, dịch vụ” (Ngân hàng Thế giới, 1999).  
Trong khi với đặc trưng của nền kinh tế thị trường, sở hữu tư nhân là tư tưởng chi phối;  
DNNN không được coi là sự lựa chọn đúng đắn. Tuy vậy, không có nghĩa mọi vấn đề đều được  
khu vực tư nhân giải quyết hiệu quả, minh chứng bằng sự phát triển mất cân đối của các quốc gia  
có nền kinh tế thị trường tự do hay các vấn đề về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không thể  
giải quyết, cần phải có một giải pháp để bù đắp vào những khoảng trống này. DNNN tồn tại với  
tên gọi là doanh nghiệp công (PCs) - là một thực thể được thành lập với mục đích cung cấp dịch  
vụ công cho thị trường (Lienert, 2009).  
Vậy để nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hướng đến phát triển toàn diện và  
bền vững như ở Việt Nam hiện nay, vai trò của DNNN còn quan trọng và việc tái cơ cấu DNNN  
* Viện chính sách và chiến lược, Việt Nam. Tác giả nhận phản hồi: Email: [email protected]  
124  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
trong giai đoạn này cần tập trung vào vấn đề gì? Có thể nói, dù là hệ thống kinh tế phát triển ở mức  
độ nào thì DNNN hoạt động vì lợi ích xã hội vẫn cần thiết mặc dù tái cơ cấu có thể thay đổi vị trí,  
vai trò và chức năng, cách thức tham gia khi cơ chế thay đổi, “luật chơi” thay đổi.  
2. DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM ĐÃ THỰC HIỆN VAI TRÒ NHƯ THẾ NÀO?  
Một câu hỏi đặt ra là DNNN trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và  
hướng đến phát triển toàn diện, bền vững như ở Việt Nam đã và đang thực hiện vai trò trên như thế  
nào? Có thể xem xét thực trạng thực hiện vai trò như sau:  
Thứ nhất, DNNN vẫn tiếp tục đóng góp vào tăng trưởng kinh tế. Kể từ khi có Luật Doanh  
nghiệp chung được ban hành mở đầu cho giai đoạn phát triển doanh nghiệp, với quá trình tái cấu  
trúc DNNN diễn ra trong thời gian qua, DNNN đang ngày càng đổi mới, mặc dù đang có xu hướng  
giảm về số lượng nhưng nhìn chung khu vực DNNN vẫn đóng góp đáng kể vào GDP so với các  
thành phần kinh tế khác. Giai đoạn 2011 - 2016, khu vực DNNN đóng góp cho tăng trưởng trong  
1
*
cả giai đoạn đạt 29% GDP, đồng thời duy trì tỷ trọng đầu tư ở mức 12,37% GDP . GDP theo giá  
thực tế của khu vực DNNN đã tăng lên với mức tăng trung bình từ 2005 đến 2016 là 5,42%.  
Bảng 1 - Tỷ trọng GDP theo Thành phần kinh tế  
Đơn vị tính: %  
THÀNH PHẦN  
2018 2017 2016 2015 2014 2013 2012 2011  
27,67 28,63 28,81 28,69 28,73 29,01 29,39 29,01  
42,08 41,74 42,56 43,22 43,33 43,52 44,62 43,87  
Kinh tế Nhà nước  
Kinh tế ngoài Nhà nước  
Khu vực có vốn đầu tư nước  
ngoài  
20,28 19,63 18,59 18,07 17,89 17,36 16,04 15,66  
Nguồn: Tổng hợp từ Niên giám thống kê từ 2012-2018  
Cơ cấu đầu tư của DNNN trong tổng đầu tư toàn xã hội mặc dù có sự dịch chuyển dần sang  
KTTN, giảm xuống còn 33,3% năm 2018, nhưng xét cả về giá trị và tỷ trọng DNNN chỉ đứng sau  
khu vực KTTN tính trong các thành phần kinh tế.  
Thứ hai, các DNNN tiếp tục đóng góp tích cực cho NSNN. Các DNNN mặc dù chiếm tỷ lệ  
rất nhỏ về số lượng trong khu vực doanh nghiệp (khoảng 0,67%), nhưng DNNN vẫn là nguồn thu  
lớn cho NSNN, mặc dù cơ cấu đóng góp vào NSNN của DNNN từ 2015 có xu hướng ngày càng  
giảm và khu vực KTTN ngày càng tăng do tác động từ đổi mới, sắp xếp lại khu vực DNNN và sự  
2
**  
thay đổi trong tính toán nguồn thu vào NSNN . Điều này là tất yếu cho một nền kinh tế thị trường  
nhưng với khoảng cách không quá chênh lệch cho thấy DNNN vẫn đóng một vai trò quan trọng  
trong tạo nguồn thu để phát triển kinh tế đất nước, vai trò này vẫn sẽ tiếp tục trong một giai đoạn  
nữa, cho đến khi khu vực kinh tế tư nhân có đủ khả năng, đủ năng lực thực hiện được vai trò là  
động lực kinh tế của đất nước.  
1
Tài chính Việt Nam 2015, NXB Tài chính 2016, Hà Nội  
Đã loại trừ các khoản thu từ cổ tức, lợi nhuận còn lại của DNNN, tiền bán cổ phần sở hữu Nhà nước tại doanh nghiệp kể từ 2015.  
2
125  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
Bảng 2 - Cơ cấu thu NSNN theo thành phần kinh tế  
KHU VỰC  
2018 2017  
2016 2015 2014 2013 2012 2011  
theo tỷ trọng (%)  
Thu từ khu vực doanh nghiệp  
nhà nước  
10,74 11,45 13,52 15,67 21,43 23,01 19,43 17,51  
13,08 13,31 14,40 13,81 14,11 13,54 11,23 10,68  
Thu từ khu vực doanh nghiệp  
có vốn ĐTNN  
Thu từ khu vực công thương  
nghiệp - NQD  
14,72 13,99 13,88 12,70 12,78 12,83 12,53 11,71  
Nguồn: Niên giám thống kê 2012-2018  
Vai trò chính trị của DNNN trong thời gian qua có nhiều thay đổi phù hợp với sự thay đổi  
dần từng bước của thể chế chính trị, chủ trương, đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và  
Nhà nước đề ra. Nếu trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung, các DNNN được thành lập ở hầu hết  
các ngành, nắm quyền chi phối trên mọi lĩnh vực, đóng vai trò quyết định sự phát triển của quốc  
gia; thì đến giai đoạn nước ta bước sang thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ  
nghĩa, các DNNN đã phải tiến hành cải cách, thu hẹp lĩnh vực hoạt động, nhường chỗ cho các khu  
vực doanh nghiệp khác có đủ khả năng tham gia để thực hiện. DNNN sẽ chỉ tập trung vào những  
ngành, lĩnh vực mà các khu vực doanh nghiệp khác không có khả năng tham gia hoặc không muốn  
tham gia, những ngành lĩnh vực liên quan đến an ninh, an toàn của quốc gia và thực hiện những  
mục tiêu kinh tế khác. Với quan điểm rõ ràng như vậy của Đảng và Nhà nước, DNNN trong thời  
gian qua vừa thực hiện các mục tiêu chính trị của Nhà nước thông qua hoạt động kinh tế, vừa thực  
hiện tiến trình cải cách, sắp xếp lại DNNN qua nhiều giai đoạn.  
Cải cách DNNN trong thời gian qua đã góp phần tạo ra “sân chơi” cho khu vực kinh tế tư  
nhân và FDI. Đối với các ngành, lĩnh vực hoạt động kinh doanh, số lượng các DNNN thực hiện  
cổ phần hóa đã giảm đáng kể, từ chỗ cả nước có hơn 12.000 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước  
(1990), đến năm 2001 giảm xuống còn 5.655 doanh nghiệp, đến năm 2011 còn 1.309 doanh nghiệp  
và đến tháng cuối năm 2018 chỉ còn 505 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước. So với năm 2001, tổng  
số DNNN giảm tới 91%.  
DNNN trong thời gian qua vẫn là công cụ để điều tiết nền kinh tế, bảo đảm thực hiện có hiệu  
quả các chính sách ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát, tạo nguồn thu cho NSNN, đóng góp quan  
trọng cho phát triển kinh tế xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện nhiệm vụ quốc phòng,  
an ninh và chính sách an sinh xã hội.  
Các DNNN hoạt động chủ yếu trong những lĩnh vực mà doanh nghiệp tư nhân không làm  
được, hoặc đóng vai trò dẫn dắt, khai phá những lĩnh vực quan trọng đối với nền kinh tế như điện  
lực, năng lượng, an ninh, quốc phòng, cảng biển, sân bay… Đồng thời, các DNNN cũng có các  
hoạt động cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích nhưng vẫn đảm bảo tuân thủ nguyên tắc thị trường,  
bình đẳng với các thành phần kinh tế khác.  
Đối với vai trò xã hội, DNNN đóng góp vào việc thực hiện các hoạt động văn hóa, đảm bảo  
an sinh xã hội và góp phần cải thiện đời sống nhân dân, đơn cử như đóng góp của các DNNN theo  
126  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP về Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện  
nghèo (Nghị quyết 30a). Theo đó, kết quả thực hiện trong thời gian qua được đánh giá là đi vào  
cuộc sống và đạt kết quả tích cực trên nhiều phương diện. Sự hỗ trợ từ phía các DNNN trong 6  
năm kể từ khi Nghị quyết có hiệu lực là 3.138 tỷ đồng trong tổng nguồn lực được huy động khoảng  
trên 20 nghìn tỷ đồng.  
Hoạt động cộng đồng được các DNNN triển khai tập trung vào xây dựng nhà tình nghĩa,  
đóng góp vào các Quỹ khuyến học, hỗ trợ đồng bào gặp thiên tai, xây dựng trường học, hỗ trợ xóa  
nhà tạm, hỗ trợ thiết bị y tế, thiết bị giáo dục và đầu tư cơ sở hạ tầng,… Theo đó, trong giai đoạn  
2011 - 2015, các DNNN đã có những đóng góp trực tiếp và gián tiếp vào hoạt động này, góp phần  
tạo việc làm cho trên 7,8 triệu người, tỷ lệ thất nghiệp giảm dưới 4%, Tỷ lệ hộ nghèo giảm khoảng  
2%/năm (các huyện nghèo giảm trên 4%/năm), đến cuối năm 2015 còn dưới 4,5%. Số người tham  
gia BHXH tăng từ 9,7 triệu người năm 2011 lên 12 triệu năm 2015. Mặc dù xét về cơ cấu, khu vực  
DNNN chiếm tỷ trọng nhỏ nhất trong 3 khu vực và ngày càng giảm dần, nhưng nếu so sánh với số  
lượng DNNN ngày càng thu hẹp sau tiến trình cổ phần hóa, trong khi thu nhập bình quân của người  
lao động và hiệu suất sử dụng lao động của DNNN cao nhất trong ba khu vực doanh nghiệp thì có  
thể đánh giá các DNNN vẫn đóng góp nhiều trong việc giải quyết vấn đề lao động.  
Bảng 3 - Tỷ trọng lao động làm việc trong các khu vực doanh nghiệp  
Đơn vị tính: %  
KHU VỰC  
2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017  
15,27 14,35 12,67 12,05 10,67 9,18 8,28  
61,33 60,97 59,27 59,32 59,99 61,17 60,65  
Doanh nghiệp Nhà nước  
Doanh nghiệp ngoài Nhà nước  
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước  
ngoài  
23,40 24,54 26,38 28,63 29,34 29,65 31,07  
Nguồn: Tổng hợp từ Niên giám thống kê từ 2012-2018  
Đối với việc đảm nhận thị trường hàng hóa công cộng, đặc biệt trong cung ứng dịch vụ sự  
nghiệp công và cung ứng dịch vụ công cộng, DNNN thay mặt cho kinh tế Nhà nước thực hiện các  
nhiệm vụ đảm bảo giữ vững ổn định đời sống người dân thông qua cung cấp các dịch vụ trong lĩnh  
*
vực giáo dục đào tạo, y tế, các dịch vụ cung cấp nước sạch, đảm bảo điện sinh hoạt, giao thông  
công cộng và xử lý rác thải, nước thải,… Đồng thời, DNNN tham gia điều tiết về giá các mặt  
hàng nguyên liệu đầu vào sản xuất quan trọng cho các ngành sản xuất trong nước như giá điện,  
giá xăng dầu. So với nhiều nước trong khu vực, giá điện Việt Nam luôn thấp hơn (giá bán lẻ điện  
hiện nay của Việt Nam là 1.864,44 đồng/kWh, tương đương 8,1 cent/kWh theo Quyết định số 648/  
QĐ-BTC của Bộ Công Thương từ tháng 3/2019), Trung Quốc là 10,04 cent/kWh, Thái Lan 11,81  
cent/kWh...  
3
Để giữ ổn định mặt bằng giá đầu vào cho các ngành sản xuất, trong nhiều năm qua, mặc dù thị trường có nhiều biến động, nhưng  
giá điện nhìn chung được giữ ổn định ở mức thấp. So với nhiều nước trong khu vực, giá điện Việt Nam thấp hơn. Cụ thể, giá bán lẻ  
điện hiện nay của Việt Nam là 1.622 đồng/kWh, tương đương 7,31 cent/kWh. Trong khi đó, Trung Quốc là 10,04 cent/kWh, Thái  
Lan 11,81 cent/kWh...  
127  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
2. MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ VỀ VAI TRÒ CỦA DNNN  
Từ khi tốc độ mở cửa hội nhập nền kinh tế thế giới của Việt Nam được đẩy mạnh thì hệ thống  
DNNN tỏ ra chậm chạp hơn so với yêu cầu thực tế. Việc thực hiện vai trò trụ cột kinh tế khu vực  
kinh tế Nhà nước, trong đó, đóng vai trò chủ yếu là DNNN trong bối cảnh hướng đến nền kinh tế  
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mặc dù có đóng góp nhưng theo xu hướng giảm, chưa thể  
đảm trách tốt chức năng xã hội quan trọng, là xương sống của nền kinh tế và là công cụ để Nhà  
nước thực hiện điều tiết, ổn định vĩ mô.  
Đã có nhiều nghiên cứu nhận định rằng các DNNN hoạt động chưa hiệu quả, chưa xứng với  
tiềm lực được đầu tư và kỳ vọng. Không những thế, tính kém hiệu quả của DNNN còn có ảnh  
hưởng trên diện rộng gây khó khăn cho toàn bộ nền kinh tế. Các DNNN chưa tạo được kết nối với  
các thành phần kinh tế khác, còn tham gia vào nhiều lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh mà khu vực  
KTTN có thể làm được, tác động đến tái cơ cấu kinh tế còn mờ nhạt. DNNN được đầu tư nhiều  
vốn, được hưởng nhiều ưu ái, nhưng kinh doanh kém hiệu quả. Hiện tượng đầu tư công tràn lan,  
chất lượng thấp được thực hiện qua DNNN đang lấn át cơ hội kinh doanh của kinh tế tư nhân,  
không phát huy được tiềm năng to lớn của kinh tế tư nhân vào công cuộc phát triển đất nước. Đó  
là nguyên nhân khiến việc tái cơ cấu toàn bộ nền kinh tế với ba trọng tâm trong Hội nghị lần thứ  
ba Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (2011) trở nên cấp thiết.  
Ấn tượng đầu tiên về nỗ lực cải cách DNNN trong đó nổi bật là cổ phần hóa đã làm giảm  
nhanh chóng về số lượng DNNN. Tính đến hết năm 2018, cả nước có 505 DN do Nhà nước nắm  
giữ 100% vốn điều lệ. Tuy nhiên, sự giảm sút về số lượng tuyệt đối các DNNN không có nghĩa là  
thu hẹp phạm vi hoạt động. Quy mô của DNNN đã tăng mạnh, phản ánh kết quả “tập trung hóa”  
các DNNN thành hệ thống phân theo ngành nghề, thể hiện qua việc thành lập các tập đoàn kinh tế  
Nhà nước (năm 2005), tạo ra những “liên minh lỏng lẻo của các DNNN có lợi ích kinh tế giống  
nhau” (World Bank, 2011). DNNN chiếm gần 40% tổng mức đầu tư nhưng chỉ đóng góp gần 30%  
vào tăng trưởng GDP. DNNN vẫn là khu vực sử dụng nhiều nguồn lực nhất của nền kinh tế, “70%  
tài sản, đất đai trong khu vực sản xuất kinh doanh” (Phạm Sĩ Thành, 2012).  
Mặc dù vẫn được đánh giá là hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, nhưng qua các thước đo  
tài sản, hiệu quả hoạt động từ 2016 cho đến nay cho thấy DNNN đã có những cải thiện đáng kể.  
Năm 2018, tổng tài sản của các DNNN là 2.935.353 tỷ đồng (Doanh nghiệp 100% vốn Nhà  
nước), tăng 2% so với thực hiện năm 2017. Tổng doanh thu của các doanh nghiệp đạt 1.557.394  
tỷ đồng, tăng 9% so với 2017. Lợi nhuận trước thuế của các DNNN tăng 3%. Trong đó, khối Tập  
đoàn tăng 2%, khối Tổng công ty và khối các doanh nghiệp độc lập đều tăng 6% so với thực hiện  
năm trước. Tỷ suất lợi nhuận trước thuế/vốn chủ sở hữu bình quân năm 2018 đạt 12%, Tỷ suất lợi  
nhuận trước thuế/ tổng tài sản đạt 6% (tương đương với 2017). Tổng số phát sinh phải nộp ngân  
4
*
sách nhà nước (NSNN) của các DN năm 2018 tăng 5% so với 2017 . Các doanh nghiệp có vốn  
Nhà nước có tình hình hoạt động khả quan hơn với tốc độ tăng cao về các chỉ số tài sản, lợi nhuận,  
doanh thu cao hơn so với doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước.  
Tuy nhiên, xét về mức độ an toàn tài chính thì chỉ số nợ của DNNN khá cao, năm 2017 là  
4
Báo cáo “Tổng hợp đánh giá tình hình cơ cấu lại, các nhiệm vụ, giải pháp đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp  
nhà nước” (Tài liệu phục vụ Hội nghị Đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN ngày 16/10/2019)  
128  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
4,1, cao gấp gần 2 lần so với khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước và hơn 3 lần so với khu vực  
FDI. Chỉ số quay vòng vốn của DNNN cũng đạt thấp nhất trong số các khu vực doanh nghiệp (năm  
2017 là 0,34 lần - theo số liệu của Tổng cục Thống kê). Hiệu quả sử dụng vốn thấp và các dự án  
đầu tư kém hiệu quả đã dẫn tới tình trạng nhiều DNNN thua lỗ, nợ đọng kéo dài.  
Không chỉ trong nước, DNNN chưa làm tốt được vai trò dẫn dắt các thành phần kinh tế tham  
gia hội nhập kinh tế quốc tế, DNNN chưa đủ tiềm lực để trở thành cầu nối giữa doanh nghiệp trong  
nước với FDI và giúp các doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân tham gia được vào chuỗi giá trị  
toàn cầu. DNNN chưa hỗ trợ được khu vực kinh tế tư nhân trở thành động lực của nền kinh tế trong  
khi lực lượng này chiếm chủ yếu nhưng quy mô nhỏ, yếu về năng lực vốn, công nghệ, nguồn nhân  
lực và trình độ quản trị doanh nghiệp.`  
Kết luận lại, dù vẫn còn những hạn chế, nhưng DNNN đã có nhiều thay đổi theo hướng ngày  
càng tích cực. DNNN đã thể hiện được vai trò chủ đạo tại một số phương diện sau: (i) DNNN đóng  
góp quyết định để phát triển hệ thống cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng cần thiết cho hoạt động kinh  
doanh của các thành phần kinh tế và phát triển kinh tế - xã hội mà các thành phần kinh tế khác  
chưa làm được do đầu tư lớn, thu hồi vốn chậm, không có khả năng sinh lời trong ngắn hạn. (ii)  
DNNN là lực lượng vật chất quan trọng để đảm bảo môi trường kinh doanh an toàn, hòa bình, ổn  
định cho các thành phần kinh tế khác phát triển thông qua việc đóng góp quyết định cho năng lực  
quốc phòng, an ninh và đối ngoại; là nguồn lực để Nhà nước quản lý, điều hành nền kinh tế. Các  
DNNN, tổ chức tín dụng nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, các cơ quan, tổ chức kinh tế nhà  
nước, hệ thống tài sản công và các nguồn vốn đầu tư nhà nước cùng với cơ chế chính sách là công  
cụ chủ yếu để Nhà nước thực hiện mục tiêu phân phối nguồn lực gắn với tiến bộ và công bằng xã  
hội; trực tiếp cung cấp phần lớn các sản phẩm, dịch vụ công ích cho xã hội.  
3. DNNN CÓ THỂ TIẾP TỤC ĐẢM ĐƯƠNG VAI TRÒ LÀ LỰC LƯỢNG KINH TẾ CHỦ ĐẠO, LÀ TRỤ CỘT  
CỦA NỀN KINH TẾ HAY KHÔNG?  
Nghị quyết số 12-NQ/TW về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp  
nhà nước đã nhìn nhận về tổng thể, kinh tế nhà nước (trong đó có DNNN) đã có những đóng góp  
quan trọng, nhưng “vai trò của doanh nghiệp nhà nước là lực lượng nòng cốt của kinh tế nhà nước,  
dẫn dắt, tạo động lực phát triển đối với nền kinh tế còn hạn chế”. Điều đó cho thấy DNNN vẫn  
đóng vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế đất nước, đặc biệt trong bối cảnh khu vực kinh  
tế tư nhân nói riêng cũng như các thành phần kinh tế khác chưa thể hoặc không thể/ không muốn  
đảm đương những nhiệm vụ về kinh tế, chính trị.  
Quan điểm của Đảng hoàn toàn phù hợp với lý thuyết về kinh tế thị trường, trong đó, DNNN  
- là một bộ phận của kinh tế Nhà nước sẽ luôn là một sự lựa chọn tối ưu để Nhà nước tham gia trực  
tiếp vào thị trường thực hiện mục tiêu của Nhà nước - đóng vai trò là nhân tố trực tiếp tham gia  
vào quá trình thực hiện các quyết định của Nhà nước. Điều đó cho thấy DNNN là một “công cụ  
vật chất” mà Nhà nước vẫn cần sử dụng để điều tiết nền kinh tế thị trường trong giai đoạn hiện tại,  
hướng đến chuyển dần cho khu vực kinh tế tư nhân thực hiện vai trò động lực quan trọng của nền  
kinh tế. Hay nói cách khác là chuyển đổi dần vai trò của DNNN từ “lực lượng nòng cốt” sang “hỗ  
trợ, thúc đẩy quá trình phát triển đất nước” nhằm đạt mục tiêu. Tuy nhiên, cần xác định rõ những  
chi phí cho dạng công cụ này có nằm trong giới hạn chịu đựng của ngân sách, hay nói cách  
khác là cần phải có những cải cách, thay đổi, tiếp tục tái cơ cấu các DNNN để những lợi ích  
mà Chính phủ nhận được từ DNNN tương xứng với chi phí cơ hội mà Chính phủ bỏ ra.  
129  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
Bước tiếp theo, DNNN phải dần chuyển sang vai trò hỗ trợ, góp phần tạo ra môi trường,  
tiền đề thuận lợi cho sản xuất kinh doanh của các loại hình doanh nghiệp khác, lôi cuốn các doanh  
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác vào quĩ đạo.  
Theo đó, các DNNN trong giai đoạn trước mắt sẽ tiếp tục phải thực hiện nhiệm vụ quan trọng  
trong phát triển kinh tế đất nước và dần dần khẳng định sự có mặt của Việt Nam trong thị trường  
quốc tế, dẫn dắt các doanh nghiệp trong nước có mặt trong chuỗi giá trị toàn cầu và sẽ dần rút lui  
nhường chỗ cho các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân.  
4. TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH CẢI CÁCH DNNN THÔNG QUA TÁI CƠ CẤU VÀ TĂNG CƯỜNG QUẢN TRỊ DNNN  
Quan điểm của tác giả cho rằng, tiếp tục đẩy mạnh cải cách DNNN và tăng cường quản trị  
DNNN là hai giải pháp trọng tâm trong việc định vị rõ ràng vai trò của DNNN theo từng giai đoạn,  
không chỉ tập trung vào kết quả hoạt động của DNNN mà còn phải tối ưu hóa vai trò của DNNN  
trong nền kinh tế trong mối tương quan với các doanh nghiệp thuộc khu vực khác, tạo sân chơi  
bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp. Kết quả cải cách DNNN thông qua cổ phần hóa, tái cơ cấu  
các Tập đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước và thoái vốn đầu tư ngoài ngành còn chậm, hiệu quả  
hoạt động và năng lực cạnh tranh của DNNN chưa có nhiều cải thiện. Do đó:  
Thứ nhất, cần tập trung vào tái cấu trúc danh mục tài sản nhà nước đầu tư nhằm thu hồi tối đa  
vốn Nhà nước từ CPH để đầu tư phát triển ngành, lĩnh vực cần tới vai trò của DNNN. Thực hiện  
chủ trương “hầu hết các DNNN có cơ cấu sở hữu hỗn hợp, chủ yếu là doanh nghiệp cổ phần” thông  
qua tiếp tục thu hẹp diện DNNN nắm giữ 100% vốn điều lệ. Đồng thời, xem xét ban hành cơ chế  
cho phép bán hoàn toàn một DNNN không giới hạn quy mô.  
Thứ hai, tập trung vào đẩy mạnh tái cấu trúc quản trị DNNN bao gồm cả nâng cao hiệu quả  
quản trị công ty bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Theo đó, quản trị bên trong tập trung vào  
xây dựng thị trường CEO mang tính cạnh tranh và xây dựng tiêu chí xếp hạng CEO, tiêu chí đánh  
giá về hiệu quả điều hành của Hội đồng quản trị trong doanh nghiệp. Nghiên cứu và áp dụng thống  
nhất nguyên tắc quản trị doanh nghiệp nhà nước của OECD phù hợp với bối cảnh của Việt Nam về  
cơ chế đại diện chủ sở hữu; lợi ích của cổ đông nhỏ và các bên liên quan. Để thực hiện được, cần  
đổi mới hệ thống đòn bẩy khuyến khích; sửa đổi các quy định pháp luật về cán bộ, tiền lương, tiền  
thưởng của Nhà nước trên nguyên tắc xây dựng chính sách khung để giám sát, quản lý mà không  
can thiệp trực tiếp vào doanh nghiệp.  
Hoàn thiện cơ chế quản trị bên ngoài tập trung vào minh bạch hóa thông tin liên quan đến  
hoạt động của DNNN trên cơ sở dựa theo các chuẩn mực và thông lệ quốc tế như các thông tin về  
tài chính - kế toán, kiểm toán, thông tin về thị trường, thông tin quản trị,…./.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1.Phạm Sĩ Thành (2012), Hướng tới lộ trình thực sự tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước, Báo  
cáo thường niên kinh tế Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012.  
2.CIEM (2017), Đẩy mạnh tái cơ cấu DNNN 2016 - 2020 thực chất và hiệu quả, Tài liệu hội  
thảo  
130  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
3.Klaus Rohland (2017), Quản trị kinh tế vì một nhà nước kiến tạo, Tài liệu hội thảo WB - Bộ  
KH&ĐT  
4.Nguyễn Mạnh Quân (2013), Tái cấu trúc doanh nghiệp Nhà nước - Một số vấn đề về  
nguyên tắc và phương pháp tiếp cận, Tạp chí Kinh tế & Phát triển số 193 tháng 7/2013.  
5.Bộ Tài chính, Báo cáo Tổng kết 10 năm 2006 - 2016 việc thực hiện chủ trương, chính sách  
của Đảng về đổi mới, cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả khu vực doanh nghiệp nhà nước  
6.Lienert (2009), Where does the public sector end and the private sector begin?, IMF  
7.OECD (2005), “Báo cáo so sánh OECD về Quản trị doanh nghiệp của các doanh nghiệp  
nhà nước”  
8.Ngân hàng Thế giới (2006), “Bàn tay hữu hình - thách thức của SOE Quản trị doanh nghiệp  
cho các thị trường mới nổi”  
9.Ngân hàng Thế giới (1999), “Giới quan chức trong kinh doanh: ý nghĩa kinh tế và chính trị  
của sở hữu Nhà nước”, Nxb Chính trị Quốc gia  
10. Kowalski, P. và cộng sự (2013), “Doanh nghiệp nhà nước: Các ảnh hưởng thương mại và  
những gợi ý về chính sách”, Các bài viết chính sách thương mại của OECD, No.147, Nxb OECD  
11. Tony Blair (2015), “Vai trò mới của DNNN trong nền kinh tế”.  
12. NIF, Sách Tài chính Việt Nam 2015, Nxb Tài chính, 2016  
13. NIF, Sách Tài chính Việt Nam 2016, Nxb Tài chính, 2017  
14. NIF, Sách Tài chính Việt Nam 2017, Nxb Tài chính, 2018  
15. NIF (2018),“Tái cấu trúc nền tài chính quốc gia hướng đến phát triển nhanh và bền vững  
của Việt Nam”, Diễn đàn Tài chính Việt Nam 2018.  
16. Bộ KH&ĐT (2019), Sách trắng Doanh nghiệp Việt Nam năm 2019, Nxb Thống kê, 2019.  
17. Bộ Tài chính (2019), Báo cáo Tổng hợp đánh giá tình hình cơ cấu lại, các nhiệm vụ, giải  
pháp đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước (Tài liệu phục vụ Hội nghị  
Đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN ngày 16/10/2019)  
18. Chính phủ (2019), Báo cáo về hoạt động đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh  
nghiệp trong phạm vi toàn quốc và việc quản lý, sử dụng Quỹ Hỗ trợ sắp xếp và phát triển doanh  
nghiệp năm 2018.  
pdf 8 trang Thùy Anh 13320 Free
Bạn đang xem tài liệu "Cải cách doanh nghiệp nhà nước nhìn từ vai trò của doanh nghiệp Nhà nước để phát triển bền vững trong điều kiện toàn cầu hóa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcai_cach_doanh_nghiep_nha_nuoc_nhin_tu_vai_tro_cua_doanh_ngh.pdf