Kinh nghiệm một số nước châu Á về xây dựng chính sách và phát triển công nghiệp quốc gia trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 - Khuyến nghị chính sách cho Việt Nam

148  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
KINH NGHIỆM MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á VỀ XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH  
VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP QUỐC GIA TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG  
CÔNG NGHIỆP 4.0 - KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM  
Lê Thanh Hà*  
TÓM TẮT: Việt Nam đã và đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ trong bối cảnh cách mạng công  
nghiệp 4.0 (CMCN 4.0). Tình hình trong nước và quốc tế cho thấy có nhiều điều kiện thuận lợi song cũng  
tiềm ẩn rất nhiều thách thức đối với tiến trình phát triển công nghiệp của Việt Nam. Trong điều kiện đó,  
việc nhìn nhận, đánh giá kinh nghiệm của các quốc gia tiên tiến để chỉ rõ những bài học cho Việt Nam  
trong xây dựng và thực thi chính sách phát triển công nghiệp là điều hết sức cần thiết.  
Từ khóa: chính sách công nghiệp, cách mạng công nghiệp 4.0  
ABSTRACT: Vietnam has been experienced a wide range of robust changes in line with the context of The  
Fourth Industrial Revolution. Both domestic and world-wide practices recently have shown that advantages  
and challenges going parallely with the development progress of Industry sector in Vietnam. Therefore,  
it is essential to consider and assess the involvement and gained lessons of advanced countries in order  
to obviously determine the tasks in facilitating and implementing the industry development policies of  
Vietnam  
Key words: Industry Policy, The Fourth Industrial Revolution  
1. SƠ LƯỢC VỀ CHÍNH SÁCH CÔNG NGHIỆP  
Chính sách công nghiệp hay chính sách phát triển công nghiệp là một thuật ngữ có nhiều định  
nghĩa khác nhau và có sự thay đổi theo từng thời kỳ. Chẳng hạn, OECD (1975) cho rằng, chính  
sách công nghiệp là những chính sách có liên quan tới việc thúc đẩy tăng trưởng và hiệu quả  
ngành công nghiệp [9]. Krugman và Obstfeld (1991) lại quan niệm rằng, chính sách công nghiệp  
là một nỗ lực của chính phủ nhằm khuyến khích các nguồn lực vào các lĩnh vực cụ thể mà quan  
điểm của chính phủ là quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế trong tương lai [6]. Đến năm 2013,  
tại Diễn đàn Kinh tế thế giới, OECD đưa ra một định nghĩa mới mà hiện nay được nhiều chuyên  
gia kinh tế cũng như các quốc gia sử dụng, theo đó, một cách tổng hợp thì chính sách công nghiệp  
là bất kỳ chính sách can thiệp của Chính phủ nhằm cải thiện môi trường kinh doanh và thay đổi  
cấu trúc của hoạt động kinh tế hướng đến ngành, công nghệ và những nhiệm vụ của chính sách  
được kỳ vọng nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tăng phúc lợi xã hội [10].  
2. KINH NGHIỆM QUỐC TẾ TRONG XÂY DỰNG VÀ THỰC THI CHÍNH SÁCH CÔNG NGHIỆP  
2.1. Chính sách công nghiệp quốc gia Nhật Bản  
Nhật Bản là nước có nền công nghiệp phát triển không chỉ ở trong khu vực châu Á mà còn  
* Học viện Tài chính, Đức Thắng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội, Việt Nam. Tác giả nhận phản hồi: Lê Thanh Hà. Tel.: +84989150498.  
E-mail address: [email protected]  
149  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
trên cả thị trường quốc tế. Kinh tế Nhật Bản nhiều năm liền giữ vị trí thứ hai thế giới và chỉ mới  
bị Trung Quốc vượt qua là do có chính sách đầu tư vào ngành công nghiệp một cách hợp lý với rất  
nhiều các bước đi tương thích trong từng thời kỳ:  
- Ngay từ những năm 1960, với việc xác định rõ quốc gia có rất ít tài nguyên thiên nhiên,  
Chính phủ Nhật Bản đã thực hiện chính sách “tái cơ cấu công nghiệp”, điều chỉnh cơ bản cơ cấu  
công nghiệp theo hướng ưu tiên phát triển những ngành có hàm lượng trí tuệ cao, tiêu tốn ít nguyên  
liệu và lao động sống, tập trung phát triển nền công nghiệp theo chiều sâu. Những ngành công  
nghiệp được ưu tiên trong giai đoạn này gồm: công nghiệp công nghệ cao về vi mạch, máy tính,  
robot; ngành lắp ráp tiên tiến như sản xuất lắp ráp máy bay, máy tự động hóa; ngành thiết kế thời  
trang; ngành phân phối và xử lý thông tin.  
- Song song với định hướng sử dụng tiết kiệm tài nguyên, Chính phủ Nhật thực hiện điều  
chỉnh, tổ chức lại một số ngành công nghiệp như sản xuất ô tô, thép, hóa dầu, khuyến khích các  
doanh nghiệp công nghiệp trong một ngành sáp nhập, liên kết và hợp tác lẫn nhau. Chính phủ  
thông qua “Luật ổn định công nghiệp” và “Luật hoàn thiện cơ cấu”, từ đó, thúc đẩy quá trình điều  
chỉnh cơ cấu công nghiệp cả cấp liên ngành và nội bộ ngành; hướng tới việc thu hẹp các hoạt động  
như tinh chế nhôm, đóng tàu, phân hóa học và thực hiện phát triển các mặt hàng có hàm lượng  
khoa học công nghệ cao.  
- Trong hơn 50 năm qua, Chính phủ Nhật Bản còn đề ra và thực hiện chiến lược phát triển  
khoa học kỹ thuật trên cơ sở chuyển từ vay mượn, mua bản quyền công nghệ của nước ngoài sang  
tự đảm bảo những công nghệ và kỹ thuật tiên tiến, mở rộng hợp tác khoa học kỹ thuật trên nền  
tảng khoa học công nghệ của Nhật Bản. Nước này đã chú trọng vào đầu tư cho công tác nghiên  
cứu khoa học, chế tạo và thử nghiệm, khuyến khích khối doanh nghiệp tư nhận bỏ vốn đầu tư vào  
nghiên cứu và phát triển (R & D).  
- Điểm nổi bật trong chính sách công nghiệp quốc gia Nhật Bản là tính linh hoạt nhằm đáp  
ứng với những thay đổi của môi trường kinh tế, môi trường khoa học công nghệ trong và ngoài  
nước. Chính phủ Nhật Bản cũng đặt chính sách công nghiệp quốc gia trong mối quan hệ hữu cơ  
với các chính sách tổng thể về kinh tế, xã hội như chính sách tài chính - tiền tệ, chính sách lao động  
và việc làm, chính sách thương mại…  
- Năm 2013, trong bối cảnh của cách mạng công nghiệp 4.0, Nhật Bản đã từng bước triển  
khai các chính sách ddeer thúc đẩy CMCN 4.0. Trong năm này, “Chiến lược toàn diện cho khoa  
học, công nghệ và đổi mới sáng tạp đã được Nhật Bản đưa ra, trong đó tập trung thúc đẩy thông  
minh hóa, hệ thống hóa và toàn cầu hóa. Việc phổ biến và phát triển công nghệ Internet kết nối  
vạn vật IoT và CMCN 4.0 đã được Nhật Bản đẩy mạnh qua một loạt các mô hình hợp tác giữa Bộ  
Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản với các hiệp hội ngành nghề, kết quả là sự ra đời  
của “Sáng kiến Chuỗi giá trị ngành công nghiệp” vào tháng 6/2015.  
- Song song với việc phát triển CMCN 4.0, Nhật Bản đã đề ra nhiệm vụ thực hiện xây dựng  
“Xã hội 5.0”. Khái niệm “Xã hội 5.0” được đề xuất trong Kế hoạch Khoa học Công nghệ lần thứ 5  
của Chính phủ Nhật Bản (the 5th Science and Techonology Basic Plan) 2016-2020. Các Kế hoạch  
Khoa học Công nghệ của Nhật Bản được xây dựng 5 năm một lần, kể từ lần đầu tiên vào năm 1996,  
căn cứ theo Luật Cơ sở về Khoa học và Công nghệ ban hành năm 1995. Theo quan điểm của Nhật  
Bản, từ trước đến nay xã hội loài người đã trải qua: “Xã hội 1.0” là Thời kỳ nguyên thủy săn bắn,  
“Xã hội 2.0” là Xã hội nông nghiệp, “Xã hội 3.0” là Xã hội công nghiệp, là thời kỳ cơ khí hóa với  
đầu máy hơi nước và việc sử dụng điện, “Xã hội 4.0” là Xã hội thông tin, trong đó giá trị gia tăng  
150  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
được tạo ra nhờ việc kết nối các tài sản phi vật chất qua mạng internet. Với Xã hội 5.0, có bốn yếu  
tố kỹ thuật đóng vai trò quan trọng nhất trí tuệ nhân tạo (AI), big data, tự động hóa (robot) và IoT  
(internet vạn vật). Mục tiêu xây dựng Xã hội 5.0 được cụ thể hóa hơn nữa vào tháng 6/2017 với  
việc Chính phủ Nhật Bản thông qua Chiến lược Đầu tư tương lại, hướng xã hội Nhật tới việc có  
các khả năng: cung cấp hàng hóa và dịch vụ cần thiết cho người có nhu cầu đúng thời điểm, đảm  
bảo số lượng và chất lượng; đáp ứng chính xác nhiều nhất nhu cầu của xã hội và tất cả người dân  
có thể dễ dàng có được các dịch vụ chất lượng cao, cuộc sống hạnh phúc.  
Có thể tóm lược về chính sách hỗ trợ của Chính phủ Nhật Bản cho sự phát triển công nghiệp  
quốc gia [8] qua bảng 1 sau:  
Bảng 1: Chính sách thúc đẩy công nghiệp quốc gia của Nhật Bản  
Năm  
1936  
Chính sách  
Thành lập Shoko Chukin Bank - được sở hữu không chỉ của chính phủ mà còn của chính  
các SME nhằm cung cấp các dịch vụ tài chính cho các thành viên đóng góp, giúp các  
doanh nghiệp chỉ trong 3 ngày có thể vay vốn.  
Thời kỳ tái thiết  
Từ những năm 1940, ngành công nghiệp cơ khí ở Nhật Bản phát triển mạnh và nhu cầu  
về những sản phẩm này cao đã khiến những doanh nghiệp lớn phải ký hợp đồng với các  
doanh nghiệp nhỏ hơn trong cung cấp các linh phụ kiện thay vì mở rộng sản xuất.  
Cải tiến các chính sách SME (tài chính/ tổ chức/ quản lý)  
Thành lập Small and Medium Enterprise Agency  
1945  
1948  
Thời kỳ tăng trưởng (giai đoạn 1):  
Chính sách nhằm bảo vệ sự tồn tại của các SME  
1949  
Thành lập National Life Finance Corporation - NLFC (Công ty Tài chính Quốc gia) -  
cung cấp các khoản vay không đòi hỏi thế chấp cho các SME được lựa chọn.  
Luật về Hiệp hội các Doanh nghiệp Hợp tác xã nhỏ và vừa nhằm đẩy mạnh sự liên kết,  
hợp tác kinh doanh nhỏ.  
Luật về hợp tác với các DNNVV nhằm bảo vệ quyền đàm phán của các doanh nghiệp  
nhỏ cũng như tạo điều kiện để họ có thể tiếp cận được với công nghệ mới và các nguồn  
vốn vay.  
Luật ổn định hóa các SME trong đó quy định các hoạt động thuộc phạm vi điều tiết các  
Hiệp hội SME.  
1952  
1953  
Thành lập Japan Finance Corporation for SMEs - JASME (Công ty Tài chính Nhật Bản  
dành cho các SME) có chức năng bảo lãnh các khoản vay của các SME từ các tổ chức  
tài chính tư nhân, bảo lãnh các khoản vay tồn đọng, cung cấp các khoản vay với lãi suất  
cố định, dài hạn đối với các dự án của các SME mà các tổ chức tài chính tư nhân khó  
cung cấp.  
Điều chỉnh cơ cấu 2 tầng (khoảng cách giữa các SME và doanh nghiệp lớn)  
Luật Phòng chống trì hoãn thanh toán chi phí thầu phụ và các vấn đề liên quan  
Luật Xúc tiến Công nghiệp Chế tạo máy (được chỉnh sửa năm 1961 và 1966). Luật về  
Tài chính và Các biện pháp khác nhằm trợ giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa, theo đó  
chính phủ trung ương có thể cho phép các chính quyền địa phương thực hiện cho vay  
đối với SME.  
1955  
1956  
1962  
Hệ thống hóa chính sách (tài chính/ tổ chức/ quản lý)  
151  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
Thời kỳ tăng trưởng (giai đoạn 2)  
Chính sách chuyển sang nhằm phát triển, hiện đại hóa các nhà máy và tăng quy mô  
doanh nghiệp, xuất phát từ nhu cầu cấp thiết của nền kinh tế trong bối cảnh tự do hóa  
thương mại, hội nhập kinh tế quốc tế (Nhật Bản gia nhập GATT năm 1955, gia nhập  
một cách đầy đủ năm 1963).  
Ban hành Luật Cơ bản về Doanh nghiệp nhỏ và vừa và Luật Xúc tiến hiện đại hóa  
Doanh nghiệp nhỏ và vừa. Những luật này là nền tảng để Nhật áp dụng các chính sách  
hỗ trợ công nghiệp phụ trợ.  
1963  
Bổ sung chính sách đối với các bất lợi của các SME.  
Thành lập Công ty TNHH Tư vấn và Đầu tư kinh doanh nhỏ để giúp tăng cường tính  
công bằng và tăng cường vốn.  
1970  
1972  
Thời kỳ tăng trưởng ổn định  
Trọng tâm chính sách là phát triển các sản phẩm mới và công nghệ mới, thúc đẩy quá  
trình hình thành nguồn nhân lực và các biện pháp khác nhằm gia tăng “hàm lượng tri  
thức” - tăng cường nguồn lực quản lý.  
Thành lập Viện Công nghệ và Quản lý kinh doanh nhỏ.  
Thành lập Trung tâm Thông tin kinh doanh nhỏ.  
1973  
1984  
Thành lập Trung tâm thông tin địa phương kinh doanh nhỏ (cấp quận)  
Thời kỳ chuyển tiếp (giai đoạn 1)  
Thay đổi cơ cấu và sự tích tụ công nghiệp.  
Hỗ trợ thành lập doanh nghiệp mới.  
Luật Thúc đẩy các hoạt động sáng tạo trong kinh doanh của các SME.  
Sửa đổi Luật Cơ bản về Doanh nghiệp nhỏ và vừa.  
1985  
1999  
Thời kỳ chuyển tiếp (giai đoạn 2)  
Thúc đẩy tăng trưởng năng động linh hoạt và phát triển độc lập của các SME.  
Thúc đẩy đổi mới.  
Từ  
2000  
Tạo thuận lợi giúp SME thích ứng với sự thay đổi về kinh tế - xã hội.  
2013  
2016  
2017  
Chiến lược toàn diện cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo  
Kế hoạch cơ bản về Khoa học và Công nghệ lần thứ V giai đoạn 2016 - 2020  
Chiến lược Đầu tư tương lai  
2.2. Chính sách công nghiệp quốc gia của Hàn Quốc  
Hàn Quốc là quốc gia đặt phát triển văn hóa thành một trong những chính sách trọng điểm  
của Nhà nước. Thậm chí, đất nước này còn chủ trương nâng ngành công nghiệp văn hóa lên vị  
trí dẫn dắt các ngành công nghiệp khác. Năm 2016, Hàn Quốc cùng với Đức, Thụy Sĩ, Nhật Bản  
và Thụy Điển đã lọt vào top 5 quốc gia dẫn đầu về các ý tưởng (theo xếp hạng chỉ số sáng tạo  
Bloomberg). Để có được vị trí này là cả một hành trình dài của Hàn Quốc với cuộc cách mạng công  
nghiệp diễn ra trong nhiều năm làm thay đổi diện mạo đất nước.  
- Dấu mốc của chính sách công nghiệp quốc gia Hàn Quốc là thập niên 1970 với việc bắt  
đầu một nỗ lực dưới sự chỉ đạo của Chính phủ để đẩy mạnh công nghiệp nặng và công nghiệp hóa  
chất. Chính phủ ưu tiên cho các ngành cụ thể, áp dụng cho cả các doanh nghiệp và các tập đoàn  
lớn (chaebol). Các hỗ trợ cụ thể được áp dụng đó là Chính phủ cho vay với lãi suất thấp và hỗ trợ  
152  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
về cơ sở hạ tầng cho các doanh nghiệp thực hiện kế hoạch công nghiệp của Chính phủ. Kết quả thu  
được là hầu hết các ngành công nghiệp nhận được ưu tiên đề có lợi nhuận tốt, Hàn Quốc có những  
doanh nghiệp xuất khẩu lớn các sản phẩm công nghiệp nặng.  
- Bước sang thập niên 80, để thích ứng với những điều kiện mới, Hàn Quốc nhanh chóng  
từ bỏ việc can thiệp sâu của Chính phủ vào công nghiệp để chuyển sang chính sách kinh tế tự do  
nhằm thỏa mãn diều kiện trở thành thành viên của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế OECD.  
Hàn Quốc đẩy mạnh tự do hóa cả thương mại và tài chính, tiến hành nhiều cảnh cách chính sách  
đối với khu vực tài chính, công nghiệp, tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước, thực hiện tự do  
hóa thị trường lao động.  
- Hàn Quốc dần thực hiện cải tổ các chaebol vào những năm 90 của thế kỷ trước theo các  
hướng: (1) tập trung vào các hoạt động kinh doanh cốt lõi của tập đoàn; (2) cải thiện quản trị doanh  
nghiệp, tăng trách nhiệm giải trình trước Chính phủ và người dân; (3) thực hiện báo cáo kế toán  
toàn cầu tuân theo chuẩn mực kế toán quốc tế và (4) thực hiện luật chống độc quyền và thuế thừa kế  
(mức tối đa 50% và thêm 20% nếu là thừa kế từ cổ đông lớn nhất của một doanh nghiệp). Các chính  
sách này giúp các chaebol định hình lại theo hướng tập trung hơn, cắt giảm chi nhánh, giảm tỷ số  
nợ trên vốn chủ sở hữu, nâng cao sức cạnh tranh theo ngành nghề kinh doanh chính của mình. Các  
tập đoàn Hàn Quốc ngày nay có sức cạnh tranh mạnh mẽ không chỉ ở châu Á mà còn là toàn cầu.  
- Cụ thể hóa CMCN 4.0 bằng chiến lược Cải cách công nghiệp sản xuất 3.0. Theo quan điểm  
của Hàn Quốc thì Cải cách công nghiệp 1.0 là sự thay thế nhập khẩu cho ngành công nghiệp nhẹ,  
Cải cách công nghiệp 2.0 tập trung vào thiết bị lắp ráp thì Cải cách công nghiệp 3.0 có nhiệm vụ  
trọng tâm là tạo ra giá trị mới và tăng khả năng cạnh trah bằng cách đưa công nghệ thông tin vào  
các nhà máy, từ đó nhanh chóng xây dựng hệ thống nhà máy thông minh. Mục tiêu của Chiến lược  
Cải cách công nghiệp 3.0 của Hàn Quốc được Chính phủ nước này cụ thể hóa bằng Kế hoạch hành  
động thực hiện Chiến lược 3.0 [3] vào tháng 3/2015 với các chiến lược cụ thể:  
(1) Mở rộng quá trình sản xuất thông minh, phát triển công nghệ cốt lõi, tăng cường năng lực  
các phần mềm cho quản lý và sản xuất  
(2) Tạo ra ngành công nghiệp mới đại diện, hướng tới việc xây dựng thêm nhiều nhà máy  
thông minh, thương mại hóa và phát triển vật liệu thông minh, thúc đẩy hoạt động R & D. Hướng  
tới việc năm 2020 sẽ có 10.000 nhà máy thông minh với tổng số vốn khoảng 23 tỷ USD, trong đó,  
phần hỗ trợ từ Chính phủ tối đa 10%.  
(3) Xây dựng cơ sở hạ tầng hiện đại và tái cơ cấu sản xuất công nghiệp theo hướng xuất khẩu  
giá trị cao. Mục tiêu đến 2024 giá trị xuất khẩu quốc gia vượt 1.000 tỷ USD, vượt qua Nhật Bản  
để nằm trong top 4 (sau Trung Quốc, Hoa Kỳ và Đức).  
2.3. Chính sách công nghiệp quốc gia của Trung Quốc  
Hệ thống chính sách công nghiệp quốc gia Trung Quốc luôn được định hình và thực hiện từ  
chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Trung Quốc qua văn kiện đại hội Đảng. Theo đó, chính  
sách công nghiệp quốc gia Trung Quốc hiện nay tuân theo Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội lần  
thứ XII (2012 - 2016) và XIII (2016 - 2020), trong đó, xác định rõ nhiệm vụ, mục tiêu, chiến lược  
phát triển công nghiệp Trung Quốc. Cụ thể hóa nghị quyết được Trung Quốc thể hiện qua kế hoạch  
Made in China 2025.  
153  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
Năm 2015, Bắc Kinh công bố dự án “Chế tạo tại Trung Quốc 2025” (Made in China 2025  
- MIC 2025). Đây là bản kế hoạch 10 năm phát triển ngành công nghiệp chế tạo, một sáng kiến  
chiến lược đầy tham vọng nhằm biến TQ thành siêu cường chế tạo cạnh tranh được với Mỹ. Lấy  
cảm hứng từ Chiến lược Industry 4.0 của Đức, dự án “Chế tạo tại TQ 2025” xác định 10 lĩnh vực  
trọng điểm lớn về phát triển ngành chế tạo: (1) Công nghệ tin học thế hệ mới; (2) Máy công cụ  
điều khiển số cấp cao và robot; (3) Thiết bị hàng không vũ trụ; (4) Thiết bị công trình biển và tàu  
biển công nghệ cao; (5) Trang thiết bị giao thông quỹ đạo tiên tiến; (6) Ô tô tiết kiệm năng lượng  
và dùng nguồn năng lượng mới; (7) Thiết bị điện lực; (8) Trang thiết bị nông nghiệp; (9) Vật liệu  
mới; (10) Y dược sinh học và thiết bị y tế tính năng cao [7].  
Trải qua hơn 3 năm thực hiện, theo đánh giá của Ủy ban Phát triển và Cải cách quốc gia Trung  
Quốc, MIC 2025 đã góp phần duy trì đà phát triển ổn định của đất nước, cơ cấu nền kinh tế không  
ngừng được ưu việt, các ngành mang tính chiến lược như chế tạo công nghệ cao có đà phát triển  
tốt. MIC 2025 đồng thời giúp nâng cao năng lực sáng tạo, sức cạnh tranh của sản phẩm. Tính tới  
hết năm 2018, năng suất của các dự án thí điểm vận hành theo hướng thông minh của nước này  
tăng 38% về hiệu suất, đồng thời giá thành vận hành kinh doanh giảm 21%.  
Về khung khổ chính sách, MIC 2025 được hoạch định như một chiến lược công nghiệp 10  
năm, bổ sung cho các chiến lược phát triển kinh tế cùng giai đoạn và kế hoạch hàng năm. Về tầm  
nhìn, MIC 2025 được cho chỉ là giai đoạn 1 của chiến lược dài hơn hơn nữa, bao gồm: 2015-2025:  
trở thành cường quốc chế tạo công nghệ; 2025-2035: gia nhập nhóm các cường quốc chế tạo công  
nghệ toàn cầu hạng trung; 2035-2045: cường quốc hàng đầu thế giới về chế tạo công nghệ.  
Như vậy, MIC 2025 có tính liên tục khi kế thừa cách vận hành của chính sách cải cách mở  
cửa đã áp dụng thành công của Trung Quốc, như việc đặt trong khung khổ các chiến lược phát  
triển kinh tế nói chung; có tầm nhìn dài hạn, có trọng tâm thí điểm, kết hợp về không gian và lĩnh  
vực ưu tiên. Ví dụ: Thâm Quyến - vốn là điểm sáng về thí điểm đặc khu - trước đây là một trung  
tâm chuyên sản xuất hàng nhái sản phẩm của các hãng nổi tiếng trên thế giới thì nay đã trở thành  
trung tâm sáng tạo đổi mới và đầu tư công nghệ mới, tập trung vào các ngành công nghiệp sáng  
tạo. Ngoài sự phát triển nối tiếp trên cùng một không gian, có thể thấy rõ tính kết nối liên hoàn  
giữa nền công nghiệp sản xuất truyền thống và CN 4.0 khi cảng Ninh Bô được lựa chọn làm nơi  
thí điểm ứng dụng CN 4.0 trong lĩnh vực logistics.  
CN 4.0 cũng không phải là hoàn toàn mới đối với nền sản xuất và chính sách quản lý nhà  
nước; vấn đề chỉ là sự thay đổi về nhận thức vốn lại phụ thuộc vào những thành tựu phát triển công  
nghệ trong thực tế. Được biết giai đoạn 2010- 2020, Trung Quốc đã hoạch định chiến lược đẩy  
mạnh các ngành công nghiệp đang nổi lên (strategic emerging industries), bao gồm: công nghệ  
tiết kiệm năng lượng thân thiện môi trường, công nghệ thông tin thế hệ mới, công nghệ sinh học,  
chế tạo thiết bị hiện đại, năng lượng mới, nguyên liệu mới, phương tiện sử dụng năng lượng mới;  
với mục tiêu đạt 8% GDP vào năm 2015 và 15% GDP năm 2020. Chiến lược này nhấn mạnh các  
ngành công nghiệp năng lượng và mối quan tâm đối với môi trường, vốn là những thách thức hàng  
đầu của Trung Quốc phản ánh cách tiếp cận còn hạn chế như đối với những chính sách phát triển  
công nghệ nói chung do các công nghệ CN 4.0 ở thời điểm này chưa phát triển rõ rệt.  
Đối với MIC 2025, mục tiêu và tính thương mại rõ ràng hơn rất nhiều. Cụ thể, MIC 2025  
nhắm vào 10 lĩnh vực công nghiệp sau: công nghệ thông tin, tự động hóa và máy móc điều khiển số  
154  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
cao cấp, thiết bị hàng không và vũ trụ, thiết bị cơ khí hàng hải và đóng tàu hiện đại, thiết bị đường  
sắt, phương tiện tiết kiệm năng lượng, thiết bị điện, nguyên nhiên liệu mới, thiết bị y tế hiện đại  
và dược phẩm sinh học, thiết bị nông nghiệp. Có thể thấy, các lĩnh vực đều gắn với công nghiệp  
truyền thống và đều có tính thương mại lớn, thể hiện ở các thị phần mục tiêu được thay đổi (Biểu  
đồ 6). Đóng góp kinh tế của chiến lược cũng được thể hiện cụ thể hơn khi đặt mục tiêu chủ đạo là  
nâng tỷ lệ nội địa hóa các sản phẩm và nguyên liệu nói trên lên 40% năm 2020 và 70% năm 2025  
[5]. Bên cạnh đó, các nhà hoạch định chính sách hy vọng bằng việc thực hiện chiến lược này, các  
nhà sản xuất Trung Quốc sẽ tham gia đầy đủ vào chuỗi giá trị toàn cầu, hợp tác hiệu quả với các  
nền kinh tế phát triển và các lĩnh vực khác như tài chính, y tế, giáo dục đều được hưởng lợi.  
3. KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH VÀ GIẢI PHÁP TRUNG - DÀI HẠN CHO VIỆT NAM  
3.1. Khuyến nghị chính sách  
Tại Nghị quyết số 23 - NQ/TWngày 22/3/2018 của Bộ Chính trị về định hướng xây dựng chính  
sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã định hướng các  
chính sách lớn để phát triển công nghiệp quốc gia trong thời gian tới cũng như trong dài hạn, gồm:  
- Chính sách phân bố không gian và chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp.  
- Chính sách phát triển các ngành công nghiệp ưu tiên.  
- Chính sách tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho phát triển công nghiệp.  
- Chính sách phát triển doanh nghiệp công nghiệp.  
- Chính sách phát triển nguồn nhân lực công nghiệp.  
- Chính sách khoa học và công nghệ cho phát triển công nghiệp.  
- Chính sách khai thác tài nguyên, khoáng sản và chính sách bảo vệ môi trường, thích ứng  
với biến đổi khí hậu trong quá trình phát triển công nghiệp.  
- Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy  
quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng và triển khai thực hiện chính sách phát triển công  
nghiệp quốc gia.  
Từ việc xem xét chính sách công nghiệp của một số quốc gia trên thế giới cũng như căn cứ  
vào định hướng của Đảng về chính sách công nghiệp quốc gia, có thể đưa ra một số khuyến nghị  
sau:  
- Thứ nhất, chính sách công nghiệp được các quốc gia sử dụng rất đa dạng, mục tiêu chung  
đều là nâng cao năng lực cạnh tranh trên cơ sở không ngừng cải thiện năng suất. Tuy nhiên, nội  
hàm và công cụ của chính sách phát triển có sự khác nhau trong từng giai đoạn của mỗi quốc gia  
- Thứ hai, xây dựng chính sách công nghiệp quốc gia cần chú trọng tới bối cảnh toàn cầu và  
xu hướng hội nhập của đất nước. Thực tiễn cho thấy các quốc gia có dự báo và thay đổi chính sách  
một cách nhanh chóng như Nhật Bản đã thu được nhiều kết quả trong phát triển công nghiệp quốc  
gia. Xu hướng hiện nay, chính sách công nghiệp ngày càng trở thành công cụ hữu hiệu để các quốc  
gia thực hiện mục tiêu phát triển bền vững và đáp ứng yêu cầu của toàn cầu hóa.  
- Thứ ba, chính sách công nghiệp quốc gia cần có chọn lọc theo những lĩnh vực có thế mạnh  
155  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
của đất nước cũng như ngành công nghiệp thiết yếu do một quốc gia không thể cạnh tranh với tất  
cả các quốc gia khác ở mọi lĩnh vực. Đồng thời, chính sách công nghiệp phải nhất quán, hướng tới  
một mục tiêu. Tiêu biểu chính là mô hình Made in China 2025 của Trung Quốc hay Cải cách công  
nghiệp 3.0 của Hàn Quốc.  
- Thứ tư, chính sách phát triển công nghiệp cần được thích ứng với môi trường kinh tế trong  
nước và quốc tế theo hướng tăng cường nội lực đồng thời tận dụng các nguồn lực bên ngoài; đồng  
thời chính sách công nghiệp cần đồng bộ trong thực hiện với các chính sách khác như chính sách  
thương mại, chính sách phát triển khoa học công nghệ, chính sách nhân lực, chính sách xã hội…  
3.2. Giải pháp phát triển một số lĩnh vực công nghiệp quan trọng  
Từ những định hướng và khuyến nghị nêu trên, có thể đề xuất một số giải pháp cụ thể đối với  
một số lĩnh vực công nghiệp quan trọng của đất nước:  
Thứ nhất, ngành luyện kim  
- Cần thay đổi tư duy và quan điểm rằng luyện kim không phải là ngành công nghiệp mũi  
nhọn hay công nghiệp trọng điểm. Thực tế các nước đều cho thấy, nếu ngành luyện kim không phát  
triển thì quốc gia không thể có được nền công nghiệp chế tạo tiên tiến, vì hầu hết các ngành kinh  
tế đều sử dụng sản phẩm của luyện kim  
- Chính phủ cần chỉ đạo Bộ Công thương tiếp tục phối hợp với các đơn vị liên quan nghiên  
cứu khả năng áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại theo đúng quy định của WTO và các  
FTA đã ký kết để bảo vệ ngành thép Việt Nam trước áp lực cạnh tranh của sản phẩm thép nhập  
khẩu.  
- Hỗ trợ Formosa tháo gỡ khó khăn, vướng mắc sau sự cố môi trường để sớm đưa dự án  
sản xuất thép giai đoạn 1 vào hoạt động hết công suất trong năm 2019 và hình thành chuỗi ngành  
công nghiệp sau thép, công nghiệp hỗ trợ, nâng cao giá trị gia tăng các sản phẩm thép của Dự án  
Formosa Hà Tĩnh. Thúc đẩy các Dự án trọng điểm ngành thép triển khai đúng kế hoạch: Dự án  
thép Nghi Sơn của Công ty cổ phần thép Nghi Sơn và Dự án Liên hợp thép Quảng Ngãi của Tập  
đoàn Hòa Phát...  
- Chỉ đạo, phối hợp với các doanh nghiệp chủ động theo dõi sát thông tin thị trường trong  
và ngoài nước để có kế hoạch sản xuất kinh doanh phù hợp; cân đối đủ nguyên liệu, vật tư cho sản  
xuất;  
Thứ hai, ngành công nghiệp điện tử  
- Xây dựng các biện pháp bảo vệ thị trường điện - điện tử tiêu dùng (như thuế phòng vệ,  
hàng rào kỹ thuật, chống gian lận thương mại, hàng giả và hàng nhập lậu…) đồng thời tập trung  
hỗ trợ một số doanh nghiệp triển vọng của Việt Nam trong lĩnh vực điện tử nhằm tạo cơ hội cho  
các doanh nghiệp này phát triển, đóng vai trò dẫn dắt thị trường điện tử trong nước, đặc biệt là các  
sản phẩm điện - điện tử gia dụng.  
- Tiếp tục hỗ trợ hoạt động lắp ráp của Samsung tại Việt Nam; phối hợp với Samsung xây  
dựng hệ thống nhà cung ứng nội địa cung cấp cho hoạt động lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh.  
- Đẩy mạnh thu hút các tập đoàn công nghiệp điện tử đã và đang có xu hướng rời bỏ Trung  
156  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
Quốc do ảnh hưởng của chiến tranh thương mại Mỹ - Trung tới đầu tư tại Việt Nam. Việc thu hút  
cần hướng vào các tập đoàn lớn, sử dụng công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường và phù hợp  
với trình độ nguồn nhân lực của lao động Việt Nam  
Thứ ba, ngành dệt may và da giày  
- Xây dựng và hoàn thiện Chiến lược phát triển ngành Dệt may và Da dày Việt Nam, đáp ứng  
yêu cầu quản lý ngành trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.  
- Triển khai các hoạt động thu hút và hỗ trợ đầu tư trong lĩnh vực dệt nhuộm, đẩy mạnh hỗ  
trợ công nghệ nhuộm nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành dệt vải và nguyên phụ liệu thông qua  
việc xây dựng các khu công nghiệp tập trung, từ đó đảm bảo nguyên tắc xuất xứ sản phẩm dệt may  
trong nước nhằm tận dụng tối đa cơ hội từ các FTAs đã ký kết .  
Thứ tư, ngành công nghiệp hỗ trợ  
- Trước mắt, cần điều chỉnh, sửa đổi những quy định còn vướng mắc trong Nghị định số  
111/2015/NĐ-CP liên quan đến phạm vi CNHT; làm rõ tiêu chí xác định đối tượng ưu đãi; rà soát,  
cập nhật và điều chỉnh danh mục các sản phẩm CNHT ưu tiên phát triển phù hợp với nhu cầu thực  
tiễn.  
- Triển khai hiệu quả Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ được phê duyệt tại Quyết  
định số 68/QĐ-TTg ngày 18 tháng 01 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ. Nghiên cứu sửa đổi  
Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ phù hợp với yêu cầu thực tiễn.  
- Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến thông tin về chính sách phát triển CNHT để  
thu hút đầu tư nguồn lực xã hội vào phát triển CNHT; Xây dựng cơ sở dữ liệu về các DN CNHT  
Việt Nam và cụm liên kết nhằm thúc đẩy kết nối giữa nhà cung cấp Việt Nam và các tập đoàn đa  
quốc gia có nhu cầu tìm kiếm nhà cung cấp tại Việt Nam; Triển khai hiệu quả các chương trình kết  
nối kinh doanh, liên kết giữa DN Việt Nam với các DN đa quốc gia, các công ty sản xuất, lắp ráp  
trong nước và nước ngoài; Xúc tiến kết nối đầu tư tại thị trường các nước mà Việt Nam đã ký kết  
các hiệp định thương mại tự do nhằm đa dạng hoá và mở rộng thị trường xuất khẩu nhằm tạo cơ  
hội thị trường cho các sản phẩm CNHT…  
4. KẾT LUẬN  
Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành và lãnh đạo tổ chức thực hiện nhiều chủ  
trương, chính sách góp phần quan trọng tạo nên những thành tựu phát triển công nghiệp đất nước.  
Công nghiệp là ngành kinh tế quan trọng, những năm gần đây có đóng góp lớn nhất cho ngân sách  
nhà nước, trở thành ngành xuất khẩu chủ đạo với tốc độ tăng trưởng ở mức cao. Trong bối cảnh  
cách mạng công nghiệp 4.0, cần nhanh chóng có những nhận định, đánh giá về tình hình trong  
và ngoài nước, tham khảo kinh nghiệm quốc tế cũng như khu vực để xây dựng chính sách công  
nghiệp quốc gia theo hướng bền vững.  
Tài liệu tham khảo  
1.Ban Kinh tế trung ương Đảng 2017, Chính sách phát triển công nghiệp quốc gia, NXB Đại  
học Kinh tế quốc dân.  
157  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
2.Bộ Công thương (2018), Báo cáo Định hướng và giải pháp phát triển ngành công nghiệp  
Việt Nam.  
3.BộTàichính(2017),Cuộccáchmạngcôngnghiệplầnthứ4:Phảnứngchínhsáchcủamộtsố  
chitiet;jsessionid=P9pj7r9JFhGJjvCMaycTl9o0Pq5bs4sohhNP83V5BiOL7dj7s_  
p D ! - 6 4 6 1 9 7 9 7 1 ! - 1 7 0 6 1 1 6 4 0 0 ? d D o c N a m e = M O F U  
C M 1 0 2 4 8 2 & _ a f r L o o p = 4 9 7 5 8 2 2 7 1 2 6 8 0 4 6 9 2 # ! % 4 0 % 4 0 % 3 F _  
afrLoop%3D49758227126804692%26dDocName%3DMOFUCM102482%26_adf.ctrl-  
state%3D9xuwl8b49_4  
4.Nguyễn Hoàng Hà 2017, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư: thách thức và cơ hội cho phát  
triển, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Cải cách quốc gia để phát triển, Hà Nội ngày 24/3/2017.  
5.Institute for Security and Development Policy (ISDP) 2018, Made in China 2025:  
6.Li, L 2017, China’s manufacturing locus in 2025: with a comparison of “Made in China  
2025” and “Industry 4.0”, Technological forecasting and social change, Elsevier.  
7.Đinh Tiến Minh (2018), Kinh nghiệm phát triển ngành công nghiệp phụ trợ của Nhật Bản,  
Hội thảo khoa học: Thực trạng, Định hướng và Giải pháp phát triển Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam,  
Trường Đại học Kinh tế TP.HCM.  
8.OECD Economic Surveys: Greece 1975.  
9.OECD Econimic Surveys 2013.  
10. World Economic Forum (WEF) 2018, Readiness for the future of production, Report  
2018, Geneva, Switzerland.  
pdf 10 trang Thùy Anh 14940 Free
Bạn đang xem tài liệu "Kinh nghiệm một số nước châu Á về xây dựng chính sách và phát triển công nghiệp quốc gia trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 - Khuyến nghị chính sách cho Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkinh_nghiem_mot_so_nuoc_chau_a_ve_xay_dung_chinh_sach_va_pha.pdf