Nhu cầu tham vấn tâm lý của sinh viên trường Đại học Lâm nghiệp

Kinh tế & Chính sách  
NHU CẦU THAM VẤN TÂM LÝ CỦA SINH VIÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP  
Bùi Thị Ngọc Thoa1  
1Trường Đại học Lâm nghiệp  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu này thực hiện nhằm đánh giá thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lý của sinh viên Trường Đại học  
Lâm nghiệp về vấn đề phát triển năng lực bản thân, định hướng nghề nghiệp. Kết quả khảo sát ngẫu nhiên 360  
sinh viên các khóa đang học tập tại trường bằng bảng hỏi cho thấy sinh viên có nhu cầu tham vấn tâm lý. Sinh  
viên đã có nhu cầu chia sẻ và giải quyết những khó khăn của mình. Trong đó, đối tượng mà các em lựa chọn để  
chia sẻ và giúp đỡ là người thân trong gia đình, bạn bè, thầy cô giáo và các chuyên gia tham vấn tâm lý. Một số  
sinh viên đã tìm đến tham vấn tâm lý và đã lựa chọn các hình thức tham vấn khác nhau, nhưng chủ yếu là tham  
vấn qua điện thoại. Nhiều sinh viên đã nhận thức được vai trò của tham vấn tâm lý là cần thiết trong cuộc sống.  
Nghiên cứu còn chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến việc thoả mãn nhu cầu tham vấn tâm lý của sinh viên và một  
số kiến nghị nhằm đáp ứng nhu cầu tham vấn tâm lý của sinh viên trong Nhà trường.  
Từ khóa: chuyên gia tham vấn, hình thức tham vấn, tham vấn tâm lý, Trường Đại học Lâm nghiệp.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Rogers đã xây dựng phương pháp thân chủ  
trọng tâm, là một bước chuyển tham vấn có  
định hướng, do ảnh hưởng của hướng nghiệp  
sang tham vấn tập trung vào thân chủ và vấn  
đề. Như vậy, các nghiên cứu tâm lý học trên  
thế giới đã chú trọng tới nhu cầu tham vấn  
trong giáo dục nhằm giúp ổn định tinh thần  
cho học sinh, sinh viên và tạo nên môi trường  
học tập thân thiện.  
Tại Việt Nam hiện nay, sinh viên các trường  
Cao đẳng, Đại học phải đối mặt với nhiều  
thách thức từ cuộc sống thực tiễn như áp lực  
học tập, áp lực từ các mối quan hệ xã hội,  
những thay đổi của môi trường sống khiến cho  
sinh viên lúng túng và gặp khó khăn trong học  
tập, trong việc định hướng nghề nghiệp tương  
lai. Nếu không tự giải quyết được những khó  
khăn đó, trạng thái tâm lý sẽ ảnh hưởng tiêu  
cực từ đến hoạt động sống của các sinh viên.  
Sinh viên có thể bị căng thẳng, lo âu, trầm  
cảm, có những biểu hiện rối nhiễu hành vi. Vì  
vậy, sinh viên tại các trường Cao đẳng và Đại  
học cần được tham vấn và trợ giúp kịp thời của  
các chuyên gia tham vấn tâm lý để có sự tự tin  
và khả năng giải quyết những khó khăn trong  
cuộc sống, tạo ra sự cân bằng tâm lý, học tập  
đạt kết quả tốt, mở rộng giao lưu và hoàn thiện  
nhân cách.  
Nhu cầu là vấn đề quan trọng mà rất nhiều  
nhà khoa học ở các lĩnh vực khác nhau nghiên  
cứu và quan tâm. Dưới góc độ tâm lý học, các  
tác giả như E. Tolman, A. Maslow, H. Murray  
hay Rubinstein đã nghiên cứu về nhu cầu và  
nhu cầu tham vấn tâm lý từ rất lâu. Từ năm  
1918, E. Tolman bắt đầu nghiên cứu về tâm lý  
theo cách tiếp cận về thuyết hành vi có mục  
đích. Henry Alexander Murray (1893- 1988),  
khi nghiên cứu về nhân cách đã đưa ra những  
kết quả nghiên cứu về các loại nhu cầu, tính tổ  
chức, vai trò ảnh hưởng của nhu cầu tới hành  
động của con người. Năm 1980, tác giả John  
Dewey đã chỉ ra vai trò của tham vấn nhằm  
phát huy kinh nghiệm người học trong môi  
trường giáo dục (Nguyễn Quang Uẩn, 2006).  
Từ đó cho thấy sự cần thiết của cách tiếp cận  
tham vấn trong đổi mới phương pháp giáo dục,  
ứng xử tại trường học. Các tác giả như G.N.  
Ingersoll, Esther Tan sau khi nghiên cứu về  
khó khăn trong giao tiếp của học sinh với cha  
mẹ, giáo viên, bạn bè đã đề xuất những can  
thiệp qua tham vấn học đường nhằm trợ giúp  
giải quyết mối quan hệ tương tác giữa học  
sinh, phụ huynh và thầy cô.  
Từ giữa thế kỷ XX, khi tham vấn phát triển  
như một nghề chuyên nghiệp, tác giả G.  
Williamson đã bổ sung và phát triển quy trình  
tham vấn giải quyết vấn đề với 5 bước cơ bản  
từ chẩn đoán, kết thúc đến theo dõi. Năm 1950,  
tác phẩm “Tham vấn và trị liệu tâm lý” của C.  
Trong khi đó, ở Việt Nam tham vấn mới  
phát triển trong vài năm gần đây và còn nhiều  
vấn đề bất cập. Tại các thành phố lớn như Hà  
Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và một số thành  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 5 - 2020  
169  
Kinh tế & Chính sách  
phố khác trong nước mới bắt đầu triển khai và  
áp dụng thí điểm tham vấn ở một số trường  
phổ thông cho học sinh. Năm 2006, tác giả Bùi  
Thị Xuân Mai, Trường Đại học Lao Động - Xã  
hội nghiên cứu về thực trạng nhu cầu tham vấn  
của học sinh, sinh viên hiện nay. Kết quả chỉ  
ra, học sinh sinh viên cần tham vấn về vấn đề  
học tập chiếm 76%; về vấn đề tình yêu 78% và  
vấn đề việc làm 80%. Tác giả Triệu Thị Hương  
với nghiên cứu về nhu cầu tham vấn của sinh  
viên Học viện Cảnh sát Nhân dân năm 2006.  
Kết quả nghiên cứu chỉ ra hầu hết các sinh viên  
đều có nhu cầu được trợ giúp giải quyết những  
khó khăn tâm lý chiếm 91,43% và việc thành  
lập phòng tham vấn tâm lý cho sinh viên trong  
Học viện là rất cần thiết với 78,4%. Năm 2010,  
tác giả Chu Thị Hương Nga nghiên cứu đề tài  
về “Nhu cầu tham vấn tâm lý của sinh viên ở  
một số trường đại học trên địa bàn thành phố  
Hà Nội”. Kết quả nghiên cứu chỉ ra, sinh viên  
đã nhận thức được vai trò của tham vấn tâm lý  
là cần thiết và rất cần thiết trong cuộc sống;  
vấn đề tâm lý mà sinh viên rất mong muốn và  
cần thiết được tham vấn chủ yếu là giải toả áp  
lực trong học tập, phương pháp tự học, bế tắc  
trong định hướng công việc tương lai; một số ít  
sinh viên đã tìm đến tham vấn tâm lý và đã lựa  
chọn tham vấn qua điện thoại. Tại Trường Đại  
học Lâm nghiệp, chưa có nghiên cứu nào chỉ  
ra vai trò cũng như nhu cầu tham vấn tâm lý  
của sinh viên. Như vậy, các nghiên cứu đã chỉ  
ra thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lý nói  
chung và nhu cầu tham vấn tâm lý ở học sinh,  
sinh viên. Tuy nhiên, những nghiên cứu chủ  
yếu mang tính chất mô tả thực trạng, thống kê  
xã hội học chưa đi sâu vào khía cạnh tâm lý  
của nhu cầu tham vấn.  
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Mục tiêu nghiên cứu  
Trên cơ sở đánh giá thực trạng nhu cầu  
tham vấn tâm lý của sinh viên Trường Đại học  
Lâm nghiệp nhằm đưa ra một số giải pháp góp  
phần đáp ứng nhu cầu tham vấn tâm lý của  
sinh viên Trường Đại học Lâm nghiệp.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
2.2.1. Phương pháp thu thập số liệu  
Sử dụng phương pháp kế thừa để thu thập  
số liệu thứ cấp là cơ sở dữ liệu tại các cơ quan  
quản lý giáo dục trên địa bàn huyện Chương  
Mỹ, TP. Hà Nội, các báo cáo tổng kết của  
Trường Đại học Lâm nghiệp, các công trình  
khoa học về các vấn đề liên quan.  
Số liệu sơ cấp được thu thập phỏng vấn  
bằng bảng hỏi đối với sinh viên đang học tập  
tại Trường trong thời gian từ tháng 5 năm 2020  
đến tháng 7 năm 2020. Sử dụng phương pháp  
chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng, nghiên cứu  
tiến hành phỏng vấn tất cả 360 sinh viên với cơ  
cấu mẫu được thể hiện qua bảng 1.  
Bảng 1. Mô tả cơ cấu mẫu  
Đối tượng Số lượng  
STT  
Tỷ lệ (%)  
27,78  
27,78  
22,22  
22,22  
100  
1
2
3
4
Khóa 61  
Khóa 62  
Khóa 63  
Khóa 64  
100  
100  
80  
80  
Tổng  
360  
2.2.2. Phương pháp phân tích số liệu  
Sử dụng phương pháp thống kê kinh tế,  
phân tích kinh tế để phân tích các số liệu của  
nghiên cứu, qua đó đưa ra những nhận định,  
đánh giá của tác giả.  
Những khó khăn của sinh viên đa dạng và  
phong phú như khó khăn về học tập, khó khăn  
về quan hệ xã hội và khó khăn về phát triển cá  
nhân, định hướng nghề nghiệp. Trong đó, sinh  
viên gặp khó khăn thường xuyên trong định  
hướng nghề nghiệp chiếm 32,22% và rất  
thường xuyên là 15,56%, sau đó là những khó  
khăn trong phát triển năng lực cá nhân, trong  
quan hệ gia đình, trong học tập và giao tiếp  
trong cuộc sống (bảng 2).  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Thực trạng những khó khăn thường  
gặp của sinh viên Trường ĐHLN  
3.1.1. Những khó khăn gặp phải trong cuộc  
sống của sinh viên  
170  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 5 - 2020  
Kinh tế & Chính sách  
Bảng 2. Những khó khăn sinh viên thường gặp phải trong cuộc sống  
Tỷ lệ (%)  
STT  
Yếu tố  
Rất thường  
xuyên  
12,22  
4,44  
Thường  
Thỉnh  
thoảng  
56,67  
56,67  
45,56  
47,78  
26,67  
24,44  
40,00  
40,00  
Không  
bao giờ  
3,33  
xuyên  
27,78  
30,00  
34,44  
7,78  
21,11  
32,22  
24,44  
21,11  
1
2
3
4
5
6
7
8
Trong học tập  
Trong quan hệ gia đình  
8,89  
Trong tình bạn  
Trong tình yêu  
6,67  
6,67  
15,56  
15,56  
14,44  
5,56  
13,33  
37,78  
36,67  
27,78  
21,11  
33,33  
Về phát triển năng lực bản thân  
Về định hướng nghề nghiệp  
Về giao tiếp, ứng xử trong cuộc sống  
Điều kiện sinh hoạt hàng ngày  
Nguồn: Số liệu điều tra  
3.1.2. Cách thức giải quyết những khó khăn  
gặp phải trong cuộc sống của sinh viên  
trong gia đình chiếm 29,35%, sau đó là bạn bè  
21,56%. Cách giải quyết tìm đến thầy cô và  
tìm đến các dịch vụ tư vấn, tham vấn rất ít chỉ  
có 6,88% (bảng 3). Điều này cho thấy, sinh  
viên vẫn tập trung chủ yếu trong mối quan hệ  
gia đình thân thuộc, chưa đề cao việc mở rộng  
mối quan hệ khác.  
Sinh viên khi gặp khó khăn, trở ngại trong  
cuộc sống, các sinh viên cũng đã tìm người  
khác để tâm sự, chia sẻ hay cho lời khuyên.  
Đối tượng mà sinh viên tìm tới nhiều nhất khi  
gặp khó khăn, vướng mắc đó là người thân  
Bảng 3. Những cách thức giải quyết khó khăn sinh viên thường gặp phải trong cuộc sống  
STT  
Yếu tố  
Buông xuôi, mặc kệ  
Tìm đến bạn bè  
Số lượng (người)  
Tỷ lệ (%)  
16,49  
21,56  
6,88  
29,35  
6,88  
18,83  
1
2
3
4
5
6
127  
166  
53  
226  
53  
Tìm đến thầy cô  
Tìm đến người thân trong gia đình  
Tìm đến các chuyên gia tham vấn  
Ý kiến khác của bạn  
145  
Nguồn: Số liệu điều tra  
3.2. Thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lý  
của sinh viên Trường ĐHLN  
3.2.1. Thực trạng nhận thức của sinh viên  
Trường ĐHLN về tham vấn tâm lý  
Có đến 78% sinh viên (280 ý kiến) cho rằng  
dịch vụ tham vấn tâm lý là cần thiết đối với  
sinh viên hiện nay, chỉ có một phần sinh viên  
(22%) cho rằng dịch tham vấn tâm lý là không  
cần thiết (Hình 1). Điều này cho thấy, sinh  
viên đã nhận thức được vai trò của tham vấn  
tâm lý, là một hoạt động trợ giúp sinh viên giải  
quyết những khó khăn, rắc rối trong cuộc sống.  
Tuy vậy, do chưa nhận thức được tầm quan  
trọng của tham vấn và hiệu quả của nhà tham  
vấn, nên một số sinh viên cho rằng tham vấn  
tâm lý không cần thiết để trợ giúp sinh viên  
giải quyết những khó khăn trong cuộc sống  
hàng ngày.  
22%  
Có  
Không  
78%  
Hình 1. Mức độ cần thiết của tham vấn tâm lý  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 5 - 2020  
171  
Kinh tế & Chính sách  
Ngoài ra, nghiên cứu tìm hiểu nhận thức của  
sinh viên về sự cần thiết của việc thành lập một  
phòng tham vấn tâm lý cho sinh viên ở trong  
trường. Kết quả phản ánh, có đến 49% sinh  
viên (173 lựa chọn) nhận thấy cần thiết phải  
thành lập phòng tham vấn tâm lý trong trường  
đại học và 46% sinh viên (165 lựa chọn) cho  
rằng có cũng được, không có cũng được và chỉ  
có 5% sinh viên (22 lựa chọn) cho rằng không  
cần thiết thành lập phòng tham vấn tâm lý ở  
trong trường (Hình 2). Nhìn chung, sinh viên  
đã nhận thức được vai trò và tầm quan trọng  
của tham vấn tâm lý trong cuộc sống của mình.  
Phần lớn sinh viên đã nhận thức được vai trò  
cần thiết của tham vấn hiện nay đối với sinh  
viên nhưng chưa hiểu rõ lợi ích của tham vấn  
tâm lý.  
Qua việc tìm hiểu sự đánh giá về mức độ  
cần thiết của tham vấn tâm lý để trợ giúp sinh  
viên giải quyết những khó khăn gặp phải trong  
cuộc sống, chúng tôi nhận thấy nhu cầu tham  
vấn tâm lý là một nhu cầu cần thiết hiện nay  
của sinh viên. Trong phạm vi đề tài, chúng tôi  
chỉ đi sâu tìm hiểu nhu cầu được tham vấn tâm  
lý của sinh viên về vấn đề phát triển năng lực  
bản thân, định hướng nghề nghiệp.  
5%  
Cần thiết  
49%  
46%  
Có hay không cũng được  
KHông cần thiết  
Hình 2. Mức độ cần thiết của phòng tham vấn tâm lý  
3.2.2. Thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lý về  
phát triển năng lực bản thân và định hướng  
nghề nghiệp của sinh viên Trường ĐHLN  
(1) Thực trạng chung về nhu cầu tham vấn tâm  
lý về phát triển năng lực bản thân và định hướng  
nghề nghiệp của sinh viên Trường ĐHLN  
viên đều có mong muốn giải quyết khó khăn  
(Trần Thị Minh Đức, 2012). Sinh viên có mức  
độ mong muốn được trợ giúp tâm lý để giải  
quyết những khó khăn về phát triển năng lực  
cá nhân, định hướng nghề nghiệp là khá cao.  
Đặc biệt là khó khăn trong định hướng công  
việc tương lai, phát triển kỹ năng sống cá nhân  
hay thích nghi với môi trường làm việc.  
Khi gặp những vấn đề khó khăn trong cuộc  
sống làm ảnh hưởng đến tâm lý, hầu hết sinh  
Bảng 4. Mức độ mong muốn được trợ giúp tâm lý của sinh viên  
Tỷ lệ (%)  
Rất mong Mong Bình  
muốn thường mong muốn  
Khó khăn về phát triển năng lực cá nhân,  
TT  
Không  
định hướng nghề nghiệp  
muốn  
2,22  
1
2
3
4
5
6
Thiếu thông tin hiểu biết về giới tính  
Khó thích nghi với môi trường, văn hoá  
Luôn cảm thấy thiếu tự tin  
Bế tắc trong định hướng công việc tương lai  
Không tìm thấy hứng thú với nghề đang học  
Thiếu điều kiện phát triển kỹ năng sống cá nhân  
15,56  
18,89  
23,33  
26,67  
14,44  
20,00  
51,11  
57,78  
55,56  
48,89  
57,78  
54,44  
31,11  
20,00  
18,89  
12,22  
20,00  
15,56  
3,33  
2,22  
12,22  
7,78  
10,00  
Nguồn: Số liệu điều tra  
Vấn đề “Cảm thấy bế tắc trong định hướng  
công việc tương lai” có mức độ mong muốn  
được trợ giúp là cao nhất với số sinh viên lựa  
chọn mức độ “rất mong muốn và mong muốn”  
là gần 40%. Vấn đề nghề nghiệp tương lai  
thuận lợi hay khó khăn được đa số sinh viên  
quan tâm và mong muốn được trợ giúp. Các  
sinh viên không chỉ có nhu cầu giải toả trạng  
thái lo âu, căng thẳng mà còn mong muốn  
được các chuyên gia định hướng cho các sinh  
172  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 5 - 2020  
Kinh tế & Chính sách  
viên về những việc cần làm trong hiện tại và sự  
chuẩn bị hành trang cần thiết cho công việc  
tương lai. Ngoài ra, vấn đề “Lo lắng vì không  
có điều kiện phát triển kỹ năng sống của cá  
nhân” có mức độ mong muốn chiếm 30%. Như  
vậy, có thể thấy, sinh viên đã nhận thức được  
vai trò quan trọng của kỹ năng sống, các em  
muốn học tập, nâng cao về kỹ năng sống cho  
cá nhân nhưng lại thiếu điều kiện để thực hiện  
nó. Việc hình thành và phát triển kỹ năng sống  
cho thế hệ trẻ là rất quan trọng. Bởi vì có kiến  
thức, có thái độ tích cực thì chưa đủ mà còn lại  
là những kỹ năng cần cho cuộc sống mà ta  
thường gọi là kỹ năng sống. Vì vậy, nhu cầu  
được học tập, cung cấp rèn luyện những kỹ  
năng sống cơ bản cho cá nhân là rất cần thiết  
đối với sinh viên hiện nay. Sự hình thành và  
phát triển kỹ năng sống là một mặt quan trọng  
của nhân cách con người hiện đại.  
(2) Thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lý về  
phát triển năng lực bản thân và định hướng  
nghề nghiệp của sinh viên Trường ĐHLN theo  
giới tính  
Theo giới tính, sinh viên nữ có nhu cầu tham  
vấn tâm lý cao hơn sinh viên nam. Đặc biệt là  
khó khăn về vấn đề “Bế tắc trong định hướng  
nghề nghiệp tương lai”, nữ sinh viên có nhu  
cầu tham vấn cao về khó khăn này với mong  
muốn được trợ giúp tâm lý là 46,67%. Nam  
sinh viên luôn có cái nhìn lạc quan hơn và tự  
tin hơn ở nghề nghiệp, tương lai của mình  
(bảng 5).  
Bảng 5. Mức độ mong muốn được trợ giúp tâm lý của sinh viên theo giới tính  
ĐVT: %  
Nam  
Nữ  
Không  
muốn mong muốn muốn mong muốn  
Khó khăn về phát triển năng lực cá nhân,  
TT  
Mong  
Không  
Mong  
định hướng nghề nghiệp  
1 Thiếu thông tin hiểu biết về giới tính, SKSS  
2 Khó thích nghi với môi trường, văn hoá  
3 Luôn cảm thấy thiếu tự tin  
4 Bế tắc trong định hướng công việc tương lai  
5 Không tìm thấy hứng thú với nghề đang học  
6 Thiếu điều kiện phát triển kỹ năng sống cá nhân  
17,78  
22,22  
25,56  
38,89  
22,22  
30,00  
82,22  
77,78  
74,44  
61,11  
77,78  
70,00  
31,33  
26,67  
30,67  
46,67  
26,67  
36,00  
68,67  
73,33  
69,33  
53,33  
73,33  
64,00  
Nguồn: Số liệu điều tra  
(3) Thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lý về  
phát triển năng lực bản thân và định hướng  
nghề nghiệp của sinh viên Trường Đại học  
Lâm nghiệp theo khóa học  
Theo khoá học, sinh viên các khóa khác  
nhau đều có nhu cầu tham vấn tâm lý cao, đặc  
biệt là sinh viên năm thứ ba và sinh viên năm  
cuối. Sinh viên có nhu cầu mong muốn được  
trợ giúp tâm lý khá tương đồng giữa sinh viên  
khóa 61 và 62; sinh viên khóa 63 và 64. Nhu  
cầu tham vấn về vấn đề “Bế tắc về định hướng  
nghề nghiệp tương lai” của sinh viên ở các  
khoá là khá cao và không có sự chênh lệch lớn.  
Bảng 6. Mức độ mong muốn được trợ giúp tâm lý của sinh viên theo khóa học  
ĐVT: %  
Khóa học  
Khó khăn về phát triển năng lực cá nhân,  
định hướng nghề nghiệp  
TT  
K61  
24,89  
31,11  
35,78  
54,44  
31,11  
42,00  
K62  
K63  
K64  
1 Thiếu thông tin hiểu biết về giới tính, SKSS  
2 Khó thích nghi với môi trường, văn hoá  
3 Luôn cảm thấy thiếu tự tin  
21,33  
26,67  
30,67  
46,67  
26,67  
36,00  
14,22  
17,78  
20,44  
31,11  
17,78  
24,00  
10,67  
13,33  
15,33  
23,33  
13,33  
18,00  
4 Bế tắc trong định hướng công việc tương lai  
5 Không tìm thấy hứng thú với nghề đang học  
6 Thiếu điều kiện phát triển kỹ năng sống cá nhân  
Nguồn: Số liệu điều tra  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 5 - 2020 173  
Kinh tế & Chính sách  
(4) Thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lý về  
phát triển năng lực bản thân và định hướng  
nghề nghiệp của sinh viên Trường Đại học  
Lâm nghiệp theo khu vực  
Theo khu vực, sinh viên nông thôn và miền  
núi có nhu cầu trợ giúp cao hơn sinh viên ở  
thành thị về vấn đề phát triển năng lực cá nhân  
và định hướng nghề nghiệp. Đặc biệt là vấn đề  
“Bế tắc trong định hướng công việc tương lai”.  
Nhiều sinh viên không xác định rõ mục đích,  
kế hoạch cuộc sống tương lai của bản thân.  
Trong khi đó, quãng đời sinh viên là khoảng  
thời gian có ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống  
và sự trưởng thành của họ sau này. Không ít  
người chọn ngành học không phải vì sự quan  
tâm hay niềm đam mê cá nhân mà do sự tác  
động của người thân, vì áp lực xã hội hay trào  
lưu chung.  
Bảng 7. Mức độ mong muốn được trợ giúp tâm lý của sinh viên theo khu vực  
ĐVT: %  
Khu vực  
Thành thị Nông thôn Miền núi  
Khó khăn về phát triển năng lực cá nhân,  
TT  
định hướng nghề nghiệp  
1 Thiếu thông tin hiểu biết về giới tính, SKSS  
2 Khó thích nghi với môi trường, văn hoá  
3 Luôn cảm thấy thiếu tự tin  
15,45  
16,55  
17,89  
27,22  
18,55  
21,00  
23,11  
28,89  
33,22  
50,56  
28,89  
39,00  
28,45  
30,55  
40,88  
52,22  
31,55  
42,00  
4 Bế tắc trong định hướng công việc tương lai  
5 Không tìm thấy hứng thú với nghề đang học  
6 Thiếu điều kiện phát triển kỹ năng sống cá nhân  
Nguồn: Số liệu điều tra  
3.2.3. Thực trạng sử dụng các dịch vụ tham  
vấn tâm lý của sinh viên Trường ĐHLN  
các trung tâm, các phòng tham vấn tâm lý với  
nhiều hình thức khác nhau như qua thư báo,  
điện thoại hay trực tiếp (Trần Đình Tuấn,  
2013). Qua khảo sát thực tế, có đến 24% sinh  
viên (86 ý kiến) đã có hành vi thoả mãn nhu  
cầu tham vấn tâm lý và 76% sinh viên (274 ý  
kiến) chưa bao giờ tìm đến tham vấn tâm lý.  
Mặc dù nhu cầu được tham vấn tâm lý ở  
nhiều lĩnh vực, nhiều vấn đề của sinh viên là  
khá cao, nhưng chỉ một số ít sinh viên đã sử  
dụng các dịch vụ tham vấn để thoả mãn nhu  
cầu tham vấn tâm lý của mình qua việc tìm đến  
24%  
Đã tìm đến  
Chưa tìm đến  
76%  
Hình 3. Mức độ sử dụng dịch vụ tham vấn tâm lý  
Khi gặp khó khăn trong cuộc sống, nhiều  
sinh viên cảm thấy bối rối hoặc chán nản vì  
không biết làm như thế nào để vượt qua những  
khó khăn tâm lý mà mình đang gặp phải (Bùi  
Thị Xuân Mai, 2008). Một số sinh viên thì bỏ  
mặc, số khác thì tự tìm cách giải quyết, và một  
174  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 5 - 2020  
Kinh tế & Chính sách  
bộ phận nhỏ sinh viên đã tìm đến sự trợ giúp  
của các nhà tham vấn tâm lý qua các hình thức  
khác nhau. Cụ thể, hình thức tham vấn mà sinh  
viên đã sử dụng nhiều nhất là mạng internet và  
qua điện thoại với tỷ lệ đã sử dụng nhiều lần là  
27,27% và 18,18%. Tham vấn qua mạng  
internet đang ngày càng phát triển, nó không  
những đáp ứng được nhu cầu trợ giúp khó  
khăn của sinh viên, mà hình thức tham vấn này  
còn đảm bảo tính bí mật thông tin của sinh  
viên. Mặt khác, tham vấn trực tiếp tại văn  
phòng, trung tâm lại có số sinh viên lựa chọn  
rất ít. Điều này cho thấy, sinh viên thường có  
tâm lý e ngại, sợ mọi người dị nghị khi đến văn  
phòng tham vấn, địa điểm tham vấn chưa thuận  
tiện, do đó chưa thu hút nhiều sinh viên đến  
tham vấn.  
Bảng 8. Những hình thức tham vấn tâm lý đã sử dụng của sinh viên  
Tỷ lệ (%)  
Nhiều lần Một vài lần Một lần  
STT  
Yếu tố  
Không lần nào  
45,45  
1
2
3
4
Tham vấn qua thư báo  
Tham vấn qua điện thoại  
Tham vấn qua đài FM  
Tham vấn qua mạng Internet  
Tham vấn trực tiếp tại văn  
phòng, trung tâm  
0,00  
18,18  
0,00  
40,91  
31,82  
4,55  
13,64  
31,82  
13,64  
31,82  
18,18  
81,82  
18,18  
27,27  
22,73  
5
0,00  
13,64  
9,09  
77,27  
Nguồn: Số liệu điều tra  
3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc đáp ứng  
nhu cầu tham vấn tâm lý của sinh viên  
Trường ĐHLN  
tố thúc đẩy sinh viên tìm đến các dịch vụ tham  
vấn tâm lý là rất nhiều, nó ảnh hưởng và tác  
động đến sinh viên ở các mức độ khác nhau.  
Chủ yếu là do “Vấn đề khó khăn không tự giải  
quyết được”. Đây cũng chính là lý do chủ quan  
tác động nhiều nhất và thúc đẩy mạnh mẽ nhu  
cầu tham vấn tâm lý của sinh viên.  
3.3.1. Các yếu tố chủ quan  
Mức độ ảnh hưởng, tác động của các yếu tố  
chủ quan đối với hành vi thoả mãn nhu cầu  
tham vấn của sinh viên là khác nhau. Các yếu  
Bảng 9. Yếu tố thúc đẩy sử dụng dịch vụ tham vấn của sinh viên  
Tỷ lệ (%)  
TT  
Các yếu tố  
Đúng  
Sai  
1
2
3
4
5
6
7
8
Vấn đề khó khăn không tự giải quyết được  
Tò mò  
95,45  
50,00  
22,73  
18,18  
63,64  
50,00  
18,18  
40,91  
4,55  
50,00  
77,27  
81,82  
36,36  
50,00  
81,82  
59,09  
Nhiều người đã sử dụng dịch vụ này  
Thói quan sử dụng của bản thân  
Hiểu biết về tác dụng của tham vấn  
Cảm giác được chia sẻ và giữ bí mật  
Do bạn bè giới thiệu  
Tin tưởng vào trình độ chuyên môn của nhà tham vấn  
Nguồn: Số liệu điều tra  
cách giải quyết vấn đề của mình... Như vậy,  
chưa có nhiều sinh viên đã sử dụng dịch vụ  
tham vấn cho rằng tham vấn có vai trò tích cực  
giải toả tâm lý, giúp họ giải quyết vấn đề. Đây  
cũng là một nguyên nhân tiếp tục thúc đẩy  
hành vi thoả mãn nhu cầu tham vấn tâm lý sau  
này của sinh viên.  
Sau khi tìm đến các hình thức tham vấn tâm  
lý khác nhau, đa số sinh viên chưa cảm thấy  
hiệu quả tích cực. Chỉ có 68,18% là tỷ lệ cao  
nhất sinh viên lựa chọn dịch vụ tham vấn tâm  
lý đã giúp họ đỡ căng thẳng một chút nhưng  
chưa hài lòng. Sinh viên mong muốn có cảm  
xúc tích cực đối với tham vấn như cảm thấy  
thoải mái dễ chịu, đỡ lo lắng, hiểu và tìm ra  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 5 - 2020  
175  
Kinh tế & Chính sách  
Bảng 10. Kết quả sử dụng dịch vụ tham vấn của sinh viên  
Tỷ lệ (%)  
TT  
Các yếu tố  
Đúng  
40,91  
68,18  
40,91  
36,36  
54,55  
Sai  
1
2
3
4
5
Không thấy nhà tham vấn giúp được gì  
Đỡ căng thẳng một chút nhưng chưa hài lòng  
Yên tâm và hài lòng  
Hiểu ra vấn đề và tự tìm cách giải quyết hợp lý  
Cảm thấy thú vị và có nhiều thông tin bổ ích  
59,09  
31,82  
59,09  
63,64  
45,45  
Nguồn: Số liệu điều tra  
3.3.2. Các yếu tố khách quan  
Qua kết quả điều tra, có rất nhiều các yếu tố  
ảnh hưởng tới việc sử dụng các dịch vụ tham  
vấn để giải quyết khó khăn về tâm lý của sinh  
viên. Các yếu tố gây ảnh hưởng nhiều nhất là  
“Phí tham vấn cao”, “Không có thói quen tìm  
đến tham vấn” và “Không tin tưởng vào trình  
độ chuyên môn của nhà tham vấn”.  
Trong tổng số sinh viên được điều tra có tới  
76% sinh viên chưa bao giờ tiếp cận các hình  
thức tham vấn tâm lý để thoả mãn nhu cầu  
tham vấn tâm lý khi gặp khó khăn trong cuộc  
sống. Các yếu tố nào đã cản trở hành vi thoả  
mãn nhu cầu tham vấn tâm lý của sinh viên.  
Bảng 11. Yếu tố cản trở sử dụng dịch vụ tham vấn của sinh viên  
Tỷ lệ (%)  
TT  
Các yếu tố  
Đúng  
Sai  
1
2
3
4
5
6
7
8
Thiếu tự tin để tìm đến sự trợ giúp  
60,00  
82,22  
66,67  
67,78  
73,33  
60,00  
82,22  
66,67  
40,00  
17,78  
33,33  
32,22  
26,67  
40,00  
17,78  
33,33  
Không có thói quen tìm đến tham vấn  
Sợ dư luận xã hội cho là không bình thường  
Không hiểu biết về tác dụng của tham vấn  
Không tin tưởng vào trình độ chuyên môn của nhà tham vấn  
Ít thông tin quảng bá về dịch vụ này  
Phí tham vấn cao  
Cảm thấy khó tiếp cận các dịch vụ tham vấn  
Nguồn: Số liệu điều tra  
3.4. Một số giải pháp góp phần đáp ứng nhu  
cầu tham vấn tâm lý của sinh viên Trường  
ĐHLN  
Một số đề xuất, kiến nghị của sinh viên để  
góp phần đáp ứng nhu cầu tham vấn tâm lý của  
sinh viên trong Nhà trường được tổng hợp qua  
bảng 12.  
Bảng 12. Một số kiến nghị đáp ứng nhu cầu tham vấn tâm lý của sinh viên  
Tỷ lệ (%)  
Không kiến nghị  
TT  
Các yếu tố  
Kiến nghị  
60,00  
82,22  
1
2
3
Dễ dàng tiếp cận các dịch vụ tham vấn  
Nhà tham vấn được đào tạo chuyên nghiệp  
40,00  
17,78  
33,33  
Hoạt động tham vấn đảm bảo nguyên tắc nghề nghiệp  
Cần có sự quảng bá về vai trò của tham vấn đối với việc bảo vệ  
sức khỏe tâm thần cho con người  
Nâng cao nhận thức trong xã hội để xóa bỏ suy nghĩ cho rằng  
người tìm đến tham vấn là không bình thường  
66,67  
4
5
67,78  
73,33  
32,22  
26,67  
Nguồn: Số liệu điều tra  
- Nâng cao chất lượng cơ sở đào tạo chuyên  
sâu về lĩnh vực tâm lý học, tham vấn tâm lý.  
Các nhà tham vấn cần được đào tạo một cách  
chuyên nghiệp (Trần Thị Minh Đức, 2012).  
Ngoài ra, bản thân nhà tham vấn phải tự mình  
học hỏi và nâng cao hiểu biết các vấn đề kinh  
176  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 5 - 2020  
Kinh tế & Chính sách  
tế, chính trị, xã hội; chủ động tham gia các  
chương trình tập huấn để nâng cao năng lực  
chuyên môn, rèn luyện đạo đức và nguyên tắc  
hành nghề, từ đó tạo niềm tin và ấn tượng tốt  
đối với sinh viên.  
nhu cầu và nguyện vọng của học sinh; tránh  
gây áp lực không cần thiết lên học sinh. Tìm  
hiểu tâm tư nguyện vọng của học sinh; để hỗ  
trợ học sinh phòng ngừa, phát hiện sớm những  
khó khăn tâm lý và trợ giúp kịp thời.  
- Nâng cao nhận thức trong xã hội để xóa bỏ  
suy nghĩ cho rằng người tìm đến tham vấn là  
không bình thường. Tham vấn tâm lý đã phát  
triển lâu đời ở nước ngoài nhưng ở Việt Nam  
thì phát triển chưa lâu. Vì vậy, xã hội vẫn chưa  
nhận thức được tham vấn tâm lý là dịch vụ trợ  
giúp con người tự vượt qua được những bất ổn  
trong tâm lý, khó khăn trong cuộc sống. Các  
trung tâm dịch vụ tham vấn cần phải phổ biến,  
truyền thông và quảng bá về tham vấn; xoá bỏ  
dư luận xã hội không đúng về tham vấn; cung  
cấp những địa chỉ của các trung tâm tham vấn  
tâm lý uy tín cho sinh viên.  
- Nâng cao nhận thức cho sinh viên về tham  
vấn, vai trò của tham vấn trong cuộc sống.  
Sinh viên cần có thái độ tích cực và niềm tin  
vững chắc đối với tham vấn, tạo tâm thế và  
thói quen tham vấn khi gặp những vấn đề tâm  
lý khó giải quyết. Đặc biệt, những học sinh  
đang có khó khăn tâm lý nên nỗ lực tìm cách  
vượt qua hoặc tìm kiếm dịch vụ trợ giúp phù  
hợp để tránh những tác động tiêu cực do khó  
khăn tâm lý gây ra. Ý thức được sự cần thiết  
của việc trau dồi các kiến thức tâm lý học và  
các kiến thức xã hội khác để hiểu được tâm lý  
của bản thân và tự nhận ra vấn đề khó khăn của  
mình. Sinh viên nên chuẩn bị tâm thế trước  
mọi hoàn cảnh, sẵn sàng đón nhận thử thách,  
khó khăn trong cuộc sống, học tập và nỗ lực  
tìm cách khắc phục chúng. Khi cần trợ giúp  
nên tìm đến những dịch vụ hay những loại hình  
trợ giúp tâm lý chuyên nghiệp để tránh những  
rủi ro.  
- Tạo điều kiện hỗ trợ các học sinh đang có  
khó khăn tâm lý từ các khoa viện, nhà trường.  
Thành lập phòng tư vấn tâm lý học đường  
trong trường học. Quan tâm đầu tư cả nguồn  
nhân lực và tài chính cho việc đào tạo chuyên  
sâu đội ngũ chuyên gia tư vấn tâm lý học  
đường. Khi có đội ngũ chuyên gia tâm lý học  
đường được đào tạo chuyên sâu thì họ không  
chỉ giúp học sinh giải quyết những khó khăn  
tâm lý gặp phải mà họ còn giúp phòng ngừa  
những khó khăn có thể xảy ra; đặc biệt là phát  
hiện và can thiệp sớm những khó khăn tâm lý  
mới xuất hiện. Chuyên gia tâm lý học đường  
không chỉ trợ giúp cho các em học sinh mà còn  
hỗ trợ giáo viên, nhà trường và cả phụ huynh  
học sinh trong việc chăm sóc cho các em có  
đời sống tâm trí khỏe mạnh. Nâng cao nhận  
thức trong xã hội để xóa bỏ suy nghĩ cho rằng  
người tìm đến tham vấn là không bình thường  
4. KẾT LUẬN  
Nghiên cứu đã chỉ ra những khó khăn mà  
sinh viên gặp phải trong cuộc sống rất phong  
phú và đa dạng. Sinh viên gặp phải đó là các  
khó khăn về học tập, về phát triển bản thân và  
định hướng nghề nghiệp, về quan hệ xã hội.  
Khi gặp khó khăn trong cuộc sống, sinh viên  
đã có nhu cầu chia sẻ và giải quyết những khó  
khăn của mình. Trong đó, đối tượng mà các em  
lựa chọn để chia sẻ và giúp đỡ là người thân  
trong gia đình, bạn bè, thầy cô giáo và các  
chuyên gia tham vấn tâm lý. Nhiều sinh viên  
đã nhận thức được vai trò của tham vấn tâm lý  
là cần thiết và rất cần thiết trong cuộc sống, chỉ  
có một bộ phận nhỏ sinh viên chưa hiểu hết  
tầm quan trọng của tham vấn tâm lý.  
- Nâng cao sự hiểu biết của giáo viên về đặc  
điểm tâm sinh lý học sinh mình đang giảng dạy  
để lựa chọn phương pháp, hình thức dạy học  
phù hợp. Giáo viên cần gần gũi học sinh,  
không chỉ thông qua giao lưu trong tiết học mà  
nên chủ động trò chuyện, quan tâm tới học  
sinh để xóa đi khoảng cách giữa người học và  
người dạy; để thấu hiểu học sinh; biết được  
Sinh viên có nhu cầu tham vấn tâm lý,  
nhưng ở mức độ ý muốn là chủ yếu. Một số ít  
sinh viên đã tìm đến tham vấn tâm lý và đã lựa  
chọn các hình thức tham vấn khác nhau, nhưng  
chủ yếu là tham vấn qua điện thoại. Nghiên  
cứu chỉ ra thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lý  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 5 - 2020  
177  
Kinh tế & Chính sách  
tâm lý, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, Hà Nội.  
3. Triệu Thị Hương (2016), Nhu cầu tham vấn tâm lý  
của sinh viên trường Học viện Cảnh sát, Luận văn Thạc  
sỹ Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.  
của sinh viên Trường Đại học Lâm nghiệp và  
các yếu tố ảnh hưởng đến việc thoả mãn nhu  
cầu tham vấn tâm lý của sinh viên. Một số giải  
pháp nhằm đáp ứng nhu cầu tham vấn tâm lý  
của sinh viên trong Nhà trường như nâng cao  
chất lượng cơ sở đào tạo chuyên sâu về lĩnh  
vực tâm lý học, tham vấn tâm lý; nâng cao  
nhận thức cho sinh viên về tham vấn, vai trò  
của tham vấn trong cuộc sống; tạo điều kiện hỗ  
trợ các học sinh đang có khó khăn tâm lý từ  
các khoa, viện, Nhà trường.  
4. Bùi Thị Xuân Mai (2006), Thực trạng nhu cầu tham  
vấn của học sinh, sinh viên hiện nay - những khyến nghị,  
giải pháp, Kỷ yếu hội thảo: Xây dựng và phát triển mạng  
lưới tham vấn trong trường học, Sở GD&ĐT Hà Nội.  
5. Bùi Thị Xuân Mai, Nguyễn Thái Lan, Lim Shaw Hui  
(2008), Giáo trình tham vấn, NXB Lao động - Xã hội.  
6. Chu Thị Hương Nga (2010), Nhu cầu tham vấn  
tâm lý của sinh viên ở một số trường đại học trên địa  
bàn thành phố Hà Nội, Luận văn Thạc sỹ Trường Đại  
học KHXH&NV Hà Nội.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
7. Trần Đình Tuấn (2013), Tham vấn tâm lý cá nhân  
và gia đình, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.  
8. Nguyễn Quang Uẩn (2006), Giáo trình Tâm lý học  
đại cương, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội.  
1. Phạm Thanh Bình (2005), Nhu cầu tham vấn tâm lý  
của học sinh một số trường trung học trên địa bàn Hà  
Nội, Luận văn Thạc sỹ Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.  
2. Trần Thị Minh Đức (2012), Giáo trình Tham vấn  
DEMAND FOR COUNSELING PSYCHOLOGY FOR STUDENTS AT  
VIETNAM NATIONAL UNIVERSITY OF FORESTRY  
Bui Thi Ngoc Thoa1  
1Vietnam National University of Forestry  
SUMMARY  
This research is conducted to assess the reality of the demand for counseling psychology of personal ability  
development and career orientation for students at Vietnam National University of Forestry (VNUF). The  
random survey findings carried out by questionnaire of 360 students studying at the school showed that they  
needed counseling psychology. Students have a desperate need to share and see their problems. According to  
the survey, they have chosen their family members, friends, teachers and counseling psychologists with a view  
to sharing and being helped. Counseling psychology has been found by some students who have also chosen  
many different consultative forms mainly done by telephone. Many of them have recognized counseling  
psychology plays a pivotal role in their life. The study pointed out factors influencing the students' satisfaction  
of counseling psychology needs and make some recommendations on how to meet these of students in VNUF  
as well.  
Keywords: consultative form, counselling psychologist, counseling psychology, Vietnam National University  
of Forestry.  
Ngày nhận bài  
Ngày phản biện  
Ngày quyết định đăng  
: 24/9/2020  
: 19/11/2020  
: 30/11/2020  
178  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 5 - 2020  
pdf 10 trang Thùy Anh 18900 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nhu cầu tham vấn tâm lý của sinh viên trường Đại học Lâm nghiệp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhu_cau_tham_van_tam_ly_cua_sinh_vien_truong_dai_hoc_lam_ngh.pdf