Hoạt động quản lý nhà nước về TCĐLCL giai đoạn 2016-2020: Bức tranh nhiều điểm sáng

diễn đàn khoa học và công nghệ  
hoạt động quản lý nhà nước về tCđLCL giai đoạn 2016-2020:  
Bức tranh nhiều điểm sáng  
Nguyễn Hoàng Linh  
tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng, Bộ Kh&cn  
Trong giai đoạn 2016-2020, hoạt động quản lý nhà nước về tiêu chuẩn đo lường chất lượng (TCĐLCL)  
đã đạt được nhiều kết quả nổi bật trong tất cả các mảng công tác: tiêu chuẩn hóa, đo lường, đánh  
giá sự phù hợp (ĐGSPH)..., đóng góp quan trọng trong thành tích chung của toàn ngành khoa học  
và công nghệ (KH&CN). Bên cạnh những kết quả đạt được, tác giả cũng nêu lên những hạn chế và  
giải pháp cần triển khai trong giai đoạn 5 năm tiếp theo 2021-2025.  
thẩm định 411 dự thảo QCVN của thuận lợi, minh bạch trong quản lý  
các bộ, ngành xây dựng; hướng dẫn, nhà nước và hoạt động sản xuất kinh  
góp ý hơn 86 QCĐP của địa phương, doanh của doanh nghiệp.  
bức tranh nhiều điểm sáng  
Trong bức tranh chung phát triển  
kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn  
2016-2020 có những đóng góp quan  
trọng của ngành KH&CN nói chung  
và lĩnh vực TCĐLCL nói riêng. Trong  
giai đoạn vừa qua, mặc dù tình hình  
kinh tế - xã hội trong nước và quốc  
tế có những biến động không nhỏ,  
đặc biệt là năm 2020, nhưng dưới  
sự chỉ đạo sâu sát của Lãnh đạo Bộ  
KH&CN, Tổng cục TCĐLCL đã hoàn  
thành tốt các mục tiêu đề ra, góp  
phần đắc lực vào phát triển kinh tế -  
xã hội trong cả giai đoạn. Những kết  
quả đó được thể hiện ở các số liệu/  
nội dung như:  
qua đó đã góp phần hoàn thiện hệ  
Đổi mới công tác quản lý đo  
thống TCVN, QCVN theo hướng  
lường  
đảm bảo tính hiệu quả, đồng bộ, thꢀc  
Công tác quản lý đo lường luôn  
được quan tâm chỉ đạo, đặc biệt đối  
với việc xây dựng, hoàn thiện hệ  
đẩy thuận lợi hóa thương mại, hội  
nhập quốc tế, nâng cao năng suất  
chất lượng, năng lực cạnh tranh của  
doanh nghiệp. Đặc biệt, trong quá thống văn bản quy phạm pháp luật  
trình thẩm định QCVN, Tổng cục đã về đo lường nhꢁm hoàn thiện cơ sở  
tham mưu cho Lãnh đạo Bộ KH&CN pháp lý và kỹ thuật, quản lý nhà nước  
đề nghị các bộ/ngành khi xây dựng thống nhất từ trung ương đến địa  
QCVN phải loại bỏ các điều kiện  
kinh doanh trong QCVN nhꢁm tạo  
phương, đồng thời triển khai đưa các  
quy định về đo lường vào các luật,  
88% TCVN hài hòa với tiêu  
chuẩn quốc tế  
Công tác tiêu chuẩn và quy  
chuẩn kỹ thuật luôn được Tổng cục  
TCĐLCL đặc biệt quan tâm. Giai  
đoạn 2016-2020, Tổng cục đã tiếp  
nhận, thẩm định, trình công bố 3.973  
TCVN, trong đó, khoảng 88% TCVN  
hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế, nâng  
tổng số TCVN trong hệ thống TCVN  
hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế đạt  
60% (riêng năm 2020, công tác soạn  
thảo và ban hành TCVN, QCVN  
được đẩy mạnh với tỷ lệ hơn 90%  
TCVN xây dựng mới hài hòa quốc tế  
và khu vực); tiếp nhận, thẩm tra và  
Kiểm tra công tác đo lường tại địa phương.  
4
Số 3 năm 2021  
nghị định khác; tổ chức triển khai  
mạnh mẽ ở các bộ, ngành.  
Thông qua các hoạt động này,  
đã làm thay đổi nhận thức, phương  
thức triển khai hoạt động về đo lường  
ở một số bộ ngành, địa phương, cụ  
thể: Nhà nước chỉ tập trung thực hiện  
chức năng quản lý về đo lường, còn  
các hoạt động đo lường khác được  
xã hội hóa mạnh mẽ. Hoạt động  
kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm  
về đo lường đã trở thành một ngành,  
nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện,  
thu hꢀt doanh nghiệp, người dân tích  
cực tham gia và thực hiện theo quy  
định của pháp luật.  
chất lượng phục vụ hành chính công, hoạt động ĐGSPH theo quy định tại  
tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Nghị định số 107/2016/NĐ-CP, Nghị  
nâng cao sức cạnh tranh, đáp ứng  
được nhu cầu kiểm định, hiệu chuẩn,  
thử nghiệm phương tiện đo cho các  
tổ chức, cá nhân trên phạm vi cả  
nước.  
định số 154/2018/NĐ-CP, Tổng cục  
đã thực hiện xã hội hóa mạnh mẽ  
hoạt động này. Các tổ chức ĐGSPH  
đáp ứng điều kiện quy định tại 02  
Nghị định nêu trên (không phân biệt  
các tổ chức thuộc mọi thành phần  
kinh tế) đều được tham gia vào hoạt  
động ĐGSPH trên lãnh thổ Việt Nam.  
Tính đến ngày 30/12/2020, đã cấp  
Giấy chứng nhận đăng ký lĩnh vực  
hoạt động ĐGSPH cho 563 tổ chức  
thử nghiệm, 104 tổ chức chứng nhận,  
77 tổ chức giám định, 05 tổ chức  
kiểm định, 03 tổ chức công nhận.  
Công tác quản lý chất lượng  
sản phẩm, hàng hóa: vượt định  
mức khối lượng công việc đề ra  
Giai đoạn 2016-2020, Tổng cục  
TCĐLCL đã thực hiện việc quản lý,  
cấp giấy chứng nhận đăng ký cung  
cấp dịch vụ kiểm định, hiệu chuẩn,  
thử nghiệm phương tiện đo, chuẩn  
đo lường cho 783 lượt đơn vị; chỉ định  
hoạt động kiểm định, hiệu chuẩn,  
thử nghiệm phương tiện đo, chuẩn  
đo lường cho 508 lượt đơn vị; chứng  
nhận chuẩn đo lường dùng trực tiếp  
để kiểm định phương tiện đo nhóm 2  
cho 739 lượt đơn vị; chứng nhận, cấp  
6.239 thẻ kiểm định viên đo lường;  
phê duyệt 17.747 mẫu phương tiện  
đo nhập khẩu, sản xuất trong nước.  
Công tác quản lý chất lượng sản  
phẩm, hàng hóa gồm nhiều nội dung  
khác nhau, như:  
Hoạt động đánh giá sự phù hợp  
(ĐGSPH): trong 5 năm qua, Tổng  
cục TCĐLCL thường xuyên rà soát,  
loại bỏ khỏi danh mục hàng hóa  
nhóm 2 những hàng hóa không thực  
sự gây mất an toàn hoặc chưa xác  
định được cách thức quản lý hoặc  
chưa có QCVN; đồng thời, xác định  
rõ loại hàng hóa nhập khẩu phải áp  
dụng biện pháp quản lý tiền kiểm,  
hậu kiểm để tạo môi trường kinh  
doanh thuận lợi cho doanh nghiệp  
xuất nhập khẩu.  
Quản lý áp dụng TCVN ISO 9001  
trong cơ quan hành chính: Tổng  
cục đã ban hành Mô hình khung  
Hệ thống quản lý chất lượng theo  
TCVN ISO 9001:2015 cho các cơ  
quan, tổ chức thuộc hệ thống hành  
chính nhà nước tại địa phương  
(Quyết định số 101/QĐ-BKHCN  
ngày 21/1/2019); hướng dẫn các bộ/  
ngành, địa phương về cải cách hành  
chính, trong đó liên quan đến lộ trình  
chuyển đổi áp dụng phiên bản TCVN  
ISO 9001:2008 sang phiên bản  
TCVN ISO 9001:2015; phối hợp với  
Bộ Nội vụ tham gia chấm điểm chỉ số  
cải cách hành chính đối với tiêu chí  
xây dựng, áp dụng HTQLCL của các  
bộ/ngành, địa phương... Giai đoạn  
2016-2020, đã tổ chức kiểm tra tại  
2 bộ (Công Thương, Quốc phòng), 7  
địa phương và gần 20 tổ chức tư vấn,  
chứng nhận, cơ sở đào tạo.  
Đã tham mưu cho Lãnh đạo Bộ  
ban hành Quyết định số 3807/QĐ-  
BKHCN ngày 18/12/2019 về việc  
phê duyệt danh mục ngành, lĩnh  
vực sản xuất, kinh doanh trọng tâm  
cần tăng cường, đổi mới hoạt động  
đo lường đến năm 2025, định hướng  
đến năm 2030; tổ chức nghiên cứu,  
xây dựng kế hoạch các nhiệm vụ  
KH&CN đáp ứng mục tiêu của Đề án  
“Tăng cường, đổi mới hoạt động đo  
lường hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam  
nâng cao năng lực cạnh tranh và  
hội nhập quốc tế giai đoạn đến năm  
2025, định hướng đến năm 2030”.  
Công tác quản lý chất lượng luôn  
vượt mức khối lượng công việc theo  
các năm thông qua số lượng hồ sơ  
giải quyết thủ tục hành chính liên  
quan đến hoạt động ĐGSPH (năm  
2016: 90 hồ sơ; năm 2017: 343 hồ  
sơ; năm 2018: 428 hồ sơ; năm 2019:  
640 hồ sơ). Riêng năm 2020, số  
lượng hồ sơ giải quyết thủ tục hành  
chính là 804 (tăng 25,6% so với  
năm 2019) liên quan đến hoạt động  
ĐGSPH (đăng ký và chỉ định), tư  
vấn ISO trong cơ quan hành chính,  
pha chế xăng dầu, vận chuyển hàng  
nguy hiểm.  
Tính đến ngày 30/12/2020,  
Tổng cục đã cấp Giấy xác nhận đủ  
điều kiện tư vấn cho 29 tổ chức, 23  
chuyên gia tư vấn độc lập; Giấy xác  
Các thủ tục hành chính và các  
công việc theo chức năng nhiệm  
vụ về đo lường được xử lý nhanh  
chóng, kịp thời, góp phần nâng cao  
Thực hiện chủ trương xã hội hóa nhận đủ điều kiện đánh giá cho 05  
5
Số 3 năm 2021  
Diễn đàn Khoa học và Công nghệ  
tổ chức chứng nhận; Giấy xác nhận sản xuất, chất lượng sản phẩm hàng việc chuyên môn ngày càng nhiều  
đủ điều kiện đào tạo cho 07 cơ sở  
đào tạo.  
trong khi ngân sách và nhân lực cho  
hoạt động TCĐLCL ngày càng thu  
hẹp; ii) Sự quan tâm của các cấp  
lãnh đạo của một số bộ/ngành, địa  
phương đối với công tác TCĐLCL  
bước đầu được đẩy mạnh song chưa  
thực sự thường xuyên; iii) Việc xử lý  
hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính  
qua phần mềm còn gặp nhiều khó  
khăn do hệ thống phần mềm chưa  
hóa thỏa mãn ngày càng tốt hơn nhu  
cầu của khách hàng, qua đó khẳng  
định vị trí của các doanh nghiệp Việt  
Nam trên thị trường trong và ngoài  
nước, đóng góp tích cực vào kim  
ngạch xuất khẩu và tăng trưởng của  
nền kinh tế.  
Công tác kiểm tra chất lượng  
hàng hóa: hoạt động kiểm tra chất  
lượng sản phẩm, hàng hóa lưu thông,  
nhập khẩu được tăng cường trong  
giai đoạn 2016-2020 bꢁng các hình  
thức kiểm tra theo chuyên đề, kiểm  
tra đột xuất, khảo sát đánh giá chất  
lượng hàng hóa trên thị trường, từ đó  
đưa ra biện pháp cảnh báo đối với  
các loại hàng hóa kém chất lượng,  
hàng giả, hàng nhái trên các phương  
tiện thông tin đại chꢀng, thực hiện  
kịp thời các nhiệm vụ phát sinh đột  
xuất theo yêu cầu của Lãnh đạo Bộ  
KH&CN, Ban chỉ đạo 389. Trung  
bình mỗi năm Tổng cục đã tiến hành  
kiểm tra và khảo sát hơn 500 cơ sở  
với gần 2.000 mẫu hàng (trong đó  
20% số mẫu được kiểm tra không  
đạt về ghi nhãn); thực hiện kiểm tra  
nhà nước tổng số 1.200 lô xăng dầu  
nhập khẩu mỗi năm, tổng khối lượng  
khoảng hơn 8 triệu tấn.  
Số lượng doanh nghiệp sử dụng  
mã số mã vạch ngày càng tăng  
Tổng kết 5 năm cho thấy, số đồng bộ với các đơn vị trong toàn  
lượng doanh nghiệp sử dụng mã số ngành nên chưa có sự kết nối thông  
mã vạch tăng từ 27.414 năm 2016 suốt, ảnh hưởng đến chỉ số cải cách  
lên 51.732 doanh nghiệp năm 2020. hành chính; iv) Tình trạng hàng giả,  
Năm 2020, Tổng cục tiếp tục tổ chức hàng kém chất lượng diễn biến phức  
tạp, một số bộ phận, cơ sở sản xuất,  
kinh doanh chạy theo lợi nhuận, lợi  
dụng chính sách hậu kiểm để nhập  
khẩu, kinh doanh hàng không phù  
hợp quy chuẩn (dầu nhờn động cơ  
đốt trong, mũ bảo hiểm cho người đi  
mô tô, xe máy…); v) Hoạt động kiểm  
tra nhà nước về đo lường còn bất  
cập, công tác thanh tra và xử lý các  
hành vi vi phạm còn hạn chế, hiện  
vẫn còn nhiều trường hợp gian lận  
tinh vi về đo lường gây thiệt hại cho  
người tiêu dùng, doanh nghiệp và xã  
hội...  
triển khai thực hiện Quyết định số  
100/QĐ-TTg ngày 19/1/2019 của  
Thủ tướng Chính phủ về việc phê  
duyệt Đề án triển khai, áp dụng và  
quản lý hệ thống truy xuất nguồn  
gốc (Đề án 100) nhꢁm thꢀc đẩy hoạt  
động truy xuất nguồn gốc tại các cơ  
sở sản xuất, kinh doanh trong nước;  
tích cực tổ chức hướng dẫn, hỗ trợ  
việc thực hiện Đề án 100 cho các địa  
phương và xây dựng Cổng thông tin  
truy xuất nguồn gốc sản phẩm hàng  
hóa quốc gia nhꢁm hỗ trợ các doanh  
nghiệp, địa phương cập nhật thông  
tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm,  
hàng hóa theo chuẩn GS1, phục  
vụ việc minh bạch thông tin về sản  
phẩm cho người tiêu dùng và phục  
vụ xuất khẩu chính ngạch.  
Cộngđồngdoanhnghiệphưởng  
lợi thông qua Chương trình 712  
Chương trình quốc gia “Nâng cao  
năng suất và chất lượng sản phẩm,  
hàng hóa của doanh nghiệp Việt  
Nam đến năm 2020” (Chương trình  
712) đã hỗ trợ cho gần 50.000 doanh  
nghiệp nâng cao năng suất chất  
lượng thông qua áp dụng tiêu chuẩn,  
quy chuẩn kỹ thuật, các hệ thống  
quản lý tiên tiến, mô hình, công cụ  
cải tiến; các công cụ về năng suất,  
chất lượng tiên tiến trên thế giới như  
LEAN, Six Sigma, TPM đã được đội  
ngũ chuyên gia về năng suất, chất  
lượng tổng hợp, nghiên cứu, phân  
tích và xây dựng thành 50 đầu sách  
về năng suất, chất lượng trong tất cả  
các lĩnh vực, giꢀp doanh nghiệp áp  
dụng giảm thiểu các lãng phí trong  
quá trình sản xuất, tiết kiệm chi phí  
về nhân lực, thời gian, nguyên nhiên  
liệu, năng lượng; sắp xếp lại sản  
xuất, quản trị doanh nghiệp... góp  
phần nâng cao hiệu quả hoạt động  
thúc đẩy hoạt động quản lý nhà nước về  
tCđLCL giai đoạn tới  
Cùng với sở hữu trí tuệ, hoạt động  
TCĐLCL có vai trò rất quan trọng đối  
với nền kinh tế. Thực hiện tốt công  
tác quản lý nhà nước về TCĐLCL sẽ  
góp phần nâng cao chất lượng sản  
phẩm, chống gian lận thương mại,  
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và  
trật tự trong sản xuất, kinh doanh. Vì  
vậy, để nâng cao hơn nữa hiệu quả  
công tác quản lý nhà nước giai đoạn  
tới, cần thực hiện đồng bộ các giải  
pháp:  
Có thể nói, những điểm sáng  
trong hoạt động TCĐLCL giai đoạn  
2016-2020 đã thể hiện sự tích cực,  
chủ động của toàn ngành trong việc  
triển khai thực hiện có hiệu quả các  
chương trình, kế hoạch hành động  
của Chính phủ, Bộ KH&CN; sự đổi  
mới trong công tác chỉ đạo, quản  
lý, điều hành nhꢁm giải quyết các  
vấn đề phát sinh, tháo gỡ khó khăn,  
vướng mắc cho các tổ chức, doanh  
nghiệp liên quan đến hoạt động  
quản lý nhà nước về TCĐLCL.  
Một là, hoàn thiện chính sách,  
pháp luật về chất lượng sản phẩm  
hàng hóa và tiêu chuẩn quy chuẩn  
kỹ thuật  
Bên cạnh những kết quả đạt được  
nêu trên, hoạt động TCĐLCL cũng  
Trong giai đoạn tới cần nghiên  
gặp một số khó khăn như: i) Công cứu, sửa đổi, bổ sung Luật Tiêu  
6
Số 3 năm 2021  
chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, Luật  
Chất lượng sản phẩm, hàng hóa và  
các văn bản có liên quan phù hợp với  
các cam kết tại Hiệp định CPTPP,  
các Hiệp định thương mại tự do thế  
hệ mới nhꢁm đáp ứng yêu cầu thực  
tiễn.  
Hai là, nâng cao hạ tầng chất  
lượng quốc gia phục vụ sự nghiệp  
phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn  
2021-2025, cụ thể:  
Nhiều nhiệm vụ, giải pháp được đề ra tại Hội nghị tổng kết hoạt động TCĐLCL  
giai đoạn 2016-2020.  
Xây dựng Chiến lược tiêu chuẩn  
hóa giai đoạn 2021-2025, tầm nhìn  
2030: xây dựng mới các TCVN chiến  
lược, chủ chốt đáp ứng Chiến lược  
phát triển ngành công nghiệp, công  
nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp, logistic,  
hàng hóa xuất khẩu chủ lực, y tế, an  
toàn thực phẩm, công nghệ thông  
tin, đô thị thông minh, sản xuất  
thông minh, năng lượng quốc gia....;  
xây dựng TCVN cho sản phẩm,  
hàng hóa chủ lực Việt Nam có tính  
đến tính cạnh tranh, lợi thế của sản  
phẩm, hàng hóa Việt Nam. Duy trì hệ  
thống TCVN và đảm bảo sự tiếp cận  
nhanh nhất với sự phát triển của hệ  
thống tiêu chuẩn thế giới.  
trong khu vực.  
cho nhóm sản phẩm, hàng hóa chủ  
lực, nhóm sản phẩm, hàng hóa có  
nguy cơ gây mất an toàn nhập khẩu  
vào Việt Nam; thꢀc đẩy hoạt động  
thừa nhận kết quả ĐGSPH được các  
nước nhập khẩu chấp nhận.  
Thꢀc đẩy hoạt động cung cấp  
dịch vụ đo lường, hiệu chuẩn, kiểm  
định, đo thử nghiệm và hoạt động  
nghiên cứu khoa học về đo lường  
trong cả nước gắn với hoạt động  
đổi mới, sáng tạo, nâng cao năng  
suất, chất lượng để đảm bảo sự  
đꢀng đắn, thống nhất, phục vụ kịp  
thời nhu cầu về đo lường của các cơ  
quan quản lý, doanh nghiệp tại mỗi  
địa phương. Chꢀ trọng đến những  
nghiên cứu nhꢁm theo kịp sự thay  
đổi về phương thức sản xuất, quản  
lý mới trong cuộc cách mạng công  
nghiệp 4.0 hiện nay. Khuyến khích,  
tạo điều kiện để chuyển giao công  
nghệ, thương mại hóa các kết quả  
nghiên cứu khoa học về chuẩn đo  
lường, phương tiện đo.  
Tăng cường quản lý nhà nước về  
hoạt động mã số mã vạch và truy  
xuất nguồn gốc. Hoàn thiện việc  
xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về  
mã số mã vạch đáp ứng yêu cầu  
của phát triển kinh tế - xã hội và hội  
nhập quốc tế, khu vực. Xây dựng  
Cổng truy xuất nguồn gốc quốc gia,  
đẩy mạnh áp dụng mã số mã vạch  
và truy xuất nguồn gốc nhꢁm tạo ra  
sự minh bạch trong sản xuất, chống  
hàng giả, hàng nhái, bảo vệ quyền  
lợi người tiêu dùng và hỗ trợ sản xuất  
của doanh nghiệp.  
Thꢀc đẩy xã hội hóa hoạt động  
tiêu chuẩn, lấy doanh nghiệp làm  
trung tâm, xây dựng TCVN phải gắn  
chặt với hoạt động sản xuất, kinh  
doanh của doanh nghiệp, kết nối  
TCVN với công nghệ mới, sản phẩm  
KH&CN.  
Ba là, thúc đẩy cải cách hành  
chính, xây dựng Chính phủ điện tử  
hướng tới Chính phủ số, nền kinh  
tế số và xã hội số  
Tạo dựng khung pháp lý quản  
lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa:  
cần xác định sản phẩm, hàng hóa  
nhóm 2 trên cơ sở mức độ rủi ro để  
xây dựng biện pháp quản lý phù hợp  
theo cơ chế “tiền kiểm”, “hậu kiểm”;  
chuyển mạnh từ cơ chế “tiền kiểm”  
sang “hậu kiểm” đối với hàng hóa  
nhập khẩu; hoàn thiện cơ chế hậu  
kiểm.  
Thúc đẩy hoạt động đo lường  
quốc gia: trong giai đoạn tới cần  
nâng cao năng lực, đảm bảo thống  
nhất cơ sở hạ tầng đo lường quốc  
gia, đảm bảo các hệ thống chuẩn đo  
lường quốc gia hoạt động ổn định,  
tin cậy, chính xác, giải quyết kịp thời  
yêu cầu của các bộ, ngành, doanh  
nghiệp sản xuất, kinh doanh trong  
tình hình mới. Tập trung mở rộng  
phạm vi thừa nhận quốc tế về khả  
năng đo, hiệu chuẩn (CMC) của Việt  
Để thực hiện nội dung này, Tổng  
cục cần tăng cường liên thông xử lý  
công việc trên môi trường mạng; giải  
quyết thủ tục hành chính mức độ 3,  
4. Nghiên cứu ứng dụng công nghệ  
thông tin phục vụ công tác chỉ đạo  
điều hành tập trung theo định hướng  
của Chính phủ; triển khai việc kết nối  
chia sẻ dữ liệu hành chính giữa các  
cơ quan quản lý từ Trung ương đến  
địa phương về TCĐLCL; phát triển  
cơ sở dữ liệu tập trung, phân quyền  
phù hợp ?  
Xã hội hóa hoạt động ĐGSPH:  
xây dựng cơ chế chính sách cụ thể  
và đồng bộ hỗ trợ nâng cao năng lực  
tổ chức ĐGSPH; khuyến khích các  
tổ chức ĐGSPH đầu tư trang thiết bị,  
Nam; đẩy mạnh tăng cường hợp tác đổi mới công nghệ để nâng cao năng  
quốc tế về đo lường, nâng cao vị lực đánh giá; định hướng phát triển  
thế, uy tín về đo lường của Việt Nam các tổ chức ĐGSPH phục vụ đắc lực  
7
Số 3 năm 2021  
pdf 4 trang Thùy Anh 16540 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hoạt động quản lý nhà nước về TCĐLCL giai đoạn 2016-2020: Bức tranh nhiều điểm sáng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhoat_dong_quan_ly_nha_nuoc_ve_tcdlcl_giai_doan_2016_2020_buc.pdf