Thực trạng chính sách giảm trừ gia cảnh khi tính thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam

Bùi Thị Mến  
Khoa Tài chính, Học viện Ngân hàng  
Ngày nhận: 10/06/2021  
Ngày nhận bản sửa: 16/07/2021  
Ngày duyệt đăng: 26/07/2021  
Tóm tắt: Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công chiếm tỷ  
trọng lớn trong tổng thu từ thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam. Người nộp thuế có  
thu nhập từ lương, cư trú ở Việt Nam sẽ được giảm trừ gia cảnh. Từ kỳ tính thuế  
2020, mức giảm trừ này được điều chỉnh tăng so với quy định trước đây. Số tiền  
khấu trừ tăng lên có lợi cho những người nộp thuế có thu nhập thấp hơn. Dꢀa trên  
dữ liệu thứ cấp thu thập trong các báo cáo cꢁa Tổng cꢂc Thuế, Bộ Tài chính, bài  
viết này phân tích thꢀc tiễn quy định giảm trừ gia cảnh, kết quả cho thấy: tỷ lệ giảm  
trừ gia cảnh so với mức tiền lương bình quân đầu người tương đối cao trong khu  
vꢀc; cơ sở điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh chưa đầy đꢁ, chưa cân nhắc đến các  
biến động có thể ảnh hưởng mạnh mẽ đến khả năng nộp thuế cꢁa người nộp thuế.  
Bài viết đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách giảm trừ đối với thuế  
thu nhập cá nhân ở Việt Nam.  
Từ khóa: thuế thu nhập cá nhân, thu ngân sách nhà nước, giảm trừ gia cảnh  
Status of family circumstance-based deduction policy for personal income tax in Vietnam  
Abstract: Personal income tax on salaries and wages makes up a large proportion of the total personal  
income tax revenue in Vietnam. A resident taxpayer will be allowed the family circumstance-based  
deduction to decrease his personal income tax. Since 2020, the tax deduction has raised compared to  
the previous regulation. The increased bigger deduction amounts ushered in by the policy have been  
particularly beneficial to lower-income taxpayers. By using the secondary data collected in the reports  
of Vietnam General Department of Taxation and Vietnam Ministry of Finance, this article analyzes  
the family circumstance-based deduction regulations, the results show that: the proportion of family  
circumstance-based deduction compared to the amount of average salary per capita are relatively  
high in the region; the basis of deduction is incomplete. This paper generates recommendations to  
aim to finalize the personal income tax deduction policy in Vietnam.  
Keywords: personal income tax, tax revenue, family circumstance-based deduction  
Bui, Thi Men  
Email: menbt@hvnh.edu.vn  
Faculty of Finance, Banking Academy of Vietnam  
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng  
Số 233- Tháng 10. 2021  
© Học viện Ngân hàng  
16  
ISSN 1859 - 011X  
BÙI THỊ MẾN  
1. Giới thiệu nghiên cứu  
một tỷ lệ thu nhập nhất định hoặc một số  
tiền cụ thể.  
Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) là sắc thuế  
đánh trực tiếp vào thu nhập chịu thuế của  
cá nhân trong kỳ tính thuế. Loại thuế này  
được áp dụng nhằm huy động nguồn lực  
cho Nhà nước, bên cạnh đó được Nhà nước  
sử dụng để điều tiết thu nhập của người  
nộp thuế (NNT). Trong số các loại thu  
nhập chịu thuế, Nhà nước thường không  
đánh thuế vào phần thu nhập tối thiểu trung  
bình xã hội dùng để tái tạo sức lao động của  
NNT, bao gồm phần tái tạo sức lao động  
của bản thân NNT và phần để nuôi dưỡng  
những người phụ thuộc của NNT. Trên thế  
giới, cơ sở của việc giảm trừ dựa trên 3 loại  
(Goode, R., 2010):  
+ Loại thứ nhất: chi tiêu của dân cư được  
tính toán cả chi phí y tế bất thường. Cơ sở  
của quy định này là chi phí y tế nói chung  
không thể kiểm soát được và khi phát sinh  
trên một mức bình thường nhất định, sẽ làm  
giảm khả năng nộp thuế của một cá nhân  
so với những người khác có cùng mức thu  
nhập. Chẳng hạn, Chính phủ Mỹ cho phép  
giảm trừ các khoản chi phí y tế bất thường  
(khoản phát sinh dưới 10% tổng thu nhập  
và không được tài trợ bởi nguồn khác như  
bảo hiểm). Quy định tương tự cũng được  
áp dụng ở Đức. Tại Hà Lan, toàn bộ chi  
phí sẽ được khấu trừ khi vượt quá mức tối  
thiểu.  
+ Loại thứ ba: Giảm trừ không nhằm mục  
đích giảm bớt khó khăn cũng như không  
khuyến khích hỗ trợ tự nguyện cho các hoạt  
động xã hội mong muốn mà nhằm khuyến  
khích NNT có thu nhập thấp tìm kiếm sự  
bảo vệ bằng bảo hiểm nhân thọ, kế hoạch  
hưu trí và tiết kiệm tích lũy. Tại một số  
quốc gia, các khoản (i) đóng góp an sinh xã  
hội và đóng góp bắt buộc vào quỹ hưu trí  
tư nhân, được phép khấu trừ như Nhật Bản,  
Pháp, Hà Lan và Bỉ, và (ii) số tiền bảo hiểm  
nhân thọ có giới hạn, được khấu trừ, chẳng  
hạn Vương quốc Anh, Nhật Bản, Pháp và  
Đức. Các khoản giảm trừ cũng bao gồm số  
tiền tiết kiệm hạn chế được dành cho việc  
xây dựng nhà ở hoặc gửi tiết kiệm.  
Luật Thuế TNCN số 04/2007/QH12 Việt  
Nam hiện quy định 10 khoản thu nhập  
chịu thuế TNCN bao gồm thu nhập từ tiền  
lương, tiền công, kinh doanh, thu nhập từ  
đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn, chuyển  
nhượng bất động sản, thừa kế, quà tặng,  
trúng thưởng, nhượng quyền thương mại...  
Trong đó, chính sách giảm trừ thuế bao  
gồm giảm trừ gia cảnh (cho NNT và người  
phụ thuộc của NNT), giảm trừ bảo hiểm bắt  
buộc, từ thiện, nhân đạo được áp dụng với  
duy nhất thu nhập từ tiền lương, tiền công  
của cá nhân cư trú tại Việt Nam; mức giảm  
trừ gia cảnh cao nhất 11 triệu đồng/NNT và  
4,4 triệu đồng/người phụ thuộc của NNT  
được áp dụng từ kỳ tính thuế 2020.  
+ Loại thứ hai: Giảm trừ đóng góp tôn  
giáo, từ thiện, giáo dục và văn hóa. Các  
khoản đóng góp đủ điều kiện cho khoản  
khấu trừ này khác nhau giữa các quốc  
gia và tổng các khoản đóng góp từ thiện  
thường bị giới hạn ở một số phần trăm thu  
nhập của người đóng thuế. Ở Nhật Bản, các  
khoản đóng góp cho chính quyền nhà nước  
(các cấp), hoặc cho các tổ chức nghiên cứu  
khoa học được giảm trừ khỏi thu nhập chịu  
thuế nhưng chỉ trong trường hợp các khoản  
thanh toán đó vượt quá mức thấp hơn của  
2. Thꢀc trꢁng chꢂnh sꢃch giꢄm trꢅ gia  
cꢄnh khi xꢃc đꢆnh thuꢇ thu nhập cꢃ nhân  
ở Việt Nam  
2.1. Thuꢀ Thu nhꢁp cꢂ nhân ꢃ Viꢄt Nam  
hiꢄn nay  
Luật Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) số  
04/2007/QH12 ở Việt Nam có hiệu lực từ  
Số 233- Tháng 10. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng  
17  
Thực trạng chính sách giảm trừ gia cảnh khi tính thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam  
01/01/2009 đã có đóng góp nhất định trong  
tổng thu Ngân sách Nhà nước (NSNN).  
Thu nhập chịu thuế TNCN chủ yếu là thu  
nhập từ tiền lương, tiền công; thuế thu nhập  
từ hoạt động sản xuất, kinh doanh của cá  
nhân; thuế thu nhập từ chuyển nhượng bất  
động sản, nhận thừa kế và nhận quà tặng là  
bất động sản; thuế thu nhập từ trúng thưởng;  
thuế thu nhập từ bản quyền, nhượng quyền  
thương mại; thuế thu nhập từ thừa kế, quà  
biếu, quà tặng khác trừ bất động sản; thuế  
thu nhập từ hoạt động cho thuê tài sản.  
Trong đó thu nhập từ tiền lương, tiền công  
chiếm tỷ trọng chủ yếu. Thuế thu nhập cá  
nhân đối với tiền lương tiền công được tính  
toán trên cơ sở phần thu nhập còn lại sau  
giảm trừ các khoản giảm trừ thu nhập chịu  
thuế như gia cảnh, từ thiện nhân đạo, bảo  
hiểm bắt buộc…  
Số thuế thu được đối với thu nhập tính thuế  
ở bậc 6, bậc 7 có tỷ trọng lớn hơn cả, chiếm  
hơn nửa số thuế nộp vào NSNN; trong khi  
chỉ có khoảng 5% NNT phải nộp đến bậc  
thuế này (Hình 2).  
Thuꢀ TNCN đối với cꢂc nhóm thu nhꢁp  
khꢂc (ngoại trừ thu nhꢁp từ tiền lương,  
tiền công)  
Có thể nhận thấy, thuế TNCN đánh trên  
tiền lương, tiền công vẫn chiếm hầu hết số  
thu NSNN từ thuế TNCN. Các nhóm thu  
nhập còn lại không đáng kể, chiếm 4% tổng  
nguồn thu này. Nói cách khác, một sự thay  
đổi về thuế TNCN đối với thu nhập từ tiền  
lương tiền công có thể gây ảnh hưởng lớn  
hơn lên NSNN so với việc thay đổi phạm vi  
hoặc phương pháp tính thuế TNCN đối với  
các nhóm thu nhập còn lại.  
2.2. Chꢅnh sꢂch giảm trừ gia cảnh  
Thuꢀ TNCN đối với nhóm thu nhꢁp từ  
tiền lương tiền công (cꢂ nhân cư trú ꢃ  
Viꢄt Nam)  
Theo Luật Thuế TNCN, căn cứ vào yêu cầu  
thực tiễn và mục tiêu thu NSNN, nhiều thay  
đổi quan trọng trong chính sách thuế TNCN  
đã được thực hiện. Luật cũng cho phép Ủy  
ban thường vụ Quốc hội được quyền điều  
chỉnh mức giảm trừ gia cảnh khi tính thuế  
TNCN của những cá nhân thuộc diện được  
giảm trừ. Các khoản giảm trừ chỉ được phép  
áp dụng với riêng thu nhập từ tiền lương,  
tiền công của cá nhân cư trú mà không tính  
Số liệu năm 2018 (Hình 1) phản ánh thực tế  
số lượng NNT ở bậc thuế cao (từ 20% trở  
lên) chiếm tỷ trọng không đáng kể. Trong  
khi đó đại bộ phận NNT thường nộp thuế  
đến bậc 1 hoặc bậc 2). Những người bắt  
đầu nộp thuế ở bậc 0 phải là người có thu  
nhập từ tiền lương, tiền công trên 9 triệu  
đồng/tháng.  
Nguồn: Tổng Cꢂc thuế, 2018  
(* bậc 0 ứng với những NNT có thu nhập tính thuế dưới 5 triệu đồng/  
tháng, thuế suất thuế TNCN 5%)  
Hình 1. Tỷ trọng người nộp thuꢇ thu nhập cꢃ nhân với thu nhập  
tꢅ tiền lương, tiền công năm 2018 tương ứng với cꢃc bậc thuꢇ (*)  
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 233- Tháng 10. 2021  
18  
BÙI THỊ MẾN  
Đơn vị: tỷ đồng  
Nguồn: Tổng Cꢂc thuế, 2018 (*bậc 0 là thu nhập tính thuế dưới 5 triệu  
đồng/tháng)  
Hình 2. Số thuꢇ TNCN tương ứng với tꢅng bậc thuꢇ  
Bꢄng 1. Thu thuꢇ thu nhập cꢃ nhân chia theo tꢅng loꢁi thu nhập  
Số lượng người  
nộp (người)  
Thuế TNCN  
(tỷ đồng)  
Tỷ trọng thu  
(so với tổng thu)  
Năm 2018  
Thuế tính trên tiền lương, tiền công  
16.631.384  
1.972.720  
18.604.104  
57.163  
96%  
Thuế tính trên các khoản thu nhập  
còn lại  
2.286  
4%  
Tổng  
59.449  
100%  
Nguồn: Tổng Cꢂc thuế, 2018  
đối với các khoản thu nhập khác.  
phụ thuộc ở các nước nhìn chung thường  
nhỏ hơn 1 lần. Mặt khác, nếu xem xét chỉ  
số CPI tại thời điểm cuối tháng 12/2019 so  
với thời điểm 01/7/2013 là 123,2%, tăng  
23,2% (Tổng cục Thống kê, 2019) là động  
lực dẫn đến đề xuất nâng mức giảm trừ gia  
cảnh. Chính vì vậy, ngày 02/6/2020, Nghị  
quyết 954/2020/UBTVQH14 của Ủy ban  
Thường vụ Quốc hội về điều chỉnh mức  
giảm trừ gia cảnh của thuế TNCN đã nâng  
mức giảm trừ gia cảnh. Theo đó, mức giảm  
trừ với người nộp thuế (NNT) tăng từ 9 triệu  
đồng lên 11 triệu đồng mỗi tháng; tương  
đương với từ 108 triệu lên mức 132 triệu  
đồng/năm, tăng thêm 24 triệu/NNT/năm.  
Ngoài ra mức giảm trừ với mỗi người phụ  
thuộc tăng từ 3,6 triệu đồng lên 4,4 triệu  
đồng /tháng; tương đương 43,2 triệu/năm  
lên 52,8 triệu/năm, tăng 9,6 triệu/người phụ  
Luật Thuế TNCN số 04/2007 áp dụng từ  
01/01/2009 quy định mức giảm trừ gia cảnh  
cho cá nhân người nộp thuế là 4 triệu đồng/  
tháng. Từ 01/7/2013, mức giảm trừ được  
nâng lên 9 triệu đồng/tháng. Thời điểm  
đó, việc tăng mức giảm trừ gia cảnh làm  
cho quy mô động viên từ thuế TNCN so  
với GDP giảm từ mức 1,38% (năm 2011)  
xuống còn 1,35% (năm 2015). Trong khi  
GDP bình quân đầu người tăng 1,45 lần  
trong cùng thời kỳ. Sau hơn 3 năm, so  
với GDP bình quân đầu người, hệ số về  
mức giảm trừ gia cảnh cho cá nhân người  
nộp thuế tại thời điểm năm 2016 cao hơn  
khoảng 2,3 lần (với trường hợp NNT có 1  
người phụ thuộc), trong khi đó so với GDP  
bình quân đầu người, quy mô các khoản  
giảm trừ cho người nộp thuế và mỗi người  
Số 233- Tháng 10. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng  
19  
Thực trạng chính sách giảm trừ gia cảnh khi tính thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam  
Nguồn: Tổng hợp cꢁa tác giả  
Hình 3. Diễn biꢇn sửa đổi mức giꢄm trꢅ gia cꢄnh  
thuộc/năm và áp dụng từ kỳ tính thuế 2020.  
gia cảnh lên.  
Để so sánh quy định sửa đổi với quy định  
cũ, nghiên cứu tình huống giả định về NNT  
chỉ có thu nhập từ lương và có 01 người  
phụ thuộc.  
3. Đꢃnh giꢃ việc điều chꢈnh tăng mức  
giꢄm trꢅ gia cꢄnh khi tꢂnh thuꢇ thu nhập  
cꢃ nhân  
Theo qui định cũ trong Hộp 1, NNT chỉ có  
thu nhập từ lương trung bình 20.000.000  
đồng/tháng, có 1 người phụ thuộc, thì thuế  
TNCN phải nộp đến bậc 2 (mức thuế suất  
10%), với số thuế phải nộp là 490.000  
đồng/tháng. Theo qui định mới, NNT  
tương tự như trên chỉ có thu nhập từ lương  
trung bình 20 triệu đồng/tháng, có 1 người  
phụ thuộc, nhưng do mức giảm trừ gia cảnh  
tăng lên thì thuế TNCN chỉ phải nộp ở bậc  
1 (5%), và tổng số thuế phải nộp là 230.000  
đồng/tháng. Nếu cá nhân có thu nhập chịu  
thuế từ tiền lương, tiền công trung bình 20  
triệu đồng/tháng và có 2 người phụ thuộc  
sẽ không phải nộp thuế TNCN.  
Như vậy, khi phương án điều chỉnh mức  
giảm trừ gia cảnh này được áp dụng đã  
khiến cho những NNT có giả định tương  
tự như trên sẽ chuyển xuống nộp thuế ở bậc  
thuế thấp hơn. Nếu giả định với người có  
thu nhập tính thuế thấp hơn thì họ sẽ không  
phải nộp thuế TNCN. Nói cách khác, với  
những người có thu nhập cao hơn, nếu nộp  
3.1. Ảnh hưꢃng đối với ngưꢆi nꢇp thuꢀ  
Việc tăng mức giảm trừ gia cảnh lên sẽ bớt  
đi gánh nặng thuế cho người nộp, NNT ở  
bậc thuế cao có thể chuyển xuống bậc thuế  
thấp hơn và những NNT ở bậc thuế thấp có  
thể sẽ không phải nộp thuế TNCN (Nguyễn  
Minh Phong, 2020).  
Theo ước tính của Tổng Cục thuế, với mức  
giảm trừ mới, sẽ có khoảng 1 triệu người  
đang phải nộp thuế TNCN ở bậc 1 sẽ không  
phải nộp thuế TNCN nữa. Những người  
có thu nhập 20 triệu đồng/tháng nếu có 2  
người phụ thuộc thì số thuế TNCN phải  
nộp hàng tháng chỉ chiếm khoảng 0,05%  
thu nhập (10 nghìn đồng/tháng). Những  
người có thu nhập dưới 15 triệu đồng/tháng  
có người phụ thuộc sẽ không phải nộp thuế.  
Với những người có thu nhập cao hơn, phải  
nộp thuế trong khoảng bậc 2 trở lên sẽ rất  
có lợi khi số thuế TNCN phải nộp cũng sẽ  
giảm đáng kể do được nâng mức giảm trừ  
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 233- Tháng 10. 2021  
20  
BÙI THỊ MẾN  
Hộp 1. Tình huống giꢄ đꢆnh về NNT chꢈ có thu nhập tꢅ lương và có 01 người phụ thuộc,  
giꢄm trꢅ gia cꢄnh  
Đơn vị: đồng/tháng  
Theo qui định cũ (trước năm 2020)  
Theo qui định mới (từ năm 2020)  
Tổng thu nhập 20.000.000  
Tổng thu nhập 20.000.000  
Số người phụ thuộc 1  
Số người phụ thuộc 1  
Tổng thu nhập chịu thuế 20.000.000  
Phần giảm trừ bản thân 9.000.000  
Phần giảm trừ người phụ thuộc 3.600.000  
Các khoản giảm trừ khác 0  
Tổng thu nhập chịu thuế 20.000.000  
Phần giảm trừ bản thân 11.000.000  
Phần giảm trừ người phụ thuộc 4.400.000  
Các khoản giảm trừ khác 0  
Thuế TNCN phải nộp: 490.000  
Trong đꢀ:  
Thuế TNCN phải nộp: 230.000  
Trong đꢀ:  
Số thuế phải nộp ở bậc 1 (5%): 250.000  
Số thuế phải nộp ở bậc 2 (10%): 240.000  
Số thuế phải nộp ở bậc 1 (5%): 230.000  
Số thuế phải nộp ở bậc 2 (10%): 0  
Nguồn: Tác giả giả định và tính toán  
Bꢄng 2. Thuꢇ TNCN đối với thu nhập tꢅ tiền lương, tiền công của cꢃ nhân cư trꢉ  
tꢁi Việt Nam tꢂnh theo mức giꢄm trꢅ cꢊ và mới  
Đơn vị: Tỷ đồng  
Số thuế TNCN dự tính theo  
mức GTGC mới  
5.708.533  
Số người nộp thuế  
năm 2019 (tạm tính)  
Số thuế TNCN năm 2019  
(tạm tính)  
Bậc  
1
3.057.050  
800.218  
202.210  
2.714.935  
50.026  
6.561.532  
9.043.971  
7.234.323  
8.526.147  
7.624.277  
7.154.142  
33.074.578  
79.218.974  
2
7.868.255  
6.293.861  
3
4
7.417.748  
5
6
6.633.121  
26.104  
6.224.104  
7
37.602  
28.774.882  
Tổng  
6.888.145  
68.920.507  
Nguồn: Bộ Tài chính, 2019  
thuế trong khoảng bậc 2 trở đi thì số thuế  
TNCN phải nộp giảm đáng kể do được nâng  
mức giảm trừ gia cảnh. Việc giảm thuế này  
có thể khiến giảm thu NSNN, nhưng cá  
nhân NNT sẽ được lợi vì được giảm thuế.  
tính trên thu nhập từ tiền lương tiền công là  
xấp xỉ 79.219 tỷ đồng. Việc áp dụng mức  
giảm trừ 11 triệu đồng/tháng cho NNT và  
4,4 triệu đồng/tháng cho mỗi người phụ  
thuộc của NNT ước tính giảm thu thuế  
TNCN xuống còn khoảng 68.921 tỷ đồng.  
Số thu NSNN từ thuế TNCN ước giảm  
khoảng 10.300 tỷ đồng/năm (tương đương  
giảm khoảng 13% số thu ngân sách từ thuế  
TNCN năm 2019) (Bộ Tài chính, 2019).  
Tính riêng đối với thu nhập từ tiền lương  
tiền công, Việt Nam hiện có khoảng trên  
16,6 triệu người có thu nhập thuộc diện  
3.2. Ảnh hưꢃng đối với thu ngân sꢂch  
Nhꢈ nước từ thuꢀ thu nhꢁp cꢂ nhân  
Việc nâng mức giảm trừ gia cảnh có thể  
ảnh hưởng tới việc động viên nguồn thu  
NSNN từ thuế TNCN.  
Số thuế TNCN ước tính đến hết 31/3/2019  
Số 233- Tháng 10. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng  
21  
Thực trạng chính sách giảm trừ gia cảnh khi tính thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam  
chịu thuế TNCN. Trong đó trên 3,6 triệu  
người phải nộp thuế TNCN từ tiền lương,  
tiền công từ bậc 1 trở lên, với tổng số thuế  
thu được năm 2018 là 57.163 tỷ đồng (Tổng  
Cục thuế, 2019).  
Mặc dù tốc độ thu thuế TNCN được dự  
đoán giảm, nhưng các chính sách nhằm  
kích thích tăng trưởng kinh tế, cải thiện  
thu nhập của người dân và doanh nghiệp  
góp phần phục hồi sức tăng trưởng số thu  
NSNN từ thuế TNCN. Số liệu thống kê mới  
nhất, tính đến tháng 11/2020, tổng số thu từ  
thuế TNCN đạt hơn 100.413 tỷ đồng (bằng  
78,06% so với dự toán năm 2020) (Thùy  
Linh, 2020).  
cá nhân NNT là 15,84 triệu Rupi/năm  
(tương đương 1.830 USD/năm và bằng  
khoảng 0,527 GDP bình quân đầu người);  
Malaysia áp dụng mức giảm trừ là là 9.000  
RM/năm (tương đương 2.687 USD/năm và  
bằng khoảng 0,312 lần GDP bình quân đầu  
người năm). Tuy nhiên, do thu nhập bình  
quân đầu người ở Việt Nam còn thấp nên  
mức giảm trừ gia cảnh xét về số tuyệt đối  
còn thấp.  
- Cơ sở điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh  
chưa đầy đủ, dựa vào thu nhập/chi tiêu chứ  
chưa cân nhắc đến các biến động có thể ảnh  
hưởng mạnh đến khả năng nộp thuế của  
NNT, ví dụ chi phí y tế cao. Nghiên cứu  
chính sách giảm trừ tại Malaysia cho thấy,  
việc giảm thuế thu nhập đối với NNT hoặc  
vợ/chồng/con cái của một người vì bệnh  
hiểm nghèo đã được áp dụng, mức giảm  
trừ lên đến 8.000 RM vào năm 2021 (tương  
đương khoảng 1.980 USD), bao gồm 1.000  
RM (khoảng 247 USD) cho chi phí khám  
sức khỏe (Dezan Shira & Associates, 2021).  
3.3. Mꢇt số đꢂnh giꢂ chung  
- Tỷ lệ giảm trừ gia cảnh so với mức tiền  
lương bình quân đầu người tương đối cao  
trong khu vực. Hiện nay, mức giảm trừ  
cho cá nhân mỗi người nộp thuế của Trung  
Quốc là 3.500 NDT/tháng, tương đương  
khoảng 0,83 lần GDP bình quân đầu người  
(Pwc, 2021). So với một số quốc gia trong  
trong khu vực Đông Nam Á như Malaysia,  
Indonesia, Việt Nam được đánh giá là  
có mức giảm trừ gia cảnh cao hơn (tỷ lệ  
khoảng 1,7 lần GDP bình quân đầu người).  
So sánh với Indonesia, mức giảm trừ cho  
4. Kiꢇn nghꢆ và kꢇt luận  
- Nhà nước cần xem xét đầy đủ hơn các  
cơ sở để áp dụng các khoản giảm trừ tiêu  
chuẩn (standard basic deduction) cho NNT.  
Kinh nghiệm từ các quốc gia đã áp dụng  
Nguồn: Tổng Cꢂc thuế (2019)  
Hình 4. Thu ngân sꢃch nhà nước tꢅ thuꢇ thu nhập cꢃ nhân giai  
đoꢁn 2013 - 2019  
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 233- Tháng 10. 2021  
22  
BÙI THỊ MẾN  
hình thức giảm trừ tiêu chuẩn cho thấy tính  
toán đơn giản, tiết kiệm chi phí hành chính  
hơn, tạo thuận lợi cho NNT tuân thủ pháp  
luật hơn. Bởi vì, việc khấu trừ tiêu chuẩn  
hiểu đơn giản là một quy trình tự động,  
không yêu cầu NNT phải tốn thời gian hay  
chi phí để theo dõi. Do đó, nó giúp NNT  
tiết kiệm thời gian, công sức trong việc kê  
khai thuế hay cung cấp minh chứng. Tại  
Trung Quốc áp dụng mức giảm trừ 60.000  
CNY (tương đương 931 USD) mỗi năm  
(Pwc, 2021). Ngoài ra, các khoản khấu trừ  
bổ sung bao gồm: Giáo dục trẻ em, chi phí  
thuê nhà, chăm sóc người cao tuổi, chi phí  
y tế lớn cũng được áp dụng với NNT đủ  
điều kiện được giảm trừ.  
về người phụ thuộc của NNT. Tiêu chí  
xác định người phụ thuộc được giảm trừ  
gia cảnh hiện nay chưa rõ ràng. Ví dụ, con  
ngoài giá thú được tính là người phụ thuộc  
nhưng con riêng của vợ, chồng lại không  
quy định (Điều 9 Thông tư 111/2013/TT-  
BTC), con đi học muộn, con lưu ban, con  
đang chờ đi thi đại học cũng không được  
quy định rõ ràng, gây khó khăn trong thực  
thi luật. Các vấn đề này cần phải được sửa  
đổi và thể hiện rõ trong Luật thuế TNCN.  
Bên cạnh đó cần có sự kết hợp với các cơ  
quan khác như quản lý lưu trú, bảo hiểm xã  
hội để quản lý hiệu quả người phụ thuộc ■  
- Luật Thuế TNCN cần quy định chặt chẽ  
Tài liệu tham khꢄo  
Amir, H., Asafu-Adjaye, J., & Ducpham, T. (2013). The impact of the Indonesian income tax reform: A CGE  
analysis. Economic Modelling, 31, 492-501.  
Bộ Tài chính (2013), Thông tư 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013, hướng dẫn Nghị định số 65/2013/NĐ-CP ngày  
27/6/2013 cꢁa Chính phꢁ quy định chi tiết một số điều cꢁa Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung  
một số điều cꢁa Luật Thuế thu nhập cá nhân.  
Bộ Tài chính (2019), Báo cáo đánh giá tác động đề nghị điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh cꢁa thuế TNCN.  
aseanbriefing.com/news/individual-income-tax-amendments-in-malaysia-for-2021  
Goode, R. (2010). Government finance in developing countries. Brookings Institution Press.  
Ibrahim, I. B. (2013), Electronic filing of personal income tax returns in Malaysia: determinants and compliance  
costs (Doctoral dissertation, Curtin University).  
diep-tu-dieu-chinh-thue-thu-nhap-ca-nhan-457126/  
Nguyễn Thị Minh và cộng sꢀ (2015), “Phản ứng trong hành vi tiết kiệm và cơ cấu chi tiêuhộ gia đình Việt Nam khi có  
cú sốc vĩ mô về thu nhập”.  
china/individual/deductions.  
Quốc hội (2007), Luật thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 ngày 21 tháng 11 năm 2007 cꢁa Quốc hội, có hiệu lꢀc  
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2009.  
Quốc hội (2012) Luật số 26/2012/QH13 ngày 22/11/2012 cꢁa Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều cꢁa Luật thuế thu  
nhập cá nhân, có hiệu lꢀc kể từ ngày 01/7/2013.  
Quốc hội (2014), Luật số 71/2014/QH13 ngày 26/11/2014 cꢁa Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều cꢁa các luật về  
thuế, có hiệu lꢀc kể từ ngày 01/01/2015.  
Thꢃy Linh (2020), Thu thuế thu nhập cá nhân đang “giảm tốc”.  
Tổng Cꢂc thuế (2018), Báo cáo Tổng kết tình hình thꢀc hiện nhiệm vꢂ công tác thuế năm 2018.  
Tổng Cꢂc thuế (2019), Báo cáo Tổng kết tình hình thꢀc hiện nhiệm vꢂ công tác thuế năm 2019.  
Ủy ban thường vꢂ Quốc hội (2020), Nghị quyết 954/2020/UBTVQH14 ngày 2/6/2020 về điều chỉnh mức giảm trừ gia  
cảnh cꢁa thuế Thu nhập cá nhân.  
VEPR (2019), Đánh giá tác động cꢁa tăng thuế giá trị gia tăng đến tổng thể nền kinh tế và phúc lợi hộ gia đình, 2019,  
sách chuyên khảo.  
Số 233- Tháng 10. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng  
23  
pdf 8 trang Thùy Anh 20200 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng chính sách giảm trừ gia cảnh khi tính thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_chinh_sach_giam_tru_gia_canh_khi_tinh_thue_thu_nh.pdf