Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh (Phần 2)

Chương IV  
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT  
TOÀN DÂN TỘC VÀ ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ  
KẾT CẤU CHƯƠNG IV gồm 3 nội dung:  
I.  
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc  
II. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế  
III. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân  
tộc và doàn kết quốc tế trong giai đoạn hiện nay  
MỤC TIÊU  
- Về kiến thức  
Trang bị cho sinh viên những quan điểm cơ bản của tư tưởng Hồ  
Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế và sự vận  
dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam vào sự nghiệp đổi mới đất nước.  
- Về kỹ năng  
Góp phần làm cho sinh viên rèn luyện kỹ năng vận dụng tư tưởng  
Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế vào  
cuộc sống trong giai đoạn hiện nay.  
- Về thái độ  
Củng cố niềm tin của sinh viên vào khối đại đoàn kết toàn dân  
tộc và sự kết hợp sức mạnh dân tộc Việt Nam với sức mạnh thời đại  
trong sự nghiệp đổi mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh.  
I. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC  
1. Vai trò của đại đoàn kết dân tộc  
a. Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết  
định thành công của cách mạng  
- Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc không phải  
là sách lược hay thủ đoạn chính trị mà là chiến lược lâu dài, nhất quán  
của cách mạng Việt Nam. Người nói rõ: “Sử dạy cho ta bài học này:  
65  
Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự  
do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”.  
Trong mỗi giai đoạn cách mạng, trước những yêu cầu và nhiệm vụ  
khác nhau, chính sách và phương pháp tập hợp đại đoàn kết có thể và  
cần thiết phải điều chỉnh cho phù hợp với từng đối tượng khác nhau  
song không bao giờ được thay đổi chủ trương đại đoàn kếtdân tộc, vì  
đó là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng.  
- Từ thực tiễn xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, Hồ Chí Minh  
đã khái quát thành nhiều luận điểm mang tính chân lý về vai trò và sức  
mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc: “Đoàn kết là sức mạnh của  
chúng ta”, “Đoàn kết là một lực lượng vô địch của chúng ta để khắc  
phục khó khăn, giành lấy thắng lợi”, “Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết  
là thắng lợi”, “Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công”,  
“Bây giờ còn một điểm rất quan trọng, cũng là điểm mẹ. Điểm này mà  
thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt: Đó là đoàn kết”. Người đã đi  
đến kết luận: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành  
công, đại thành công”.  
b. Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của  
cách mạng Việt Nam  
- Đối với Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc không chỉ là khẩu  
hiệu chiến lược mà còn là mục tiêu lâu dài của cách mạng. Đảng là lực  
lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam nên tất yếu đại đoàn kết toàn dân  
tộc phải được xác định là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng và nhiện vụ  
này phải được quán triệt trong tất cả mọi lĩnh vực, từ đường lối, chủ  
trương, chính sách, tới hoạt động thực tiễn của Đảng. Trong lời kết  
thúc buổi ra mắt Đảng Lao động Việt Nam ngày 3-3-1951, Hồ Chí  
Minh tuyên bố: “Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam có thể gồm  
trong tám chữ là: ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN, PHỤNG SỰ TỔ QUỐC”.  
- Đại đoàn kết dân tộc không những là mục tiêu, nhiệm vụ hàng  
đầu của Đảng, của cách mạng, mà còn là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu  
của cả dân tộc. Nhận thức rõ điều đó, Người yêu cầu Đảng Cộng sản  
66  
phải có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn quần chúng, chuyển  
những nhu cầu, những đòi hỏi khách quan, tự phát của quần chúng  
thành những đòi hỏi tự giác, thành hiện thực có tổ chức trong khối đại  
đoàn kết, tạo thành sức mạnh tổng hợp trong cuộc đấu tranh vì độc lập  
của dân tộc, tự do cho nhân dân và hạnh phúc cho con người.  
2. Lực lượng đại đoàn kết dân tộc  
a. Chủ thể của khối đại đoàn kết dân tộc  
- Chủ thể của khối đại đoàn kết dân tộc, theo Hồ Chí Minh bao  
gồm toàn thể nhân dân, tất cả những người Việt Nam yêu nước ở các  
giai cấp, các tầng lớp trong xã hội, các ngành, các giới, các lứa tuổi,  
các dân tộc, đồng bào các tôn giáo, các đảng phái, v.v. Đại đoàn kết  
toàn dân tộc là tập hợp, đoàn kết mọi người dân vào một khối thống  
nhất, không phân biệt dân tộc, giai cấp, tầng lớp, đảng phái, tôn giáo,  
lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, ở trong nước hay ở ngoài nước cùng  
hướng vào mục tiêu chung.  
- Hồ Chí Minh còn chỉ rõ, trong quá trình xây dựng khối đại đoàn  
kết dân tộc, phải đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân, giải  
quyết hài hòa mối quan hệ giai cấp, dân tộc để tập hợp lực lượng,  
không bỏ sót một lực lượng nào miễn là họ có lòng trung thành và sẵn  
sàng phục vụ Tổ quốc. Tư tưởng của Người đã định hướng cho việc  
xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong suốt tiến trình cách mạng  
Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã  
hội chủ nghĩa.  
b. Nền tảng của khối đại đoàn kếtdân tộc  
- Muốn xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, phải xác định rõ đâu  
là nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc và những lực lượng nào tạo  
nên nền tảng đó. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đại đoàn kết tức là trước hết  
phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân là công nhân,  
nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền, gốc của  
đại đoàn kết”. Như vậy, lực lượng làm nền tảng cho khối đại đoàn kết  
toàn dân tộc theo quan điểm của Hồ Chí Minh là công nhân, nông dân  
và trí thức. Nền tảng này càng được củng cố vững chắc thì khối đại  
67  
đoàn kết toàn dân tộc càng có thể mở rộng, khi ấy không có thế lực  
nào có thể làm suy yếu khối đại đoàn kết dân tộc.  
- Trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phải đặc biệt chú trọng  
yếu tố “hạt nhân” là sự đoàn kết và thống nhất trong Đảng vì đó là điều  
kiện cho sự đoàn kết ngoài xã hội. Sự đoàn kết của Đảng càng được  
củng cố thì sự đoàn kết toàn dân tộc càng được tăng cường, Đảng đoàn  
kết, dân tộc đoàn kết và sự gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân đã  
tạo nên sức mạnh bên trong của cách mạng Việt Nam để vượt qua mọi  
khó khăn, thử thách, chiến thắng mọi kẻ thù, đi tới thắng lợi cuối cùng  
của cách mạng.  
3. Điều kiện để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc  
Để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, quy tụ, đoàn kết được  
mọi giai cấp, tầng lớp cần phải bảo đảm các điều kiện sau đây:  
Một là, phải kế thừa truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, đoàn  
kết của dân tộc.Truyền thống này được hình thành, củng cố và phát  
triển trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm của  
dân tộc và đã trở thành giá trị bền vững, thấm sâu vào tư tưởng, tình  
cảm, tâm hồn của mỗi con người Việt Nam, được lưu truyền qua nhiều  
thế hệ. Truyền thống đó là cội nguồn sức mạnh vô địch để cả dân tộc  
chiến đấu và chiến thắng thiên tai, địch họa, làm cho đất nước được  
trường tồn, bản sắc dân tộc được giữ vững.  
Thứ hai, phải có lòng khoan dung, độ lượng với con người. Theo  
Hồ Chí Minh, trong mỗi cá nhân cũng như mỗi cộng đồng đều có  
những ưu điểm, khuyết điểm, mặt tốt, mặt xấu… Cho nên, vì lợi ích  
của cách mạng, cần phải có lòng khoan dung độ lượng, trân trọng phần  
thiện dù nhỏ nhất ở mỗi người, có vậy mới tập hợp, quy tụ rộng rãi  
mọi lực lượng. Người từng căn dặn đồng bào: “Năm ngón tay cũng có  
ngón vắn, ngón dài. Nhưng văn dài đều họp nhau lại nơi bàn tay.  
Trong mấy triệu người cũng có người thế này hay thế khác, nhưng thế  
này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan  
hồng đại độ”.  
Ba là, phải có niềm tin vào nhân dân. Với Hồ Chí Minh, yêu dân,  
68  
tin dân, dựa vào dân, sống, phấn đấu vì hạnh phúc của nhân dân là  
nguyên tắc tối cao trong cuộc sống. Nguyên tắc này vừa là sự tiếp nối  
truyền thống dân tộc “Nước lấy dân làm gốc”, “Chở thuyền và lật  
thuyền cũng là dân”, đồng thời là sự quán triệt sâu sắc nguyên lý  
mácxít “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”. Dân là chỗ dựa  
vững chắc đồng thời cũng là nguồn sức mạnh vô địch của khối đại  
đoàn kết toàn dân tộc, quyết định thắng lợi của cách mạng.  
4. Hình thức tổ chức của khối đại đoàn kết dân tộc  
a. Mặt trận dân tộc thống nhất  
- Khối đại đoàn kết toàn dân tộc chỉ trở thành lực lượng to lớn,  
có sức mạnh khi được tập hợp, tổ chức lại thành một khối vững chắc,  
đó là Mặt trận dân tộc thống nhất, nơi quy tụ mọi tổ chức, cá nhân  
yêu nước, tập hợp mọi người dân trong nước và kiều bào sinh sống ở  
nước ngoài. Hồ Chí Minh chú trọng đến việc tập hợp quần chúng  
nhân dân vào những tổ chức yêu nước phù hợp như các hội ái hữu  
hay tương trợ, công hội hay nông hội, đoàn thanh niên hay hội phụ  
nữ, đội thiếu niên nhi đồng hay phụ lão,…, trong đó bao trùm là Mặt  
trận dân tộc thống nhất.  
- Tùy theo từng thời kỳ và căn cứ vào nhiệm vụ của từng chặng  
đường cách mạng, Mặt trận dân tộc thống nhất có những tên gọi khác  
nhau như: Hội Phản đế đồng minh (1930); Mặt trận dân chủ (1936);  
Mặt trận nhân dân phản đế (1939); Mặt trận Việt Minh (1941); Mặt  
trận Liên Việt (1951); Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt  
Nam (1960); Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1955, 1976)… Tuy nhiên,  
thực chất chỉ là một, đó là tổ chức chính trị - xã hội rộng rãi, tập hợp  
mọi người dân Việt Nam phấn đấu vì mục tiêu chung.  
b. Nguyên tắc xây dựng và hoạt động của Mặt trận dân tộc thống  
nhất  
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Mặt trận dân tộc thống nhất cần  
được xây dựng và hoạt động trên cơ sở các nguyên tắc:  
Một là: Phải được xây dựng trên nền tảng liên minh công nhân -  
nông dân - trí thức và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng.  
69  
Hồ Chí Minh xác định Mặt trận là một khối đoàn kết chặt chẽ,  
có tổ chức trên nền tảng khối liên minh giữa giai cấp công nhân, giai  
cấp nông dân, đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây là  
nguyên tắc cốt lõi trong chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí  
Minh, trên cơ sở đó mở rộng Mặt trận, làm cho Mặt trận thực sự quy  
tụ được cả dân tộc, kết thành một khối vững chắc. Đảng Cộng sản  
Việt Nam vừa là thành viên, vừa là lực lượng lãnh đạo Mặt trận.  
Hai là: Phải xuất phát từ mục tiêu vì nước, vì dân.  
Theo Người, đại đoàn kết phải xuất phát từ mục tiêu vì nước, vì  
dân, trên cơ sở yêu nước, thương dân, chống áp bức bóc lột, nghèo nàn  
lạc hậu, lấy lợi ích tối cao của dân tộc, lợi ích căn bản của nhân dân lao  
động làm mục tiêu phấn đấu. Đây là nguyên tắc bất di bất dịch, là ngọn  
cờ đoàn kết và là mẫu số chung để quy tụ các tầng lớp, giai cấp, đảng  
phái, dân tộc và tôn giáo vào trong Mặt trận.  
Ba là: Phải hoạt động theo nguyên tắc hiệp thương dân chủ.  
Mặt trận dân tộc thống nhất là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn  
của cả dân tộc, bao gồm nhiều giai cấp, tầng lớp, đảng phái, dân tộc,  
tôn giáo khác nhau, với nhiều lợi ích khác nhau. Do vậy, hoạt động của  
Mặt trận phải dựa trên nguyên tắc hiệp thương dân chủ, Mọi vấn đề  
của Mặt trận đều phải được đem ra để tất cả các thành viên cùng nhau  
bàn bạc công khai, để đi đến nhất trí, loại trừ mọi sự áp đặt hoặc dân  
chủ hình thức.  
Bốn là: Phải đoàn kết lâu dài, chặt chẽ, đoàn kết thật sự, chân  
thành, thân ái giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.  
Theo Hồ Chí Minh, đoàn kết trong Mặt trận phải lâu dài, chặt  
chẽ, thật sự, chân thành, thân ái giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Hồ Chí  
Minh nhấn mạnh phương châm “cầu đồng tồn dị”, lấy cái chung để  
hạn chế cái riêng, cái khác biệt; đồng thời Người nêu rõ: “Đoàn kết  
thực sự nghĩa là mục đích phải nhất trí và lập trường cũng phải nhất trí.  
Đoàn kết thực sự nghĩa là vừa đoàn kết, vừa đấu tranh”.  
5. Phương thức xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc  
Một là, làm tốt công tác vận động quần chúng (Dân vận)  
70  
Hồ Chí Minh coi đại đoàn kết là một mục tiêu, nhiệm vụ hàng  
đầucủa Đảng. Để thực hiện mục tiêu đó thì phải làm tốt công tác vận  
động quần chúng, giáo dục, tuyên truyền, hướng dẫn, giúp đỡ nhân dân  
thực hiện mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật  
của Nhà nước; phải giúp nhân dân hiểu đầy đủ, sâu sắc quyền lợi, trách  
nhiệm và nghĩa vụ của công dân với Tổ quốc, từ đó tích cực, chủ động,  
tự giác cống hiến cho sự nghiệp cách mạng.  
Hai là, thành lập đoàn thể, tổ chức quần chúng phù hợp với từng  
đối tượng để tập hợp quần chúng.  
Theo Hồ Chí Minh, để tập hợp quần chúng nhân dân một cách  
hiệu quả, cần phải tổ chức các đoàn thể quần chúngnhư: Công đoàn,  
Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên, Hội phụ nữ... Các đoàn thể quần  
chúng có nhiệm vụ giáo dục, động viên, phát huy tính tích cực của các  
tầng lớp nhân dân, góp phần thực hiện nhiệm vụ cách mạng trong từng  
giai đoạn.  
Phải đoàn kết tốt các đảng phái, các đoàn thể, các nhân sĩ trong  
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,đoàn kết các dân tộc anh em, đoàn kết  
đồng bào lương và đồng bào các tôn giáo.  
II. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ  
1. Sự cần thiết phải đoàn kết quốc tế  
a. Thực hiện đoàn kết quốc tế nhằm kết hợp sức mạnh dân tộc  
với sức mạnh thời đại, tạo sức mạnh tổng hợp cho cách mạng  
- Theo Hồ Chí Minh, thực hiện đoàn kết quốc tế để tập hợp lực  
lượng bên ngoài, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của bạn  
bè quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của các trào lưu  
cách mạng thời đại để tạo thành sức mạnh tổng hợp cho cách mạng  
Việt Nam.  
Sức mạnh dân tộc là sự tổng hợp của các yếu tố vật chất và tinh  
thần, song trước hết là sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và ý thức tự  
lực, tự cường dân tộc; sức mạnh của tinh thần đoàn kết; của ý chí đấu  
tranh anh dũng, bất khuất cho độc lập, tự do… Sức mạnh đó đã giúp  
71  
cho dân tộc Việt Nam vượt qua mọi thử thách, khó khăn trong dựng  
nước và giữ nước.  
Sức mạnh thời đại là sức mạnh của phong trào cách mạng thế  
giới, đó còn là sức mạnh của chủ nghĩa Mác - Lênin được xác lập bởi  
thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Trong quá trình  
hoạt động cách mạng, nhờ chú ý tổng kết thực tiễn dưới ánh sáng chủ  
nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã từng bước phát hiện ra sức mạnh  
vĩ đại tiềm ẩn trong các phong trào cách mạng thế giới mà Việt Nam  
cần tranh thủ.  
- Hồ Chí Minh đã sớm xác định cách mạng Việt Nam là một bộ  
phận của cách mạng thế giới ngay từ khi tìm thấy con đường cứu  
nước, Người cho rằng, cách mạng Việt Nam chỉ có thể thành công  
khi thực hiện đoàn kết chặt chẽ với phong trào cách mạng thế giới.  
Thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc  
tế; đại đoàn kết toàn dân tộc là cơ sở cho việc thực hiện đoàn kết  
quốc tế. Cùng với quá trình phát triển thắng lợi của cách mạng Việt  
Nam trong quan hệ với quốc tế, tư tưởng đoàn kết với phong trào  
cách mạng thế giới đã được Hồ Chí Minh phát triển ngày càng đầy  
đủ, rõ ràng và cụ thể hơn.  
b. Thực hiện đoàn kết quốc tế nhằm góp phần cùng nhân dân  
thế giới thực hiện thắng lợi các mục tiêu cách mạng của thời đại  
- Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, chủ nghĩa yêu nước chân chính phải  
được gắn liền với chủ nghĩa quốc tế vô sản, đại đoàn kết dân tộc phải  
gắn liền với đoàn kết quốc tế; thực hiện đoàn kết quốc tế không những  
vì thắng lợi của cách mạng mỗi nước mà còn vì sự nghiệp chung của  
nhân loại tiến bộ trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và các  
thế lực phản động quốc tế.  
- Thời đại mà Hồ Chí Minh sống và hoạt động chính trị là thời  
đại đã chấm dứt thời kỳ tồn tại biệt lập giữa các quốc gia, mở ra các  
quan hệ quốc tế ngày càng sâu rộng cho các dân tộc, làm cho vận  
mệnh của mỗi dân tộc không thể tách rời vận mệnh chung của cả loài  
người. Ngay sau khi nắm được đặc điểm của thời đại mới, Hồ Chí  
72  
Minh đã hoạt động không mệt mỏi để phá thế đơn độc của cách mạng  
Việt Nam, gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới.  
- Theo Hồ Chí Minh, muốn tăng cường đoàn kết quốc tế trong  
cuộc đấu tranh vì mục tiêu chung, các đảng cộng sản trên thế giới phải  
kiên trì chống lại mọi khuynh hướng sai lầm của chủ nghĩa cơ hội, chủ  
nghĩa vị kỷ dân tộc, chủ nghĩa sô vanh…, tiến hành có hiệu quả việc  
giáo dục chủ nghĩa yêu nước chân chính kết hợp với chủ nghĩa quốc tế  
vô sản cho nhân dân.  
2. Lực lượng đoàn kết quốc tế và hình thức tổ chức  
a. Các lực lượng cần đoàn kết  
Lực lượng đoàn kết quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh bao  
gồm: phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; phong trào đấu tranh  
giải phóng dân tộc và phong trào hoà bình, dân chủ thế giới, trước hết  
là phong trào chống chiến tranh của nhân dân các nước đang xâm lược  
Việt Nam.  
- Đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Hồ Chí  
Minh cho rằng, sự đoàn kết giữa giai cấp công nhân quốc tế là một bảo  
đảm vững chắc cho thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản. Chủ trương đoàn  
kết giai cấp công nhân quốc tế, đoàn kết giữa các đảng cộng sản trong  
tư tưởng Hồ Chí Minh xuất phát từ tính tất yếu về vai trò của giai cấp  
công nhân trong thời đại ngày nay. Hồ Chí Minh cho rằng, chủ nghĩa  
tư bản là một lực lượng phản động quốc tế, là kẻ thù chung của nhân  
dân lao động toàn thế giới. Trong hoàn cảnh đó, chỉ có sức mạnh của  
sự đoàn kết, nhất trí, sự đồng tình và ủng hộ lẫn nhau của lao động  
toàn thế giới theo tinh thần “bốn phương vô sản đều là anh em” mới có  
thể chống lại được.  
- Đối với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, từ rất sớm,  
Hồ Chí Minh đã thấy rõ âm mưu chia rẽ dân tộc của các nước đế quốc.  
Chính vì vậy, Người đã lưu ý Quốc tế Cộng sản về những biện pháp  
nhằm “làm cho các dân tộc thuộc địa, từ trước đến nay vẫn cách biệt  
nhau, hiểu biết nhau hơn và đoàn kết lại để đặt cơ sở cho một liên  
minh phương Đông tương lai, khối liên minh này sẽ là một trong  
73  
những cái cánh của cách mạng vô sản”. Thêm vào đó, để tăng cường  
đoàn kết giữa cách mạng thuộc địa và cách mạng vô sản chính quốc,  
Hồ Chí Minh còn đề nghị Quốc tế Cộng sản, bằng mọi cách phải “làm  
cho đội quân tiên phong của lao động thuộc địa tiếp xúc mật thiết với  
giai cấp vô sản phương Tây để dọn đường cho một sự hợp tác thật sự  
sau này”.  
- Đối với các lực lượng tiến bộ, những người yêu chuộng hoà  
bình, dân chủ, tự do và công lý, Hồ Chí Minh cũng tìm mọi cách để  
thực hiện đoàn kết. Trong xu thế mới của thời đại, sự thức tỉnh dân  
tộc gắn liền với sự thức tỉnh giai cấp, Hồ Chí Minh đã gắn cuộc đấu  
tranh vì độc lập ở Việt Nam với mục tiêu bảo vệ hòa bình, tự do,  
công lý và bình đẳng để tập hợp và tranh thủ sự ủng hộ của các lực  
lượng tiến bộ trên thế giới. Gắn cuộc đấu tranh vì độc lập của dân tộc  
với mục tiêu hòa bình, tự do và công lý, Hồ Chí Minh đã khơi gợi  
lương tri của những người tiến bộ tạo nên những tiếng nói ủng hộ  
mạnh mẽ của các tổ chức quần chúng, các nhân sĩ trí thức và từng  
con người trên hành tinh.  
b. Hình thức tổ chức  
- Đoàn kết quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là  
vấn đề sách lược, một thủ đoạn chính trị nhất thời mà là vấn đề có tính  
nguyên tắc, một đòi hỏi khách quan của cách mạng Việt Nam. Từ năm  
1924, Hồ Chí Minh đã đưa ra quan điểm về thành lập “Mặt trận thống  
nhất của nhân dân chính quốc và thuộc địa” chống chủ nghĩa đế quốc,  
đồng thời kiến nghị Quốc tế Cộng sản cần có giải pháp cụ thể để quan  
điểm này trở thành sự thật.  
- Đối với các dân tộc trên bán đảo Đông Dương, Hồ Chí Minh  
dành sự quan tâm đặc biệt. Cả ba dân tộc đều là láng giềng gần gũi của  
nhau, có nhiều điểm tương đồng về lịch sử, văn hoá và cùng chung một  
kẻ thù là thực dân Pháp. Năm 1941, để khơi dậy sức mạnh và quyền tự  
quyết của mỗi dân tộc, theo đúng quan điểm của Hồ Chí Minh về tập  
hợp lực lượng cách mạng, Đảng quyết định thành lập Mặt trận Việt  
Nam Độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh); giúp Lào và Campuchia  
74  
thành lập mặt trận yêu nước. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực  
dân Pháp và đế quốc Mỹ, Hồ Chí Minh đã chỉ đạo việc hình thành Mặt  
trận nhân dân ba nước Đông Dương.  
- Với các dân tộc châu Á, Người chỉ rõ, các dân tộc châu Á có  
độc lập thì nền hoà bình thế giới mới thực hiện. Vận mệnh dân tộc  
châu Á có quan hệ mật thiết với vận mệnh dân tộc Việt Nam. Do vậy,  
từ những năm 20 của thế kỷ XX, cùng với việc sáng lập Hội Liên hiệp  
thuộc địa tại Pháp, Hồ Chí Minh đã tham gia sáng lập Hội Liên hiệp  
các dân tộc bị áp bức tại Trung Quốc. Đây là hình thức sơ khai của  
mặt trận thống nhất các dân tộc bị áp bức theo xu hướng vô sản, lần  
đầu tiên xuất hiện trong lịch sử phong trào đấu tranh giải phóng dân  
tộc. Với việc tham gia sáng lập các tổ chức này, Hồ Chí Minh đã góp  
phần đặt cơ sở cho sự ra đời của Mặt trận nhân dân Á - Phi đoàn kết  
với Việt Nam.  
- Những năm đấu tranh giành độc lập dân tộc, Hồ Chí Minh tìm  
mọi cách xây dựng các quan hệ với mặt trận dân chủ và lực lượng  
đồng minh chống phátxít, nhằm tạo thế và lực cho cách mạng Việt  
Nam. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ,  
bằng hoạt động ngoại giao không mệt mỏi, Hồ Chí Minh đã nâng cao  
vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, tranh thủ được sự đồng tình,  
ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa, của bạn bè quốc tế và nhân loại  
tiến bộ, trong đó có cả nhân dân yêu chuộng hoà bình Pháp trong  
kháng chiến chống Pháp và cả nhân dân yêu chuộng hoà bình Mỹ  
trong kháng chiến chống Mỹ, hình thành Mặt trận nhân dân thế giới  
đoàn kết với Việt Nam chống đế quốc xâm lược.  
Như vậy, tư tưởng đoàn kết vì thắng lợi của cách mạng Việt Nam  
đã định hướng cho việc hình thành bốn tầng mặt trận: Mặt trận đại  
đoàn kết dân tộc; Mặt trận đoàn kết Việt Nam – Lào – Campuchia ;  
Mặt trận nhân dân Á - Phi đoàn kết với Việt Nam; Mặt trận nhân dân  
thế giới đoàn kết với Việt Nam chống đế quốc xâm lược. Đây thực sự  
là sự phát triển rực rỡ nhất và thắng lợi to lớn nhất của tư tưởng Hồ  
Chí Minh về đại đoàn kết.  
75  
3. Nguyên tắc đoàn kết quốc tế  
a. Đoàn kết trên cơ sở thống nhất mục tiêu và lợi ích; có lý,  
có tình  
Muốn thực hiện được đoàn kết quốc tế trong cuộc đấu tranh  
chống chủ nghĩa đế quốc và các lực lượng phản động quốc tế, phải tìm  
ra được những điểm tương đồng về mục tiêu và lợi ích giữa các dân  
tộc, các lực lượng tiến bộ và phong trào cách mạng thế giới. Từ rất  
sớm, Hồ Chí Minh đã phát hiện ra sự tương đồng này nhờ đặt cách  
mạng Việt Nam trong bối cảnh chung của thời đại, kết hợp lợi ích của  
cách mạng Việt Nam với trào lưu cách mạng thế giới và nhận thức về  
nghĩa vụ của Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng chung của nhân  
dân tiến bộ trên thế giới.  
- Đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Hồ Chí  
Minh giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã  
hội, thực hiện đoàn kết thống nhất trên nền tảng của chủ nghĩa Mác-  
Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình.  
- Đối với các dân tộc trên thế giới, Hồ Chí Minh giương cao  
ngọn cờ độc lập, tự do và quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Hồ Chí  
Minh thực hiện nhất quán quan điểm có tính nguyên tắc: Dân tộc Việt  
Nam tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và  
quyền tự quyết của tất cả các dân tộc-quốc gia trên thế giới, đồng thời  
mong muốn các nước trên thế giới quan hệ hợp tác, hữu nghị với Việt  
Nam trên cơ sở những nguyên tắc đó.  
- Đối với các lực lượng tiến bộ trên thế giới, Hồ Chí Minh  
giương cao ngọn cờ hòa bình, chống chiến tranh xâm lược. Trong suốt  
cuộc đời mình, Hồ Chí Minh luôn giương cao ngọn cờ hòa bình, đấu  
tranh cho hòa bình, một nền hòa bình thật sự cho tất cả các dân tộc -  
“hòa bình trong độc lập, tự do”.  
b. Đoàn kết trên cơ sở độc lập, tự chủ  
- Đoàn kết quốc tế là để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ  
của các lực lượng quốc tế nhằm tăng thêm nội lực, tạo sức mạnh thực  
hiện thắng lợi các nhiệm vụ cách mạng đã đặt ra. Để đoàn kết tốt phải  
76  
có nội lực tốt. Nội lực là nhân tố quyết định, còn nguồn lực ngoại sinh  
chỉ có thể phát huy tác dụng thông qua nguồn lực nội sinh. Chính vì  
vậy, trong đấu tranh cách mạng, Hồ Chí Minh luôn nêu cao khẩu hiệu:  
“Tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính”, “Muốn người ta giúp  
cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã”. Trong đấu tranh giành  
chính quyền, Người chủ trương “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.  
- Hồ Chí Minh chỉ rõ, muốn tranh thủ được sự ủng hộ quốc tế,  
Đảng phải có đường lối độc lập, tự chủ và đúng đắn. Trả lời một  
phóng viên nước ngoài, Người nói: “Độc lập nghĩa là chúng tôi điều  
khiển lấy mọi công việc của chúng tôi, không có sự can thiệp ở ngoài  
vào”. Người yêu cầu phải chú trọng đến thực lực trong quan hệ quốc  
tế. “Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng  
mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”.  
III. VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI  
ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC VÀ ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ  
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY  
1. Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân  
tộc và đoàn kết quốc tế trong hoạch định chủ trương, đường lối  
của Đảng  
- Phải khơi dậy và phát huy đến sức mạnh dân tộc và sức mạnh  
quốc tế, trong đó đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu, lấy đó làm cơ sở để  
xây dựng các chủ trương, chính sách kinh tế - xã hội. Trước đây, sức  
mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc là sức mạnh để chiến thắng giặc  
ngoại xâm. Hiện nay, sức mạnh ấy phải là sức mạnh để chiến thắng  
nghèo nàn, lạc hậu. Phải xuất phát từ lợi ích dân tộc mà mở rộng quan  
hệ hợp tác quốc tế.  
- Để phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, Đại hội XII đã đề  
ra phương hướng, nhiệm vụ tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc  
trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và  
đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo. Phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực,  
mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.  
- Cùng với việc phát huy tối đa sức mạnh của khối đại đoàn kết  
77  
dân tộc, qua hơn 30 năm đổi mới, tư tưởng đoàn kết quốc tế của Chủ  
tịch Hồ Chí Minh, đã được Đảng ta vận dụng một cách sáng tạo trong  
việc hoạch định chủ trương, đường lối.  
2. Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên  
minh công - nông - trí dưới sự lãnh đạo của Đảng  
- Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh sức sống  
của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc. Tư tưởng đó  
cần thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm của tất cả những người Việt Nam  
yêu nước và phải biến thành hành động cách mạng của hàng triệu,  
hàng triệu con người, tạo thành sức mạnh vô địch trong sự nghiệp xây  
dựng và bảo vệ Tổ quốc.  
- Sự thật lịch sử đã chứng tỏ rằng, Mặt trận dân tộc thống nhất  
càng rộng rãi thì liên minh công - nông - trí càng mạnh, sự lãnh đạo  
của Đảng càng vững. Đồng thời, khối liên minh này càng được củng  
cố, sự lãnh đạo của Đảng càng được tăng cường thì Mặt trận dân tộc  
thống nhất càng được mở rộng và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn  
dân tộc càng được nhân lên to lớn hơn.  
- Để tiếp tục tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời  
gian tới, cần thực hiện tốt một số vấn đề cơ bản sau: Trước hết, tiếp tục  
đẩy mạnh tuyên truyền về sự cần thiết phải tăng cường khối đại đoàn  
kết dân tộc. Hai là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà  
nước. Ba là, giải quyết tốt quan hệ lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp xã  
hội. Bốn là, tăng cường quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng, Nhà  
nước, Năm là, đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, chia rẽ.  
3. Đại đoàn kết toàn dân tộc phải kết hợp với đoàn kết  
quốc tế  
- Phải nhất quán coi cách mạng Việt Nam là một bộ phận không  
thể tách rời của cách mạng thế giới, tiếp tục đoàn kết, ủng hộ các phong  
trào cách mạng, các xu hướng và trào lưu tiến bộ của thời đại vì các mục  
tiêu hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.  
- Nêu cao nguyên tắc độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, chủ trương  
phát huy mạnh mẽ sức mạnh dân tộc - sức mạnh của chủ nghĩa yêu n-  
78  
ước, sức mạnh của người làm chủ, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, trên  
cơ sở sức mạnh bên trong mà tranh thủ và tận dụng sự đồng tình, ủng hộ  
rộng rãi của lực lượng bên ngoài.  
- Phải rút ra những bài học trong chiến lược đoàn kết quốc tế của  
Hồ Chí Minh để vận dụng cho phù hợp. Trước hết, làm rõ đoàn kết để  
thực hiện mục tiêu cách mạng hiện nay là dân giàu, nước mạnh, dân  
chủ, công bằng, văn minh. Hai là, hội nhập quốc tế, là bạn của tất cả  
các nước, phấn đấu vì hòa bình, độc lập, phát triển, đồng thời tham gia  
giải quyết những vấn đề toàn cầu. Ba là, nêu cao tinh thần độc lập, tự  
chủ, tự lực,tự cường.Bốn là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh  
làm hạt nhân đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế.  
Những quan điểm cơ bản cùng những giá trị thực tiễn của tư  
tưởng đoàn kết quốc tế Hồ Chí Minh là những bài học quý báu cần  
được nhận thức và vận dụng sáng tạo cho phù hợp với Việt Nam và thế  
giới trong giai đoạn hiện nay.  
79  
BÀI TẬP THẢO LUẬN  
1. Phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc  
và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.  
2. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc, phương pháp  
đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn hiện nay.  
3. Phân tích quan điểm Hồ Chí Minh về sự cần thiết phải đoàn  
kết quốc tế và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai  
đoạn hiện nay.  
BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM  
1. Theo Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc là?  
A. Vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công của  
cách mạng.  
B. Mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, của cách mạng.  
C. Mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc.  
D. Tất cả các đáp án trên.  
2. Theo Hồ Chí Minh, đoàn kết quốc tế nhằm?  
A. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo sức  
mạnh tổng hợp cho cách mạng.  
B. Góp phần cùng nhân dân thế giới thực hiện thắng lợi mục tiêu  
chung của cách mạng thế giới.  
C. Gây chiến tranh, tước đoạt lợi ích của các dân tộc nhỏ yếu.  
D. A và B.  
3. Nguyên tắc đoàn kết quốc tế mà Hồ Chí Minh đã đưa ra là?  
A. Đoàn kết quốc tế trên cơ sở thống nhất về mục tiêu và lợi ích;  
có lý, có tình.  
B. Đoàn kết quốc tế trên cơ sở phụ thuộc vào các nước lớn.  
C. Đoàn kết quốc tế trên cơ sở độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường.  
D. A và C.  
80  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Nguyễn Phúc Luân:Ngoại giao Hồ Chí Minh - Lấy chí nhân  
thay cường bạo, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2003.  
2. Nguyễn Dy Niên:Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, Nxb  
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.  
3. Phùng Hữu Phú (Chủ biên):Chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí  
Minh.Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995.  
4. Lê Văn Yên:Hồ Chí Minh với chiến lược đoàn kết quốc tế trong  
cách mạng giải phóng dân tộc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010.  
81  
Chương V  
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH  
VỀ VĂN HÓA, ĐẠO ĐỨC, CON NGƯỜI  
KẾT CẤU CHƯƠNG V gồm có 4 nội dung:  
I. Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa  
II. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức  
III. Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người  
IV. Xây dựng văn hóa, đạo đức, con người Việt Nam hiện nay  
theo tư tưởng Hồ Chí Minh  
MỤC TIÊU  
- Về kiến thức  
Cung cấp cho sinh viên kiến thức cơ bản của tư tưởng Hồ Chí  
Minh về văn hóa, đạo đức, con người. Trên cơ sở đó, người học biết  
vận dụng vào thực tiễn, thể hiện trách nhiệm xây dựng văn hóa, đạo  
đức, con người Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh.  
- Về kỹ năng  
Góp phần giúp cho sinh viên có phương pháp tư duy mới trong  
học tập, nghiên cứu; tự mình biết đào sâu lý luận gắn với thực tiễn với  
tinh thần độc lập, sáng tạo.  
- Về thái độ  
Trên cơ sở nhận thức khoa học, sinh viên có niềm tin về giá trị tư  
tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của  
nhân dân ta giành thắng lợi; đồng thời chống lại các quan điểm sai trái,  
luận điệu thù địch nhằm phủ nhận, xóa bỏ tư tưởng Hồ Chí Minh nói  
chung, tư tưởng của Người về văn hóa, đạo đức, con người nói riêng.  
I. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA  
Hồ Chí Minh được tổ chức UNESCO ghi nhận là Anh hùng giải  
phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất Việt Nam trong Nghị quyết  
82  
24C/18.6.5 của Khóa họp 24 Đại Hội đồng UNESCO từ ngày 20-10-  
1987 đến ngày 20-11-1987.  
Nghị quyết khẳng định: “Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại một dấu ấn  
trong quá trình phát triển của nhân loại vì hòa bình, độc lập dân tộc,  
dân chủ và tiến bộ xã hội; Người có sự đóng góp quan trọng về nhiều  
mặt trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, nghệ thuật; tư tưởng của  
Người là sự kết tinh truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của dân tộc  
Việt Nam và hiện thân cho khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng  
định bản sắc dân tộc mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết  
lẫn nhau”.  
1. Quan điểm chung của Hồ Chí Minh về văn hóa  
a. Định nghĩa văn hóa  
Định nghĩa văn hóa của Hồ Chí Minh  
- Tháng 8-1943, Hồ Chí Minh đã đưa ra định nghĩa văn hóa như  
sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới  
sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa  
học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng  
ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo  
và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương  
thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra  
nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.  
- Định nghĩa văn hóa nêu trên của Hồ Chí Minh được hiểu theo  
02 nghĩa:  
+ Nghĩa rộng: Văn hoá là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh  
thần do con người sáng tạo ra nhằm phục vụ cho con người.  
+ Nghĩa hẹp: Văn hoá là đời sống tinh thần của xã hội, thuộc về  
kiến trúc thượng tầng xã hội.  
b. Về quan hệ giữa văn hóa với các lĩnh vực khác của đời sống  
- Quan hệ giữa văn hóa với chính trị:  
+ Chính trị quy định văn hóa, chính trị được giải phóng sẽ mở  
đường cho văn hóa phát triển.  
83  
+ Văn hóa không thể đứng ngoài mà phải ở trong chính trị, tức là  
văn hóa phải phục vụ nhiệm vụ chính trị.  
+ Mọi hoạt động của tổ chức và nhà chính trị phải có hàm lượng  
văn hóa.  
- Quan hệ giữa văn hóa với kinh tế:  
+ Kinh tế quy định văn hóa, vì kinh tế là cơ sở hạ tầng, là nền  
tảng cho việc xây dựng văn hóa. HCM cho rằng,cơ sở hạ tầng của xã  
hội có kiến thiết rồi, văn hóa mới kiến thiết được và có đủ điều kiện  
phát triển được.  
+ Văn hóa không thể đứng ngoài mà phải đứng trong kinh tế,  
nghĩa là văn hóa không hoàn toàn phụ thuộc vào kinh tế, mà có vai trò  
tác động tích cực trở lại kinh tế.  
+ Sự phát triển của kinh tế sẽ thúc đẩy văn hóa phát triển; ngược  
lại, mỗi bước phát triển của kinh tế đều có sự khai sáng của văn hóa.  
- Quan hệ giữa văn hóa với xã hội:  
+ Xã hội thế nào văn hóa thế ấy. Văn học, nghệ thuật của dân tộc  
Việt Nam rất phong phú, nhưng trong chế độ nô lệ của kẻ áp bức, thì  
văn nghệ cũng bị nô lệ, bị tồi tàn không thể phát triển được.  
+ Văn hóa có tác động trở lại xã hội, góp phần vào việc đấu tranh  
thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội.  
2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của văn hóa  
a. Văn hóa là mục tiêu, động lực của sự nghiệp cách mạng  
- Văn hóa là mục tiêu của sự nghiệp cách mạng.  
+ Mục tiêu của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và chủ  
nghĩa xã hội, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Như vậy,  
cùng với chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa nằm trong mục tiêu chung  
của toàn bộ tiến trình cách mạng.  
+ Văn hóa là mục tiêu – nhìn một cách tổng quát – là quyền sống,  
quyền sung sướng, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc; là khát vọng  
của nhân dân về các giá trị chân, thiện, mỹ. Đó là một xã hội dân chủ -  
84  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 40 trang Thùy Anh 14940 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_tu_tuong_ho_chi_minh_phan_2.pdf