Thuận lợi và khó khăn trong hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên ở khoa Lý luận chính trị trường Đại học Giao thông vận tải hiện nay

Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII  
Trường Đại học Giao thông vận tải  
THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU  
KHOA HỌC SINH VIÊN Ở KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI HIỆN NAY  
Lê Thị Hòa1*  
1 Trường Đại học Giao thông vận tải, Số 3 Cầu Giấy, Hà Nội  
* Tác giả liên hệ: [email protected].vn  
Tóm tắt. Nghiên cứu khoa học (NCKH) là hoạt động trí óc ở trình độ cao, có ý nghĩa  
quan trọng đối vꢀi việc phát huy năng lực sáng tạo, tư duy lý luận, là con đường ngắn  
nhất để nâng cao năng lực giảng dạy và học tập ở bậc đại học. Giảng viên đại học nói  
chung và giảng viên khoa Lý luận chính trị nói riêng phải vừa là nhà sư phạm, vừa là  
nhà khoa học, gắn nghiên cứu khoa học vꢀi giảng dạy, làm cho nghiên cứu khoa học  
trở thành đòn bẩy trong nâng cao chất lượng giảng dạy, góp phần nâng cao chất lượng  
đào tạo của nhà trường. Sinh viên tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học cũng hỗ trợ  
nâng cao kết quả học tập. Nghiên cứu khoa học sinh viên (NCKHSV) là một hoạt động  
có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo ở trường ĐHGTVT. Bài  
báo nghiên cứu về những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động NCKHSV ở khoa Lý  
luận chính trị. Yêu cầu cấp bách là phát huy thuận lợi và khắc phục khó khăn, nhằm  
đẩy mạnh hoạt động NCKHSV, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập ở  
trường ĐHGTVT hiện nay.  
Từ khóa: Nghiên cứu khoa học, giảng dạy, học tập, kiến thức, phương pháp, kỹ năng  
nghiên cứu.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Ở bậc đại học, vấn đề nâng cao chất lượng dạy và học là những yếu tố quan  
trọng, có sự tác động lꢀn đến chất lượng đào tạo. Để đánh giá khả năng chuyên môn,  
tư duy lý luận và nhận thức thực tiễn của giảng viên tại trường đại học, nhất thiết phải  
kết hợp tốt hoạt động NCKH vꢀi hoạt động giảng dạy của giảng viên. Đối vꢀi sinh  
viên cũng vậy, để học tập tốt thì sinh viên phải tham gia hoạt động nghiên cứu khoa  
học. Đây là hai mặt của một vấn đề. Chꢁng ta đều biết và nhận thức được rằng, NCKH  
có vai trò đặc biệt quan trọng trong giáo dục đại học. Trong công tác đào tạo đại học ở  
nưꢀc ta hiện nay, NCKH được xem là một “mắt xích” quan trọng không thể thiếu được  
trong việc góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, tạo ra nguồn nhân lực chất lượng  
cao, đáp ứng được nhu cầu mꢀi của sự phát triển xã hội. Trong quá trình NCKH thì  
giảng viên và sinh viên đều có những thuận lợi và khó khăn. Bài báo sử dụng phương  
-433-  
Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII  
Trường Đại học Giao thông vận tải  
pháp lý luận và khảo sát thực tiễn để phân tích, đánh giá những thuận lợi và khó khăn  
trong hoạt động NCKHSV ở khoa Lý luận chính trị trường ĐHGTVT hiện nay.  
2. NỘI DUNG  
2.1. Tầm quan trọng và lợi ích của nghiên cứu khoa học đối với hoạt động dạy &  
học ở bậc đại học  
Hiện nay, Đảng chủ trương là đào tạo ra nguồn lực con người vừa hồng vừa  
chuyên, vừa có đức vừa có tài, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì  
vậy, Luật Giáo dục Đại học (2012) khẳng định mục tiêu chung: “Đào tạo nhân lực,  
nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu khoa học, công nghệ tạo ra tri thức,  
sản phẩm mꢀi, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an  
ninh và hội nhập quốc tế; Đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức; có kiến  
thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp, năng lực nghiên cứu và phát triển ứng dụng  
khoa học và công nghệ tương xứng vꢀi trình độ đào tạo” [1]. Để thực hiện mục tiêu  
đó, giảng viên có nhiệm vụ: “Giảng dạy theo mục tiêu, chương trình đào tạo và thực  
hiện đầy đủ, có chất lượng chương trình đào tạo. Nghiên cứu, phát triển ứng dụng  
khoa học và chuyển giao công nghệ, bảo đảm chất lượng đào tạo” [1]. Có thể thấy,  
giảng viên ở bậc đại học có hai nhiệm vụ chính, quan trọng, đó là: giảng dạy và nghiên  
cứu khoa học (NCKH). Thực tiễn và lý luận đã chứng minh rằng, giảng dạy và NCKH  
có mối quan hệ mật thiết, gắn kết chặt chẽ vꢀi nhau và hỗ trợ cho nhau. NCKH tạo cơ  
sở, điều kiện, tiền đề nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ giảng dạy. Ngược lại, công tác  
giảng dạy phản ánh kết quả của hoạt động NCKH. Do vậy, có thể khẳng định rằng,  
cùng vꢀi hoạt động giảng dạy, NCKH là thưꢀc đo năng lực chuyên môn của giảng  
viên. Bên cạnh đó, đối tượng của hoạt động khoa học công nghệ trong trường đại học  
không chỉ bao gồm giảng viên và các nhà khoa học khác mà còn có cả sinh viên thuộc  
các loại hình đào tạo đang theo học tại trường. Vấn đề này được thể hiện ở mục tiêu  
hoạt động khoa học công nghệ trong Luật Giáo dục Đại học: “Hình thành và phát triển  
năng lực nghiên cứu khoa học cho người học; phát hiện và bồi dưỡng nhân tài, đáp  
ứng yêu cầu đào tạo nhân lực trình độ cao” [1]. Về nội dung hoạt động khoa học và  
công nghệ, Luật Giáo dục Đại học cũng khẳng định: “Nghiên cứu khoa học cơ bản,  
khoa học xã hội và nhân văn, khoa học giáo dục, khoa học công nghệ để tạo ra tri thức  
và sản phẩm mꢀi” [1]  
Như vậy, mục tiêu chính của NCKH ở bậc đại học vừa nâng cao trình độ chuyên  
môn của giảng viên, vừa giúp cho sinh viên mở rộng vốn kiến thức trên nhiều lĩnh  
vực. Đồng thời trang bị cho sinh viên kỹ năng, phương pháp nghiên cứu khoa học độc  
lập, nhằm hỗ trợ cho hoạt động học tập, chuẩn bị cho sinh viên hành trang tốt nhất sau  
khi ra trường. NCKH của giảng viên có nhiều hình thức như đề tài, bài báo, hưꢀng dẫn  
NCKHSV vv… Còn sinh viên cũng có các hinh thức khác nhau như, viết tiểu luận,  
báo cáo chuyên đề, làm khóa luận, làm đề tài nghiên cứu vv… NCKH mang lại những  
ý nghĩa thiết thực và có vai trò quan trọng đối vꢀi hoạt động giảng dạy và học tập ở  
bậc đại học hiện nay:  
Thứ nhất, thông qua NCKH, giảng viên sẽ củng cố, đào sâu và cập nhật thêm  
kiến thức mꢀi. Đây là cơ sở cần thiết để tiến hành đổi mꢀi nội dung, phương pháp  
-434-  
Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII  
Trường Đại học Giao thông vận tải  
giảng dạy, nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy. Tham gia NCKH giúp sinh viên hiểu  
sâu hơn về những kiến thức đã học trên giảng đường, đồng thời có thể tiếp cận kiến  
thức lý luận và thực tiễn một cách đa dạng, phong phú ngoài sách vở, những kiến thức  
về đời sống xã hội, về lối sống, cách làm người vv… để làm giàu vốn sống cho bản  
thân. Có thể khẳng định: NCKH không chỉ mở ra cho giảng viên và sinh viên cơ hội  
tiếp cận sâu tri thức trong lĩnh vực chuyên môn yêu thích, những kiến thức liên ngành  
bổ trợ cho chuyên ngành mình đang dạy, học, mà còn tạo cho họ mở rộng kiến thức lý  
luận và vận dụng những kiến thức lý thuyết đã học vào việc giải quyết những vấn đề  
thực tiễn cuộc sống. Trong nghiên cứu, giảng viên và sinh viên sẽ tiếp nhận được tri  
thức đa chiều, có cách nhìn nhận vấn đề ở các góc cạnh khác nhau, nghiên cứu trên  
quan điểm toàn diện và phát triển.  
Thứ hai, NCKH, góp phần phát triển tư duy sáng tạo, tư duy nghiên cứu khoa  
học độc lập, tư duy phản biện, trau dồi tri thức và các phương pháp nhận thức khoa  
học và hình thành những phẩm chất của nhà nghiên cứu ở giảng viên. NCKH sẽ dạy  
cho sinh viên phương pháp thực hiện một đề tài mang tính khoa học: lập kế hoạch, bố  
trí thời gian, phân công nhiệm vụ trong nhóm, lập đề cương, tìm và xử lý tài liệu vv…  
Đồng thời, giúp cho giảng viên, sinh viên có kỹ năng phân tích, tổng hợp kiến thức,  
khả năng tư duy logic; xây dựng tinh thần hợp tác, giꢁp đỡ lẫn nhau… để giải quyết  
những vấn đề đang nghiên cứu. Từ một vấn đề sẽ mở rộng ra nhiều vấn đề làm phong  
phú kiến thức cũng như kinh nghiệm, vốn sống của bản thân.  
Thứ ba, trong quá trình đi khảo sát thực tế, như điều tra xã hội học, phỏng vấn…  
giảng viên hưꢀng dẫn sinh viên xây dựng câu hỏi điều tra, kỹ năng điều tra bằng phiếu  
hoặc phỏng vấn trong thực tiễn. Khi thực hiện, sinh viên được trải nghiệm và phát huy  
những kỹ năng như giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng phỏng vấn… Thông  
qua đó, sinh viên nâng cao được kỹ năng mềm một cách hiệu quả; tạo cho sinh viên có  
tác phong làm việc và học tập khoa học; hiểu sâu hơn về những điều còn bỏ ngỏ ở  
giảng đường đại học hay những bài học trong sách vở.  
Thứ tư, NCKH, không chỉ mang lại cho người dạy, người học có kiến thức sâu  
rộng, mà còn cho họ những kinh nghiệm trong việc tìm, đọc và xử lý tài liệu, cách  
trích dẫn tài liệu; phương pháp nghiên cứu khoa học độc lập; kỹ năng trao đổi, phản  
biện hoặc chứng minh một vấn đề khoa học vv… Đây là tiền đề phục vụ cho hoạt  
động giảng dạy của giảng viên (ví dụ như chuẩn bị bài giảng, tài liệu tham khảo… cho  
sinh viên) và nâng cao chất lượng học tập của sinh viên (ví dụ như chuẩn bị bài tập và  
thuyết trình trong giờ xemina, viết tiểu luận, chuyên đề khoa học, luận văn tốt nghiệp  
sau này). Đặc biệt, những kiến thức và kinh nghiệm này thực sự bổ ích cho sinh viên  
năm cuối và sau khi rời ghế nhà trường.  
Thứ năm, những công việc chuẩn bị và trình bày kết quả nghiên cứu trưꢀc hội đồng  
khoa học như: chuẩn bị slide, nội dung báo cáo; thuyết trình và trả lời những câu hỏi do  
hội đồng khoa học đưa ra… sau khi thực hiện nó, giảng viên, cũng như sinh viên sẽ nâng  
cao được kỹ thuật tin học, kỹ năng viết báo cáo, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng trao đổi  
khoa học… Đặc biệt là trang bị cho sinh viên có đầy đủ nhận thức về nghiên cứu khoa  
học.  
-435-  
Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII  
Trường Đại học Giao thông vận tải  
Như vậy, dù là giảng viên hay sinh viên khi tham gia NCKH sẽ bổ sung và cập  
nhật được kiến thức chuyên môn sâu, kiến thức liên ngành; kỹ năng, phương pháp  
nghiên cứu, nhằm củng cố những kiến thức về lý luận và vốn hiểu biết về những vấn  
đề chính trị, xã hội… góp phần nâng cao chất lượng dạy và học, chất lượng đào tạo  
của các trường đại học, học viện, nhằm tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao: có đạo  
đức làm người, làm nghề, có chuyên môn giỏi, đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa,  
hiện đại hóa của đất nưꢀc.  
2.2. Thuận lợi và khó khăn trong hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên ở khoa  
Lý luận chính trị trường Đại học Giao thông vận tải hiện nay  
Những thuận lợi:  
Một là, để nâng cao chất lượng đào tạo, lãnh đạo trường ĐHGTVT luôn quan  
tâm và đẩy mạnh hoạt động NCKH nói chung và NCKHSV nói riêng, trong đó có  
NCKH xã hội và nhân văn của sinh viên. Nhà trường đã hỗ trợ kinh phí cho hoạt động  
NCKHSV: 1triệu/1 đề tài. Sau khi hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình, sinh viên  
được nhà trường khen thưởng khi đạt thành tích trong NCKH (thưởng bằng tiền giải  
nhất 1 triệu; giải nhì 700.000; giải ba 500.000; giải khuyến khích 300.000). Bên cạnh  
đó, sinh viên được cấp giấy chứng nhận tham gia NCKH và tính điểm rèn luyện. Đặc  
biệt, đối vꢀi những đề tài có tính khoa học cao, ứng dụng trong thực tiễn sẽ được phát  
triển bồi dưỡng thêm để tham dự tiếp các giải NCKH ở cấp trường, cấp bộ vv…  
Những chủ trương của nhà trường đã kịp thời, động viên khuyến khích sinh viên tích  
cực tham gia NCKH.  
Hai là, khoa Lý luận chính trị, trường ĐHGTVT giảng dạy các môn học khá đặc  
thù trong hệ thống giáo dục đại học. Trưꢀc đây, khoa Lý luận chính trị giảng dạy ba  
môn: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin; Đường lối cách mạng của  
ĐCSVN và Tư tưởng Hồ Chí Minh. Thực hiện chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào  
tạo, từ K60, khoa Lý luận Chính trị giảng dạy 5 môn học: Triết học, Kinh tế chính trị,  
CNXH, Lịch sử Đảng CSVN và Tư tưởng Hồ Chí Minh. Hiện nay, khoa Lý luận chính  
trị có đội ngũ các nhà giáo: 01 Phó giáo sư tiến sĩ; 12 tiến sĩ, 15 thạc sĩ. Đa số các  
giảng viên - người hưꢀng dẫn khoa học có đạo đức tốt, có trình độ cao, có kinh  
nghiệm giảng dạy và NCKH, tâm huyết, yêu nghề, có trách nhiệm, tận tình hưꢀng dẫn,  
chỉ dạy cho sinh viên của mình. Số đông giảng viên khoa Lý luận chính trị luôn ý thức  
được nhiệm vụ của mình, không ngừng nâng cao trình độ để đáp ứng cho mục tiêu của  
giáo dục đại học. Đây là thuận lợi căn bản tạo nên những thành công trong việc hưꢀng  
dẫn hàng trăm đề tài NCKHSV trong nhiều năm. Trong giai đoạn (2015-2020) (xem  
Bảng 1), giảng viên khoa Lý luận chính trị đã hưꢀng dẫn sinh viên thực hiện 54 đề tài  
NCKH. Các hưꢀng nghiên cứu, đề tài nghiên cứu vꢀi các chủ đề nóng trong đời sống  
xã hội, như nghiên cứu về vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh trong giáo dục đạo đức,  
lối sống cho sinh viên; nghiên cứu Luật an ninh mạng; văn hóa trong tham gia giao  
thông; ý thức bảo vệ môi trường của sinh viên; về chủ quyền biển đảo; tác động của  
tâm lý đám đông vv… đã thu hꢁt 150 sinh viên các ngành kinh tế và kỹ thuật khác  
nhau tham gia nghiên cứu. Nhiều đề tài có tính ứng dụng thực tiễn cao, kết hợp giữa lý  
luận và thực tiễn, có tính thời sự, nhiều người quan tâm.  
-436-  
Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII  
Trường Đại học Giao thông vận tải  
Bảng 1. Số lượng đề tài và sinh viên tham gia NCKH (2015-2020)1  
Năm học  
2015- 2016  
2016 - 2017  
2017 - 2018  
2018 - 2019  
2019 - 2020  
Số lượng đề tài NCKH  
Số lượng SV tham gia  
12/616  
10/635  
11/614  
10/583  
11/586  
37  
34  
26  
28  
25  
Ba là, trong 5 năm (xem Bảng 2) có thể nhận thấy, chủ yếu là sinh viên là năm  
thứ hai và năm thứ ba tham gia nghiên cứu khoa học. Sinh viên trường ĐHGTVT vꢀi  
sức trẻ, vꢀi tinh thần ham học hỏi, luôn cố gắng học tập và NCKH để tiếp thu những  
tri thức mꢀi về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, con người vv… trau dồi kỹ năng  
mềm, phương pháp nghiên cứu để triển khai một đề tài nghiên cứu khoa học. Dưꢀi sự  
hưꢀng dẫn của giảng viên, cùng vꢀi sự nỗ lực của sinh viên, nhiều đề tài nghiên cứu  
khoa học ở khoa Lý luận chính trị đạt được giải nhất, giải nhì… tạo động lực cho sinh  
viên NCKH, hỗ trợ, nâng cao kết học tập.  
Bảng 2. Số lượng SV các năm tham gia NCKH ở khoa LLCT (2015 – 2020)2  
Năm học  
2015-2016  
2016-2017  
2017-2018  
2018-2019  
2019-2020  
SV năm thứ nhất  
SV năm thứ 2  
SV năm thứ 3  
SV năm thứ 4  
0
0
0
0
7
36  
25  
24  
25  
13  
1
9
2
2
5
0
0
0
1
0
Một số khó khăn:  
Thứ nhất, trong NCKHSV, người hưꢀng dẫn khoa học (giảng viên) và người  
nghiên cứu (sinh viên), đều có vai trò rất quan trọng. Thiếu một trong hai thì đề tài sẽ  
không thực hiện được. Trong 5 năm (2015-2020) số lượng giảng viên tham gia hưꢀng  
dẫn sinh viên NCKH của khoa Lý luận chính trị giảm 50%, số lượng đề tài giảm 60%  
so vꢀi những năm (2010-2015)3. Có nhiều nguyên nhân, như thầy cô chưa tìm được  
hưꢀng nghiên cứu hay, chưa khích lệ được sinh viên tham gia NCKH. Nhiều giảng  
1,2. Số liệu lấy từ Quyết định giao nhiệm vụ thực hiện dề tài NCKHSV trong các năm 2015-2020 của trường  
ĐHGTVT. Lưu tại Văn phòng khoa Lý luận chính trị.  
3. Số liệu được tổng hợp từ Quyết định giao nhiệm vụ thực hiện đề tài NCKHSV trong các năm 2010-2015 của  
trường ĐHGTVT. Lưu tại Văn phòng khoa Lý luận chính trị.  
-437-  
Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII  
Trường Đại học Giao thông vận tải  
viên không còn thiết tha hưꢀng dẫn NCKHSV, do lãnh đạo khoa chưa có nhiều giải  
pháp đủ mạnh để khuyến khích giảng viên tích cực tham gia hưꢀng dẫn NCKH sinh  
viên. Hội đồng chấm đề tài đôi lꢁc chưa thực sự khách quan trong đánh giá chất lượng  
của đề tài, làm giảm hứng thú NCKH của cả thầy và trò. Mặt khác, có nhiều thầy cô  
hưꢀng dẫn sinh viên rất tận tình, tuy nhiên, còn có một số thầy cô khi hưꢀng dẫn  
NCKH còn chưa sâu sát vꢀi sinh viên trong quá trình triển khai đề tài, dẫn đến chất  
lượng đề tài yếu kém, số lượng đề tài giảm. Bên cạnh đó, trình độ và phương pháp  
NCKH của một bộ phận giảng viên khoa Lý luận chính trị còn hạn chế, chưa tự đổi  
mꢀi, nâng cao trình độ, đáp ứng được yêu cầu mꢀi trong nâng cao chất lượng NCKH  
hiện nay.  
Thứ hai, phân tích số liệu ở Bảng 2 cho thấy, trong 5 năm, khoa Lý luận chính trị  
chỉ thu hꢁt được 7 sinh viên năm thứ nhất tham gia NCKH. Sinh viên năm thứ hai là  
123 và năm thứ ba là 19. Đây là lực lượng chủ yếu tham gia nghiên cứu khoa học ở  
khoa Lý luận chính trị. Nguyên nhân do sinh viên năm thứ nhất khi bưꢀc vào trường  
đại học, họ là đối tượng lạ lẫm và mꢀi mẻ của nghiên cứu khoa học. Đa số sinh viên  
năm thứ nhất của trường ĐHGTVT chưa hiểu được tầm quan trọng và lợi ích của  
NCKH, đặc biệt là NCKH xã hội và nhân văn. Số lượng sinh viên năm thứ hai và năm  
thứ ba tham gia nghiên cứu khoa học tăng cao vì trong hai năm ngồi trên giảng đường  
đại học, sinh viên được học những kiến thức của các môn Lý luận chính trị, được các  
giảng viên khoa Lý luận chính trị tận tình giảng dạy và động viên tham gia nghiên cứu  
khoa học. Sinh viên năm thứ tư và thứ năm do tập trung vào việc chuẩn bị cho thực tập  
và đồ án chuyên ngành nên số lượng tham gia nghiên cứu khoa học ở khoa Lý luận  
chính trị rất hạn chế. Mặc dù trong 5 năm có 150 sinh viên tham gia NCKH, nhưng so  
vꢀi tổng số lượng sinh viên toàn trường thì chưa đến 1%. Điều này thể hiện sinh viên  
trường ĐHGTVT ít quan quan tâm đến những vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội… Sinh  
viên ĐHGTVT học các môn Lý luận chính trị cũng chỉ học cho qua chứ không đào  
sâu, suy nghĩ hay tư duy. Đây cũng là khó khăn của giảng viên khi thu hút sinh viên  
tham gia nghiên cứu về khoa học xã hội và nhân văn trong bối cảnh hiện nay.  
Thứ ba, sinh viên tham gia NCKH ở khoa Lý luận chính trị được tiếp cận vꢀi các  
hưꢀng nghiên cứu chủ yếu là về khoa học xã hội và nhân văn, cụ thể là những vấn đề  
kinh tế, chính trị, văn hóa, lịch sử, con người, những vấn đề nóng và mang tính thời sự  
của xã hội vv…Đây là những hưꢀng nghiên cứu kết hợp giữa lý luận và thực tiễn,  
hưꢀng nghiên cứu khó vꢀi sinh viên trường ĐHGTVT. Bởi vì, sinh viên trường  
ĐHGTVT đa phần là sinh viên học ngành kinh tế kỹ thuật, hoặc các ngành kỹ thuật,  
được tuyển sinh từ các tổ hợp môn A, A1, D07. Do chương trình phân ban ở phổ thông  
nên những sinh viên học các tổ hợp này chủ yếu chỉ học những môn tự nhiên, còn học  
đối phó hoặc bỏ qua các môn xã hội. Vì vậy, kiến thức nền về khoa học xã hội và nhân  
văn và vốn hiểu biết về đời sống xã hội rất hạn chế. Bên cạnh đó, sinh viên không có  
kiến thức về phương pháp nghiên cứu khoa học (Học phần về phương pháp nghiên  
cứu khoa học không nằm trong chương trình đào tạo chính khóa của trường  
ĐHGTVT). Hệ quả là đa số sinh viên không có đủ kiến thức để tìm hưꢀng nghiên cứu,  
không biết lựạ chọn đề tài, không xác định được mục tiêu, nhiệm vụ; đối tượng và  
phạm vi nghiên cứu của đề tài; không biết triển khai một đề tài NCKH vv… Tóm lại:  
-438-  
Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII  
Trường Đại học Giao thông vận tải  
việc thiếu kiến thức về lĩnh vực nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu là một thách  
thức không nhỏ đối vꢀi sinh viên khi tham gia nghiên cứu khoa học. Giảng viên khoa  
Lý luận chính trị trong quá trình hưꢀng dẫn sinh viên NCKH khá vất vả trong việc  
trang bị kiến thức và phương pháp nghiên cứu cho sinh viên. Người hưꢀng dẫn cố  
gắng tư vấn, gợi mở hưꢀng nghiên cứu, giꢁp đỡ sinh viên chọn đề tài nghiên cứu;  
hưꢀng dẫn cho sinh viên tìm, đọc và xử lý tài liệu… Nhiều sinh viên, mặc dù kiến thức  
ít ỏi, nhưng nhờ sự hưꢀng dẫn tận tình của thầy cô, họ đã nỗ lực để tìm tòi, nghiên cứu  
và đạt được kết quả cao. Bên cạnh đó, cũng còn những bạn sinh viên khi đề tài được  
duyệt, trong quá trình triển khai đề tài, do lười học, lười nghiên cứu vv… đã bỏ giữa  
chừng; thầy cô liên lạc nhiều lần không gặp, kết quả là đề tài không được thực hiện.  
Thứ tư, sinh viên khi tham gia hoạt động NCKH thiếu những kỹ năng cơ bản  
như, kỹ năng nghiên cứu độc lập, hoặc kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giao tiếp, kỹ  
năng phản biện, kỹ năng khảo sát thực tiễn vv… Nhiều nhóm nghiên cứu đã không  
hoàn thành đề tài, hoặc đề tài chất lượng kém. Nguyên nhân là do kỹ năng làm việc  
nhóm còn hạn chế dẫn đến mâu thuẫn trong nội bộ nhóm. Sinh viên lúng túng trong  
việc phân công trách nhiệm cho từng thành viên, chưa biết triển khai một đề tài, tìm và  
xử lý tài liệu còn nhiều hạn chế. Đây là thách thức lꢀn trong quá trình nghiên cứu.  
Thứ năm, bên cạnh việc hoàn thành nội dung khoa học, khâu trình bày kết quả  
nghiên cứu trưꢀc hội đồng khoa học cũng rất quan trọng. Đây là một phần quyết định đến  
kết quả của đề tài. Tuy nhiên, nhiều đề tài NCKH, sinh viên chưa làm tốt khâu này.  
Nguyên nhân là do nhiều giáo viên hưꢀng dẫn chưa chỉ dạy cho sinh viên một cách cụ thể  
về kỹ năng thuyết trình, kỹ năng trả lời câu hỏi… còn sinh viên thì chưa chuẩn bị chu đáo,  
chưa biết cách trình bày một vấn đề khoa học nên phần thuyết trình không thành công.  
Tóm lại: trong 5 năm qua, hoạt động NCKHSV ở khoa Lý luận chính trị có  
những thuận lợi, nhưng cũng gặp không ít khó khăn. Có thể khẳng định rằng, NCKH  
không phải là một hoạt động đơn giản, dễ dàng mà bất kì sinh viên nào cũng có thể  
làm được. Tuy nhiện, nếu sinh viên hiểu được tầm quan trọng và lợi ích của NCKH;  
củng cố được kiến thức của lĩnh vực nghiên cứu; có phương pháp và kỹ năng nghiên  
cứu cơ bản; có sự hưꢀng dẫn tận tình của thầy, cô, thì khi tham gia NCKH, sinh viên  
nhất đinh sẽ đạt được kết quả cao.  
3. KẾT LUẬN  
Như vậy, bài báo đã tập trung làm rõ tầm quan trọng và lợi ích của NCKHSV đối  
vꢀi hoạt động dạy và học ở bậc đại học. Từ đó, tác giả đã phân tích những thuận lợi và  
khó khăn của hoạt động NCKHSV ở khoa Lý luận chính trị trường ĐHGTVT hiện nay.  
Trong giai đoạn mꢀi, giảng viên và sinh viên nhận thức được vai trò của nghiên cứu  
khoa học, cần phát huy những thuận lợi và khắc phục những khó khăn, nhằm nâng cao  
hơn nữa chất lượng NCKHSV ở trường ĐHGTVT, đáp ứng yêu cầu mꢀi - nâng cao chất  
lượng đào tạo. Có thể khẳng định rằng NCKH là phương pháp hiệu quả nhất, hỗ trợ cho  
việc nâng cao chất lượng dạy và học ở bậc đại học nói chung và trường ĐHGTVT nói  
riêng.  
-439-  
Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII  
Trường Đại học Giao thông vận tải  
LỜI CẢM ƠN  
Cảm ơn trường Đại học Giao thông Vận tải đã tài trợ cho nghiên cứu này trong khuôn  
khổ đề tài, mã số T2020-ML-004.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. Luật Giáo dục đại học năm 2012, https://thuvienphapluat.vn, truy cập ngày 15  
tháng 8 năm 2020.  
[2]. Đ.C. Vũ, Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, xuất bản lần thứ 13, NXB Khoa  
học và Kỹ thuật, Hà Nội, 2005.  
[3]. B.C. Hoàng, Nghiên cứu cơ bản trong Khoa học Xã hội – Nhân văn và Lý luận ở  
nưꢀc ta hiện nay: Quan niệm và vấn đề đặt ra, Tạp chí Triết học, số 7 (2004).  
[4]. T.V. Nguyễn, Phương pháp học tập và nghiên cứu khoa học đối vꢀi sinh viên đại  
học, http://hvnh.edu.vn, 8/2017, truy cập ngày 5/8/2020.  
[5]. Ư.M. Trần, Nghiên cứu khoa học của giảng viên - Yếu tố khoa học góp phần nâng  
cao chất lượng đào tạo tại các trường đại học hiện nay.  
[6]. V.V. Phạm, Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, xuất bản lần thứ hai, NXB  
Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000.  
-440-  
pdf 8 trang Thùy Anh 13420 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thuận lợi và khó khăn trong hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên ở khoa Lý luận chính trị trường Đại học Giao thông vận tải hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuan_loi_va_kho_khan_trong_hoat_dong_nghien_cuu_khoa_hoc_si.pdf