Giáo trình Tâm lý học ứng dụng trong kinh doanh

BỘ TÀI CHÍNH  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING  
VIỆN NGHIÊN CỨU KINH TẾ ỨNG DỤNG  
-------------------------  
TÂM LÝ HỌC ỨNG DỤNG  
TRONG KINH DOANH  
(Bậc đại học, cao đẳng chương trình Chất lượng cao, Đặc biệt và Quốc tế)  
Biên soạn: ThS. Nguyễn Võ Huệ Anh  
ThS. Lê Nữ Diễm Hương  
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2019  
                                                                                                                                                                           
MỤC LỤC  
Tâm lý học ứng dụng trong kinh doanh  
PHẦN 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA  
TÂM LÝ HỌC  
Chƣơng 1. KHÁI QUÁT VỀ TÂM LÝ HỌC  
Mục tiêu bài học:  
- Hiểu đƣợc những kiến thức xung quanh các khái niệm cơ bản, bản chất,  
chức năng của các hiện tƣợng tâm lý.  
- Khái quát đƣợc sự hình thành và phát triển tâm lý học qua các giai đoạn  
lịch sử, các trƣờng phái, sự thành công, đóng góp và những hạn chế của  
nó.  
- Đánh giá đƣợc vai trò của tâm lý học trong đời sống và trong kinh doanh  
- Hình thành ý thức vận dụng các phƣơng pháp cơ bản vào trong nghiên  
cứu tâm lý trong hoạt động kinh doanh.  
- Tôn trọng khoa học và có thái độ lịch sự, chuyên nghiệp trong học tập,  
lao động và các mối quan hệ khác.  
1
Tâm lý học ứng dụng trong kinh doanh  
I. TÂM LÝ NGƢỜI  
1. Khái niệm tâm lý ngƣời  
1.1.  
Khái niệm tâm lý  
Trong từ điển tiếng Việt “Tâm lý”, “tâm hồn” định nghĩa một cách tổng quát:  
tâm lý là ý nghĩ, tình cảm…làm thành đời sống nội tâm bên trong con ngƣời.  
Theo nghĩa đời thƣờng chữ “tâm” thƣờng dùng với các cụm từ “nhân tâm”, “tâm  
đắc”, “tâm địa”, “tâm can”…thƣờng có nghĩa là “ tấm lòng” thiên về tình cảm, còn  
chữ “hồn” thƣờng diễn đạt tƣ tƣởng, tinh thần, ý thức, ý chí…của con ngƣời.  
Theo tiếng Latinh “Psyche” là “linh hồn”, “tinh thần” và “logos” là học thuyết, là  
“khoa học”, vì thế “tâm lý học (Psychology)” là khoa học về tâm hồn.  
1.2.  
Khái niệm tâm lý ngƣời  
Theo quan niệm của Triết học thì: Tâm lý là sự phản ánh hiện thực khách quan  
vào não người thông qua chủ thể, tâm lý người có bản chất xã hội lịch sử. Đây chính  
là bản chất của hiện tượng tâm lý người theo quan điểm Tâm lý học Marxist.  
Tâm lý người bao gồm tất cả những hiện tượng tinh thần xảy ra trong đầu óc con  
người, gắn liền và điều hành mọi hành động, hoạt động của con người.  
Tâm lý học (Psychology) là một khoa học nghiên cứu  
về hành vi ứng xử và các tiến trình tâm trí của con người.  
Khi nghiên cứu hành vi ứng xử và tiến trình tâm lý  
của con ngƣời tâm lý học thƣờng nghiên cứu những vấn đề  
sau đây:  
- Tâm lý không chỉ nghiên cứu các hành vi tâm lý của con ngƣời mà còn nghiên  
cứu cả những ý tƣởng, tình cảm, nhận thức, các tiến trình lý luận, kí ức, và cả các  
hoạt động sinh lý giúp cơ thể con ngƣời những chức năng của nó.  
- Trong quá trình nghiên cứu hành vi ứng xử và tiến trình tâm lý của con ngƣời các  
nhà tâm lý học không chỉ quan tâm đến mô tả các hành vi mà còn nghiên cứu ở  
2
Tâm lý học ứng dụng trong kinh doanh  
các mức độ cao hơn; với tƣ cách là một khoa học, tâm lý học cố gắng giải thích,  
dự đoán, cải biến, và sau cùng hoàn thiện cuộc sống.  
Trong cuốn sách này trên góc độ kiến thức của tâm lý học, chúng ta sẽ thấy mối  
quan hệ giữa khoa học tâm lý và sự ứng dụng của chúng trong lĩnh vực kinh doanh,  
nhƣ trong quản trị con ngƣời, trong bổ nhiệm nhân sự, trong sự quản lý các “làn sóng”  
dƣ luận trong tổ chức…; ứng dụng tâm lý trong bán hàng nhƣ dự đoán khách hàng  
tiềm năng, nắm bắt tâm lý khách hàng trong giới thiệu và tƣ vấn sản phẩm, biết khí  
chất – xu hƣớng tâm lý để tác động nhằm tạo nhu cầu tiêu dùng của khách hàng…; sự  
ứng dụng tâm lý trong lĩnh vực lao động – sản xuất nhƣ các phƣơng thức bày trí, sắp  
xếp và màu sắc giúp kích thích sự hăng say, giảm sự mệt mỏi, cũng nhƣ đề phòng các  
tai nạn lao động do tâm lý tạo nên;…  
2. Bản chất của các hiện tƣợng tâm lý  
2.1.  
Tâm lý có bản chất phản ánh  
Tất cả các hiện tƣợng tâm lý, từ những hiện tƣợng tâm lý đơn giản đến những  
thuộc tính, phẩm chất phức tạp của nhân cách con ngƣời đều tồn tại ở trong não dƣới  
dạng hình ảnh này hay hình ảnh khác với mức độ phức tạp khác nhau. Điều kiện đầu  
tiên để có các hình ảnh đó là phải có các hiện tƣợng, sự vật khách quan của thế giới  
bên ngoài tác động tới các giác quan và não bộ bình thƣờng của con ngƣời.  
Tâm lý mang tính chủ quan của từng ngƣời. Tâm lý là phản ánh tồn tại khách  
quan, nhƣng sự phản ánh tâm lý không máy móc, nguyên xi nhƣ phản ánh cơ học, mà  
tâm lý là tổng hoà các hình ảnh chủ quan ( hình ảnh tâm lý) về tồn tại khách quan.  
2.2.  
Bản chất xã hội – lịch sử của tâm lý.  
Để tồn tại và phát triển, thế hệ trƣớc đã truyền đạt kinh nghiệm xã hội- lịch sử  
cho thế hệ sau. Thế hệ sau tiếp thu những kinh nghiệm và sáng tạo nên những giá trị  
vật chất, tinh thần mới. Qua đó tâm lý con ngƣời đƣợc hình thành và phát triển  
Con ngƣời tiếp thu nền văn minh nhân loại và biến thành tâm lý của bản thân.  
Tâm lý mỗi ngƣời có cái chung của loài ngƣời, của dân tộc, của vùng, của địa phƣơng  
nhƣng cũng có cái riêng của mỗi con ngƣời cụ thể.  
3
Tâm lý học ứng dụng trong kinh doanh  
Nhƣ vậy, mỗi ngƣời có một đời sống tâm lý riêng, một tâm hồn riêng. Tâm lý  
mỗi ngƣời là kinh nghiệm xã hội- lịch sử chuyển thành kinh nghiệm của bản thân.  
2.3.  
Tâm lý có bản chất phản xạ.  
Tất cả các hình ảnh tâm lý, các kinh nghiệm sống bản thân đều tồn tại trong não  
bộ. Nhƣng không phải cứ có não là có tâm lý. Muốn có tâm lý phải có tồn tại khách  
quan tác động vào não và não ngƣời phải tiếp nhận đƣợc tác động ấy.  
Để tiếp nhận tác động từ bên ngoài vào, não phải hoạt động. Não hoạt động theo  
cơ chế phản xạ. Phản xạ có bốn khâu: Khâu dẫn vào, khâu trung tâm, khâu dẫn ra,  
khâu liên hệ ngƣợc.  
Có hai loại phản xạ: phản xạ không điều kiện và phản xạ có điều kiện. Phản xạ  
không điều kiện là cơ sở sinh lý thần kinh của bản năng, phản xạ có điều kiện là cơ sở  
sinh lý của các các hoạt động tâm lý khác, đặc trƣng của con ngƣời. Nhƣng mỗi hiện  
tƣợng tâm lý không phải gồm một phản xạ có điều kiện mà gồm nhiều hoặc một hệ  
thống phản xạ có điều kiện.  
Nhƣ vậy, muốn có tâm lý nhất thiết phải có phản xạ, đặc biệt là phản xạ có điều  
kiện. Tâm lý có bản chất phản xạ.  
Có thể tổng kết bản chất tâm lý người trong sơ đồ sau đây:  
Sơ đồ: Tổng quát hóa về bản chất tâm lý người  
4
Tâm lý học ứng dụng trong kinh doanh  
3. Chức năng của các hiện tƣợng tâm lý ngƣời  
Khi tiến hành một hành động, con ngƣời không sử dụng một chức năng riêng lẽ,  
nó là sự tổng hợp các chức năng để giải quyết một nhiệm vụ của cuộc sống. Nhờ có  
các chức năng này mà con ngƣời có thể thích ứng với môi trƣờng sống, nhờ đó con  
ngƣời mới tồn tại. Không những thế nhờ chúng con ngƣời làm chủ môi trƣờng và hoản  
cảnh, sáng tạo và cải biến bản thân và kể cả cải tạo thế giới để đạt đƣợc mục đích của  
con ngƣời.  
4. Phân loại các hiện tƣợng tâm lý  
Phân loại các hiện tượng tâm lý: có 2 cách phân loại tâm lý học chủ yếu.  
4.1  
Cách phân loại phổ biến nhất  
Các hiện tƣợng tâm lý đƣợc phân loại theo thời gian tồn tại của chúng và vị trí  
tƣơng đối của chúng trong nhân cách. Theo cách phân chia này, các hiện tƣợng tâm lý  
có ba loại chính: các quá trình tâm lý, các trạng thái tâm lý, các thuộc tính tâm lý.  
5
Tâm lý học ứng dụng trong kinh doanh  
Các quá trình tâm lý: Quá trình tâm lý là những hiện tƣợng tâm lý diễn ra  
trong một thời gian tƣơng đối ngắn có mở đầu, diễn biến và kết thúc tƣơng đối rõ ràng.  
Người ta phân biệt các quá trình tâm lý khác nhau:  
- Các quá trình nhận thức gồm: cảm giác, tri giác, trí nhớ, tƣởng tƣợng, tƣ duy,  
ngôn ngữ.  
- Các quá trình cảm xúc biểu thị sự vui mừng hay tức giận, dễ chịu hay khó  
chịu, nhiệt tình hay thờ ơ.  
- Quá trình hành động ý chí.  
- Các quá trình tâm lý diễn ra trong một thời gian nhất định rồi kết thúc.  
Các trạng thái tâm lý: Là những hiện tƣợng tâm lý diễn biến không rõ mở đầu  
và không rõ cả kết thúc. Thƣờng các trạng thái tâm lý đi kèm theo hiện tƣợng tâm lý  
khác, chúng đóng vai trò làm nền tảng cho các hiện tƣợng tâm lý này. Ví dụ: Trạng  
thái chú ý trong nhận thức. Tâm trạng buồn bực, vui vẻ, sợ hãi, trạng thái căng thẳng  
trong hành động.  
Các thuộc tính tâm lý: Là các hiện tƣợng tâm lý mang tính ổn định, khó hình  
thành và khó mất đi, tạo thành những nét riêng của nhân cách. Ngƣời ta thƣờng nói  
đến bốn thuộc tính tâm lý cá nhân nhƣ sau: xu hƣớng, tính cách, khí chất, năng  
lực...Có thể biểu hiện mối quan hệ bằng sơ đồ nhƣ sau:  
6
Tâm lý học ứng dụng trong kinh doanh  
TÂM LÝ  
Các quá trình  
Các thuộc tính  
tâm lý  
tâm lý  
Các trạng thái  
tâm lý  
Ngƣời ta còn phân biệt hiện tƣợng tâm lý sống động (thể hiện trong hành vi, hoạt  
động) và hiện tƣơng tâm lý tiềm tàng (tích động trong sản phẩm hoạt động).  
II. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ HỌC  
1. Những tƣ tƣởng tâm lý học thời cổ đại  
1.1  
Các nhà thông thái duy tâm cho rằng  
“Tư tưởng, tâm lý là cái có trước, còn thực tại mà con người sống là cái có thứ  
hai, cái có sau. Tinh thần, tư tưởng , tâm lý tồn tại không phụ thuộc vào con người và  
sự vật chung quanh”  
Nhà hiền triết Hy Lạp cổ đại là Socrates (469 – 399  
TCN). Socrates đã khẳng định có một loại hiện tƣợng thuộc về  
cái “tôi” cần phải đƣợc nhận thức, nghiên cứu, tìm ra quy luật.  
Đây là tƣ tƣởng quan trọng đối với sự ra đời của khoa học tâm  
lý, ý thức khép kín, ẩn sâu bên trong chủ quan ta, do chính ta  
hiểu đƣợc ta, còn ngƣời khác không thể hiểu đƣợc tâm lý.  
7
Tâm lý học ứng dụng trong kinh doanh  
Platon (428 – 348 TCN): ông cho rằng tâm hồn do trời sinh  
ra, ta không thể biết đƣợc và tâm hồn gồm 3 loại: Tâm hồn trí  
tuệ nằm trong đầu, chỉ có ở giai cấp chủ nô, tâm hồn dũng cảm  
nằm ở ngực, chỉ có ở tầng lớp quý tộc, tâm hồn khát vọng nằm ở  
bụng, chỉ có ở tầng lớp nô lệ.  
1.2  
Các nhà thông thái duy vật  
Ngƣời đầu tiên bàn về tâm hồn là Aristotle (384 – 322  
TCN). Ông là một trong những ngƣời có quan điểm duy vật.  
Quan điểm của ông đƣợc bộc lộ rõ nhất trong tác phẩm bàn về  
“Bàn về linh hồn” đƣợc coi là cuốn sách đầu tiên trên thế giới  
bàn sâu về tâm hồn con ngƣời.  
“Tales (thế kỷ thứ VII –V TCN); Anaximen (thế kỷ V  
TCN). Heracleitus (thế kỷ VI – V TCN) cho rằng tâm lý, tâm  
hồn cũng nhƣ vạn vật đều đƣợc cấu tạo từ vật chất nhƣ: nƣớc,  
lửa, không khí, đất.  
Democritus (460 – 370 TCN) cho rằng tâm hồn chỉ là một  
dạng vật thể. Tâm hồn đƣợc cấu tạo bởi “nguyên tử lửa” đó là  
những hạt tròn, nhẵn, vận động với tốc độ nhanh nhất trong cơ  
thể. Khi tâm hồn cảm thấy hạnh phúc là lúc các nguyên tử lửa  
vận động nhẹ nhàng, êm dịu. Khi con ngƣời cáu gắt là lúc các  
“nguyên tử lửa” vận động hỗn loạn.  
Những tư tưởng các nhà thông thái thời cổ đại (dù là duy tâm hay duy vật) đã có  
những đóng góp nhất định cho sự hình thành và phát triển của khoa học tâm lý, giúp  
nó dần dần tách khỏi triết học để trở thành một khoa học độc lập sau này”.  
8
Tâm lý học ứng dụng trong kinh doanh  
2. Những tƣ tƣởng tâm lý học từ nửa đầu thế kỷ XIX trở về trƣớc  
Thuyết nhị nguyên: René Descartes (1596 – 1650) đại  
diện cho phái nhị nguyên luận” cho rằng vật chất và tâm hồn là  
hai thực thể song song tồn tại. René Descartes coi cơ thể con  
ngƣời phản xạ nhƣ một chiếc máy. Còn bản thể tinh thần, tâm  
lý của con ngƣời thì không biết đƣợc.  
Sang thế kỷ XVIII, tâm lý học bắt đầu có tên gọi. Nhà  
triết học Đức Voltaire đã chia nhân chủng học (nhân học) ra  
thành hai thứ khoa học, một là khoa học về cơ thể, hai là tâm lý  
học. Năm 1732 ông xuất bản cuốn “Tâm lý học kinh nghiệm”.  
Sau đó 2 năm (1734) ra đời cuốn “Tâm lý học lý trí”. Thế là  
tâm lý học ra đời từ đó.  
Các thế kỷ XVII, XVIII, XIX có nhiều cuộc tranh luận giữa trƣờng phái duy  
tâm và duy vật.  
Đến nữa đầu thế kỷ XIX có rất nhiều điều kiện để tâm lý học trƣởng thành, tự  
tách ra khỏi mối quan hệ phụ thuộc chặt chẽ vào triết học với tƣ cách là một bộ phận,  
một chuyên ngành của triết học.  
3. Tâm lý học trở thành một khoa học độc lập  
Từ đầu thế kỷ XIX trở đi, nền sản xuất thế giới đã phát triển mạnh, thúc đẩy sự  
tiến bộ không ngừng của nhiều lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, tạo điều kiện cho tâm lý  
trở thành một khoa học độc lập. Trong đó phải kể đến thành tựu của các ngành khoa  
học có liên quan nhƣ: thuyết tiến hóa của Darwin Charles (1821 – 1882) ngƣời Đức,  
thuyết tâm – vật lý học của Feisner (1801 – 1911) ngƣời Anh, và các công trình nghiên  
cứu về tâm thần học của Gantôn (1822 – 1893) ngƣời Pháp.  
Đến 1879 nhà tâm lý học Đức Willhelm Wundt (1832 –  
1920) đã sáng lập ra phòng thí nghiệm tâm lý học đầu tiên  
trên thế giới tại thành phố Leipzig. Và một năm sau đó trở  
thành viện tâm lý học đầu tiên trên thế giới, xuất bản các tạp  
chí tâm lý học. Từ vƣơng quốc của chủ nghĩa duy tâm, coi ý  
9
Tâm lý học ứng dụng trong kinh doanh  
thức chủ quan là đối tƣợng tâm lý học và con đƣờng nghiên cứu ý thức là các phƣơng  
pháp nội quan, tự quan sát. Wilhelm Wundt đã bắt đầu chuyển sang nghiên cứu tâm lý,  
ý thức một cách khách quan bằng quan sát, thực nghiệm, đo đạc.  
Để chứng minh với các ngành khác trên trƣờng khoa học rằng, tâm lý học cũng  
có đối tƣợng nghiên cứu riêng đó là một khoa học nghiên cứu về các tiến trình tâm lý  
và hành vi, có phƣơng pháp nghiên cứu rõ ràng, có lực lƣợng nhà khoa học nghiên  
cứu, cơ quan ngôn luận riêng và có khách thể nghiên cứu cụ thể. Đánh dấu trong lịch  
sử, sự tách hẳn và nghiên cứu có hệ thống trên trƣờng khoa học.  
Để góp phần tấn công vào chủ nghĩa duy tâm, đầu thế kỷ thứ XX các dòng phái  
tâm lý học khách quan ra đời đó là: tâm lý học hành vi, tâm lý học Gestalt, phân tâm  
học. Trong thế kỷ XX còn có những trƣờng phái tâm lý học khác có vai trò nhất định  
trong lịch sử phát triển khoa học tâm lý hiện đại nhƣ dòng phái tâm lý học nhân văn,  
tâm lý học nhận thức. Và nhất là sau cách mạng tháng Mƣời Nga 1917, dòng phái tâm  
lý học hoạt động do các nhà tâm lý học Xô Viết sáng lập đã đem lại những bƣớc ngoặt  
lịch sử đáng kể trong tâm lý học.  
4. Các quan điểm cơ bản trong tâm lý học hiện đại  
4.1.  
Tâm lý học hành vi  
Tâm lý học hành vi do Broadus Watson (1878 – 1958) ngƣời Mỹ chủ trƣơng  
không mô tả hay giảng giải về các trạng ý thức của con ngƣời, mà chỉ cần nghiên cứu  
hành vi của họ là đủ. Hành vi đƣợc quan niệm là tổng số các cử động bên ngoài đƣợc  
nảy sinh để đáp lại một kích thích nào đó theo công thức S – R (S: kích thích, R: p hản  
ứng). Các cử động này thể hiện chức năng thích nghi với môi trƣờng xung quanh. Vì  
có thể quan sát đƣợc các cử động này nên có thể và phải nghiên cứu chúng một cách  
khách quan, từ đó có thể điều khiển hành vi theo phƣơng pháp “thử - sai”.  
Các học trò Watson sau này nhƣ đã đƣa vào công thức S- R những “biến số  
trung gian” nhƣ: nền văn hóa, kinh nghiệm sống, nhu cầu, trạng thái, chờ đón…  
10  
Tâm lý học ứng dụng trong kinh doanh  
Câu phát ngôn nổi tiếng của Watson  
Hãy cho tôi một chục trẻ em khoẻ mạnh, có thân hình tốt, thế giới đặc biệt của  
riêng tôi sẽ nuôi dưỡng chúng và bảo đảm chọn bất kỳ đứa trẻ nào để đào tạo bất cứ  
thành chuyên gia nào tôi mong muốn: Bác sỹ, luật sư, nghệ sỹ, thương gia và ngay cả  
những hành khất hay trộm cắp không cần biết đến tài năng, khuynh hướng, thiên  
hướng, khả năng, năng khiếu và chủng tộc của tổ tiên.  
Tr ch:  inh  hương  u   Tâm lý học, NXB. Giáo Dục, Tr12.  
Bạn nhận định gì về quan điểm này của nhà Tâm lý học hành vi J. Watson?  
4.2.  
Tâm lý học cấu trúc (còn gọi là tâm lý học Gestalt)  
Do bộ ba Max Wertheimer (1880 – 1943), Wolfgarg Kohler (1887 – 1967) và  
Kurt Koffka (1886 – 1947) lập ra ở Đức. Đây là một dòng tâm lý học khách quan  
chuyên nghiên cứu tri giác và ít nhiều nghiên cứu tƣ duy. Họ đã đi sâu nghiên cứu các  
quy luật về tính ổn đinh và tính trọn vẹn của tri giác, quy luật “bừng sáng” của tƣ duy.  
Trên cở sở thực nghiệm, các nhà tâm lý học Gestatl đã khẳng định các quy luật của tri  
giác, tƣ duy và tâm lý của con ngƣời do các cấu trúc tiền định của não quyết định. Họ  
ít chú ý đến vấn vốn sống, kinh nghiệm xã hội, lịch sử…  
4.3.  
Phân tâm học (còn gọi là tâm lý học Sigmund Frued)  
“Phân tâm học do bác sỹ Sigmund Frued ngƣời Áo (1859 – 1939) xây dựng nên.  
Luận điểm cơ bản của bác sỹ Sigmund Frued coi nhân cách con ngƣời làm 3 khối:  
1. Cái ấy (cái vô thức).  
2. Cái tôi.  
3. Cái siêu tôi.  
11  
Tâm lý học ứng dụng trong kinh doanh  
4.4.  
Tâm lý học nhân văn  
Trƣờng phái này do Carl Rogers (1902 – 1987) ngƣời Mỹ và Abraham Maslow  
sáng lập. Các nhà tâm lý học nhân văn quan niệm rằng: bản chất con ngƣời vốn tốt  
đẹp, con ngƣời có lòng vị tha, có tiềm năng kỳ diệu.  
Abraham Maslow đã nêu năm mức độ nhu cầu của con ngƣời xếp theo thứ tự từ  
thấp đến cao:  
4.5.  
Tâm lý học nhận thức  
Đại diện nổi tiếng của dòng họ tâm lý học nhận thức  
Jean Piaget (Thụy Sỹ) đối tƣợng nghiên cứu của dòng tâm lý  
học này là hoạt động nhận thức là nghiên cứu tâm lý con  
ngƣời, nhận thức của con ngƣời trong mối quan hệ với môi  
trƣờng, với cơ thể và não bộ.  
4.6.  
Tâm lý học hoạt động  
Dòng tâm lý học này do các nhà tâm lý học Xô Viết sáng lâp nhƣ: L.X.  
Vuigotxkií (1896 – 1834), X.L. Rubinstiên (1899 – 1960), A.N. Leontiev (1930 –  
1979), A.R. Luria (1902 – 1977)…Dòng phái tâm lý học này lấy triết học Mar –  
12  
Tâm lý học ứng dụng trong kinh doanh  
Lênin làm cơ sở phƣơng pháp luận Marxist làm mẫu để nghiên cứu đời sống con  
ngƣời. Tâm lý học hoạt động cho rằng: tâm lý là sự phản ánh thế giới khách quan vào  
não thông qua hoạt động. Tâm lý ngƣời mang tính chủ thể, có bản chất xã hội, tâm lý  
ngƣời đƣợc hình thành, phát triển trong hoạt động và giao lƣu của con ngƣời trong xã  
hội. Chính vì thế tâm lý học Mar-xit đƣợc gọi là tâm lý học hoạt động.  
III. CÁC PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TÂM LÝ HỌC  
Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu tâm lý học  
ꢀ Phƣơng pháp quan sát  
Quan sát là một loại tri giác có chủ định, nhằm xác định các đặc điểm của đối  
tƣợng qua nhƣng biểu hiện nhƣ hành động, cử chỉ, điệu bộ, lời nói. Ví dụ: nghiên cứu  
hứng thú học tập của học sinh thông qua quan sát các biểu hiện bên ngoài. Sự đúng giờ  
khi đi học, chuẩn bị bài trƣớc khi lên lớp, tích cực tham gia trong xây dựng bài, tiếp  
thu tri thức mới…  
Quan sát tâm lý giúp chúng ta từ việc quan sát các biểu hiện tâm lý bên ngoài  
của con ngƣời rút ra những đặc điểm và quy luật tâm lý bên trong con ngƣời của họ.  
Trong tâm lý học sử dụng 2 hình thức quan sát sau: quan sát khách quan và tự quan  
sát.  
ꢀ Phƣơng pháp thực nghiệm  
Thực nghiệm là quá trình tác động vào đối tƣợng một cách chủ động, trong  
những điều kiện đã đƣợc khống chế, để gây ra ở đối tƣợng những biểu hiện nhân quả,  
tính quy luật, cơ cấu, cơ chế của chúng.  
Có một số loại thực nghiệm sau:  
-
-
Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm  
Thực nghiệm tự nhiên.  
ꢀ Phƣơng pháp trắc nghiệm  
13  
Tâm lý học ứng dụng trong kinh doanh  
Đây là một hình thức thực nghiệm đặc biệt dùng để chuẩn đoán tâm lý đã đƣợc  
chuẩn hóa trên một số lƣợng đủ ngƣời tiêu biểu.  
Test trọn bộ gồm 4 phần:  
-
-
-
Văn bản test.  
Hƣớng dẫn đánh giá.  
Bản chuẩn hóa.  
ꢀ Phƣơng pháp nghiên cứu sản phẩm lao động  
Phƣơng pháp nghiên cứu sản phẩm lao động dựa vào các sản phẩm vật chất và  
tinh thần của đối tƣợng để nghiên cứu các chức năng tâm lý của họ vì trong sản phẩm  
đó chứa đựng một số dấu vết tâm lý, nhân cách của chính đối tƣợng. Sản phẩm lao  
động là kết quả của quá trình vận động, hoạt động của chủ thể, thông qua sản phẩm  
này, nhà nghiên cứu sẽ phát hiện đƣợc những đặc điểm tâm lý phổ biến hoặc chủ yếu  
của họ vì đặc điểm tâm lý đƣợc hình thành và thể hiện qua và bằng hoạt động.  
ꢀ Phƣơng pháp đàm thoại  
Đó là cách đặt những câu hỏi cho đối tƣợng và dựa vào trả lời của họ để thu  
thập thêm những thông tin cần thiết. Việc tiến hành các cuộc đàm thoại sẽ giúp các  
nhà nghiên cứu tìm hiểu những thông tin xác thực và có độ tin cậy cao nhƣng cần phải  
có kỹ thuật nhất định. Quá trình đàm thoại sẽ tiến hành có nhiều giá trị khi nó đƣợc  
tiến hành trong những trạng thái tâm lý phù hợp của nghiệm thể với các yêu cầu khác.  
Tuy nhiên, nhà nghiên cứu cũng cần chuẩn bị trƣớc các nội dung cần tìm hiểu, cần trò  
chuyện và những phƣơng án thay thế.  
ꢀ Phƣơng pháp điều tra  
Là phƣơng pháp dùng một số câu hỏi nhất loại đặt ra cho một số đối tƣợng  
nghiên cứu nhằm thu thập ý kiến chủ quan của họ về một số vấn đề nào đó, có thể trả  
lời hay trả lời bằng miệng và đƣợc ghi lại. Phƣơng pháp điều tra đƣợc phát huy nhiều  
trong trƣờng hợp thăm dò nhận thức, thái độ chung của cộng đồng với một vấn đề nào  
đó.  
14  
Tâm lý học ứng dụng trong kinh doanh  
ꢀ Nghiên cứu trƣờng hợp điển hình  
Là phƣơng pháp tìm hiểu sâu rộng một cá nhân hoặc một nhóm rất ít ngƣời.  
Theo phƣơng pháp pháp này nhà tâm lý thƣờng đƣợc thực hiện một trắc nghiệm tâm  
lý, trong đó nhà tâm lý sử dụng một loạt các câu hỏi đƣợc soạn thảo cẩn thận để tìm  
hiểu sâu sắc cá tính của đối tƣợng nghiên cứu.  
ꢀ Nghiên cứu tƣơng quan  
Là phƣơng pháp nghiên cứu mối tƣơng quan giữa hai hành vi hoặc giữa các  
phản ứng đối với hai câu hỏi nêu trong bảng lục vấn. Nhƣng phƣơng pháp này cũng có  
một nhƣợc điểm khó giải thích bản chất liên hệ nhân quả.  
IV. VAI TRÒ CỦA TÂM LÝ HỌC  
NHỮNG TRIỂN VỌNG TÂM LÝ HỌC HI N NA  
Triển vọng  
Tập trung nghiên cứu  
Những chủ đề nghiên cứu cơ bản  
Những nổ lực vô thức  
Những xung đột  
Hành vi nhƣ sự diễn tả công khai  
những động lực vô thức  
Tâm lý – động  
học  
Những phản ứng công Hành vi và động lực, nguyên nhân  
khai cụ thể và kết quả của nó  
Hành vi  
Trải nghiệm và tiềm năng Những kiểu sống  
Nhân văn  
của con ngƣời  
Những giá trị  
Nhƣng mục tiêu  
Những tiến trình tinh thần Những tiến trình tinh thần đƣợc  
Nhận thức  
suy ra từ những dấu hiệu hành vi  
Ngôn ngữ  
15  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 150 trang Thùy Anh 16101 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Tâm lý học ứng dụng trong kinh doanh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_tam_ly_hoc_ung_dung_trong_kinh_doanh.pdf