Giáo trình Tâm lý học hướng nghiệp (Phần 1)

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN  
KHOA TÂM LÝ HỌC  
-----------O0O-----------  
TẬP BÀI GIẢNG  
TÂM LÝ HỌC HƯỚNG NGHIỆP  
Người biên soạn : Ths. Phạm Mạnh Hà  
Hà nội 2009  
MỤC LỤC  
Mục lục  
Trang  
5
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA TÂM LÝ HỌC  
HƯỚNG NGHIỆP  
1. Đối tượng nghiên cứu của TLH hướng nghiệp  
2. Nhiệm vụ của TLH hướng nghiệp  
3. Lịch sử ra đời của TLH hướng nghiệp  
4. Các phương pháp nghiên cứu trong TLH hướng nghiệp  
CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ TÂM LÝ HỌC CỦA HỌAT  
ĐỘNG HƯỚNG NGHIỆP.  
5
6
7
20  
26  
1. Khái niệm hướng nghiệp  
26  
32  
32  
33  
2. Bản chất tâm lý của hoạt động hướng nghiệp  
3. Đặc điểm của hoạt động hướng nghiệp.  
4. Vai trò của hướng nghiệp đối với sự lựa chọn nghề của thanh  
niên và xã hội  
5. Nhiệm vụ của hoạt động hướng nghiệp.  
6. Những vấn đề lý luận cơ bản của công tác hướng nghiệp trong  
trường phổ thông.  
34  
41  
6.1. Các quan điểm tổ chức họat động hướng nghiệp trong trường  
phổ thông  
41  
52  
58  
63  
63  
6.2. Các con đường thực hiện hướng nghiệp trong trường phổ  
thông  
6.3. Các nguyên tắc cơ bản của hoạt động hướng nghiệp trong  
giáo dục  
CHƯƠNG 3. NHỮNG VẤN ĐỀ TÂM LÝ HỌC CỦA HOẠT  
ĐỘNG CHỌN NGHỀ  
1. Khái niệm nghề  
1
2. Họa đồ nghề  
72  
78  
98  
3. Những vấn đề tâm lý học trong họat động chọn nghề  
4. Các nhân tố khách quan ảnh hưởng đến hoạt động chọn nghề  
của học sinh.  
5. Những nguyên tắc cơ bản trong chọn nghề và những sai lầm  
thường gặp trong chọn nghề  
110  
5.1. Các nguyên tắc cơ bản.  
110  
112  
113  
117  
5.2. Những sai lầm trong lựa chọn nghề  
6. Sự phù hợp trong lựa chọn nghề của cá nhân.  
CHƯƠNG 4. MỘT SỐ YẾU TỐ TÂM LÝ CÁ NHÂN TRONG  
HỌAT ĐỘNG CHỌN NGHỀ  
1. Nhận thức nghề và họat động chọn nghề  
2. Nguyện vọng nghề nghiệp  
117  
118  
120  
122  
124  
133  
136  
142  
3. Hứng thú nghề nghiệp  
4. Động cơ chọn nghề  
5. Tính cách và thiên hướng nghề  
6. Khí chất và thiên hướng nghề  
7. Năng lực và thiên hướng nghề  
CHƯƠNG 5: CHUYÊN ĐỀ TƯ VẤN NGHỀ VÀ CÁC VẤN  
ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN  
1.Khái niệm tư vấn nghề  
142  
147  
149  
166  
176  
194  
198  
2. Phân loại tư vấn nghề  
3. Một số lý thuyết tư vấn nghề nghiệp  
4. Các mô tư vấn nghề  
5. Tổ chức tư vấn nghề trê thế giới và Việt Nam  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
PHỤ LỤC  
2
CHƯƠNG 1  
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA TÂM LÝ HỌC HƯỚNG  
NGHIỆP  
Tâm lý học hướng nghiệp là một phân ngành của Tâm lý học, nó  
nghiên cứu những đặc điểm tâm lý cá nhân nảy sinh trong các hoạt động  
chọn nghề, đồng thời nghiên cứu các yếu tố tâm lý – xã hội ảnh hưởng  
đến hoạt động này của học sinh nói riêng và của thanh niên nói chung, từ  
đó đề xuất các mô hình tư vấn, hỗ trợ cá nhân trong quá trình định hướng  
và lựa chọn nghề nghiệp nhằm đảm bảo sự phù hợp giữa lợi ích cá nhân  
và lợi ích chung của xã hội. Như vậy, tâm lý học hướng nghiệp có đối  
tượng và nhiệm vụ nghiên cứu như sau:  
1. Đối tượng nghiên cứu của TLH hướng nghiệp  
Khi bàn đến cơ sở Tâm lý học của hoạt động hướng nghiệp, các tác  
giả Phạm Minh Hạc, Lê Khanh, Trần Trọng Thuỷ (1989) cho rằng bản  
chất tâm lý của công tác hướng nghiệp là "hệ thống các hoạt động nhằm  
điều khiển các động cơ chọn nghề của học sinh"1. Hệ thống điều khiển  
này bao gồm: Các chủ thể của sự điều khiển (nhà trường, gia đình, cơ  
quan nhà nước…); Các phương tiện và phương pháp điều khiển (Công tác  
hướng nghiệp của nhà trường, sự giáo dục của gia đình, sự thông tin nghề  
nghiệp của các cơ quan truyền thông…); Đối tượng điều khiển (động cơ  
và định hướng giá trị của học sinh); Kết quả điều khiển (Sự sẵn sàng lựa  
chọn nghề nghiệp của học sinh trong việc chọn nghề phù hợp với những  
1, Phạm Minh Hạc, Lê Khanh, Trần Trọng Thuỷ, Tâm lý học, tập 2. NXB Giáo dục  
1989, trang 148  
3
yêu cầu của nghề nghiệp, đúng với khả năng nguyện vọng của cá nhân và  
hợp với yêu cầu xã hội).  
Với tư cách là một phân ngành của Tâm lý học, Tâm lý học hướng  
nghiệp là khoa học về hành vi chọn nghề của con người trong quá trình  
định hướng nghề nghiệp. Theo quan điểm hoạt động, điều đó có nghĩa là:  
Khái niệm TLH Hướng nghiệp hàm chứa trong nó hai khái niệm gắn bó  
chặt chẽ với nhau: Khái niệm giáo dục hướng nghiệp và khái niệm hoạt  
động chọn nghề của học sinh (và của con người nói chung). Như vậy,  
TLH hướng nghiệp phải nghiên cứu đồng thời cả hai hoạt động này trong  
mối quan hệ biện chứng, không tách rời. Đây là hai hoạt động cho nhau và  
vì nhau, không có hoạt động này thì không có hoạt động kia. Nói cách  
khác, TLH Hướng nghiệp nghiên cứu cả hai hoạt động giáo dục hướng  
nghiệp và hoạt động chọn nghề như một hoạt động kép nhằm phát hiện ra  
những hiện tượng, quá trình và quy luật tâm lý chi phối sự tác động qua  
lại giữa hai hoạt động này để có kết quả cuối cùng là cá nhân chọn dược  
một nghề phù hợp với bản thân mình và yêu cầu của xã hội.  
2. Nhiệm vụ của TLH hướng nghiệp  
Tâm lý học hướng nghiệp có những nhiệm vụ cơ bản sau:  
Đối với hoạt động chọn nghề của học sinh:  
Nghiên cứu, tìm hiểu những yếu tố tâm lý thúc đNy quá trình lựa  
chọn nghề nghiệp của học sinh: hứng thú nghề nghiệp, động cơ nghề  
nghiệp, định hướng giá trị nghề nghiệp, dự định nghề nghiệp, xu hướng  
nghề nghiệp...  
N ghiên cứu, tìm hiểu những yếu tố, điều kiện tạo nên sự phù hợp và  
thích ứng của cá nhân đối với nghề nghiệp lựa chọn.  
4
N ghiên cứu, tìm hiểu những yếu tố chủ quan, khách quan có ảnh  
hưởng đến quá trình định hướng và lựa chọn nghề của cá nhân  
Đối với hoạt động giáo dục hướng nghiệp  
N ghiên cứu các giải pháp tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp  
cho học sinh nhằm giúp các em học sinh định hướng lựa chọn được nghề  
phù hợp với các đặc điểm cá nhân, gia đình và phù hợp với nhu cầu xã  
hội.  
N ghiên cứu các phương tiện đánh giá, chNn đoán tâm lý dùng cho  
hoạt động tư vấn hướng nghiệp.  
3. Lịch sử ra đời của TLH hướng nghiệp  
Giữa thế kỷ XIX, khi nền sản xuất tư bản chủ nghĩa ngày càng phát  
triển, các nhà Tâm lý học làm việc trong các doanh nghiệp khi nghiên cứu  
sự thích ứng của người công nhân đối với công việc đã đi đến kết luận  
rằng, để con người có thể làm tốt một công việc cụ thể, không chỉ phụ  
thuộc vào việc tổ chức dạy nghề như thế nào mà còn phụ thuộc vào người  
đó có những năng lực phù hợp với nghề hay không. Từ phát hiện này, các  
nhà Tâm lý học đề xuất đối với các nhà tuyển dụng rằng trước khi nhận  
một ai đó vào một vị trí lao động cần phải tìm hiểu anh ta có những năng  
lực phù hợp hay không, sau đó mới tiến hành đào tạo. N hư vậy, nhu cầu  
hướng nghiệp, đặc biệt là tư vấn, tuyển chọn nghề nghiệp xuất hiện từ  
giữa thế kỷ XIX từ chính sự đòi hỏi của cuộc sống.  
Lịch sử cho thấy, các nhà Tâm lý học là những chuyên gia  
trước tiên quan tâm tới việc xây dựng hệ thống cơ sở lý luận cũng  
như những phương pháp hướng nghiệp: năm 1880, nhà Tâm lý học  
Mĩ. M. Kettell là người đầu tiên đề nghị đưa phương pháp Test (Trắc  
5
nghiệm tâm lý) vào công tác tuyển chọn nghề thì năm 1883, nhà Tâm  
lý học Anh F. Gallton lần đầu tiên sử dụng Test để chNn đoán nhân  
cách nhằm mục đích tư vấn nghề nghiệp. N ăm 1895, F. Galton cùng  
với nhà Tâm lý học Pháp A.Binet đã thành lập Sở tư vấn nghề nghiệp  
đầu tiên tại Pháp. Đến đầu thế kỷ XX các cơ sở dịch vụ tư vấn,  
hướng nghiệp lần lượt ra đời ở Mỹ, Anh , CHLB Đức….  
N ăm 1908 giáo sư của Trường Đại học Tổng hợp Harvard (Mỹ)  
là F. Parsons đã thành lập Hội đồng hướng nghiệp ở Boston. N ăm  
1910 một Hội đồng hướng nghiệp tương tự được thành lập ở N ew  
York. N hiệm vụ của các hội đồng hướng nghiệp này là nghiên cứu  
các yêu cầu của nghề đối với con người, tìm hiểu một cách chi tiết về  
năng lực của học sinh từ đó giúp học sinh lựa chọn cho mình một  
nghề phù hợp. Các phương pháp được sử dụng là test và anket. Kinh  
nghiệm của các Hội đồng này được phổ biến rộng khắp ở Mỹ, Tây  
Ban N ha, Phần lan, Thụy sĩ, Tiệp khắc…  
Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918) đã tạo nên nhu cầu  
tiếp tục mở rộng các công xưởng sản xuất vũ khí, khí tài do đó việc xác  
định sự phù hợp nghề để tuyển trọn và định hướng nghề nghiệp cho những  
người có phNm chất trí tuệ và thể lực cần thiết phục vụ chiến tranh trở nên  
cần thiết. ở Đức, năm 1922 nhà nước đã thông qua luật về hệ thống hướng  
nghiệp. Thể theo luật này quy chế về nguyên tắc lãnh đạo hệ thống hướng  
nghiệp đã được khẳng định. Theo quy chế này, Hội đồng tư vấn nghề  
nghiệp nghiệp thuộc các sở giới thiệu tìm việc làm (sở giao dịch lao động)  
cần phải thực hiện những nhiệm vụ sau:  
6
- ChuNn bị một cách có kế hoạch cho thanh thiếu niên chọn nghề  
(trong thực tế việc này bắt đầu từ bốn đến năm tháng trước khi học sinh  
tốt nghiệp).  
- Cung cấp thông tin liên quan đến việc chọn nghề trước khi bước  
vào nghề hoặc khi chuyển nghề và cho những lời khuyên cần thiết giúp  
quá trình lựa chọn nghề đi đến thành công.  
- N ghiên cứu các đặc tâm lý, phNm chất nhân cách, năng lực của  
học sinh.  
- Giới thiệu đến làm việc hoặc tiếp tục theo học tại cơ sở dạy nghề.  
Từ sau Hội nghị quốc tế về hướng nghiệp tổ chức tại Bacelona (Tây  
Ban N ha) năm 1938, hướng nghiệp và tư vấn nghề nghiệp bắt đầu trở  
thành xu thế chung rộng rãi trên thế giới.  
Hiện nay, ở các nước tư bản, hướng nghiệp được coi là một tập  
hợp các biện pháp như thông tin nghề nghiệp, xác định xu hướng và  
sự phù hợp nghề của thanh niên với nghề này hay nghề khác, giúp  
đỡ thanh niên đối với nghề này hay nghề khác, giúp đỡ thanh niên  
chọn nghề. Trong hệ thống hướng nghiệp ở các nước tư bản, tư vấn  
nghề nghiệp và tuyển chọn nghề là những khâu chủ chốt.  
Ở Mỹ, thời kỳ đầu thế kỷ XX, có những Công ty hướng nghiệp  
tư nhân bên cạnh các trung tâm hướng nghiệp của N hà nước tại các  
trường cao đẳng và các trường đại học tổng hợp. N goài ra, có rất  
nhiều trung tâm hướng nghiệp và tuyển chọn nghề trực thuộc Bộ Lao  
động.  
7
Lý luận và thực tiễn của hoạt động hướng nghiệp ở Liên xô  
(cũ) và các nước XHCN trước đây dựa trên cơ sở phương pháp luận  
của học thuyết Mác - Lênin về giáo dục lao động và kỹ thuật tổng  
hợp cho học sinh.  
Theo Mác, để hình thành những người phát triển toàn diện; có  
khả năng định hướng trong hệ thống sản xuất, cần phải thực hiện giáo  
dục kỹ thuật tổng hợp, nghĩa là liên kết giữa giáo dục trí tuệ, thể lực  
và dạy kỹ thuật, Phương pháp chủ yếu để thực hiện nguyên tác giáo  
dục kỹ thuật tổng hợp là cải tiến giáo dục trong nhà trường. Đó chính  
là lý luận giáo dục lao động và kỹ thuật tổng hợp, và là cơ sở phương  
pháp luận của hoạt động hướng nghiệp.  
Đầu thế kỷ XX, các nhà sư phạm tiền bối Xô viết (N .C.  
Krupxkaia, A.V, Lunatraxki, P.P.Blonxki, A.C. Makarenkô, X.T.  
Saxki…) đã phát triển lý luận hướng nghiệp và đưa tư tưởng giáo dục  
kỹ thuật tổng hợp vào cuộc sống. Họ lập luận một cách khoa học  
rằng: Hướng nghiệp phải được thực hiện trong quá trình dạy học,  
giáo dục. Họ cho rằng, trong hướng nghiệp, giáo dục kỹ thuật tổng  
hợp lao động có tổ chức đúng đắn giữ vị trí rất quan trọng. Vì vậy,  
trong quá trình hướng nghiệp cần phải sử dụng rộng rãi môi trường  
sản xuất để giáo dục và định hướng nghề nghiệp cho học sinh.  
Các nhà sư phạm tiền bối Xô viết (đặc biệt là N .C.Krupxkaia  
và P.P.Blonxki) rất coi trọng vấn đề chọn nghề của thanh niên trong  
hoạt động hướng nghiệp.Trong bài báo "Chọn nghề" (1925)  
Krupxkaia phê phán tính chất thực dụng của kỹ thuật tâm lý sử dụng  
trong hướng nghiệp ở một số nước tư bản, và chỉ ra nhiệm vụ hàng  
đầu của kỹ thuật tâm lý XHCN là: khi giải quyết vấn đề tuyển chọn  
8
nghề; phải chú ý sao cho thanh niên chọn được nghề có thể giúp họ  
phát triển nhân cách hài hòa, đem lại cho họ sự thỏa mãn và niềm  
vui.  
Trong việc chọn nghề của thanh niên, bà đề nghị chú trọng đến  
những đặc điểm cá nhân của họ như hứng thú, năng lực. Bài báo "N ói  
về chọn nghề" (1929) của bà đã đề cập đến vai trò của sự kết hợp  
hứng thú và năng lực đối với hiệu quả lao động nghề nghiệp. Bà viết:  
sản xuất đòi hỏi phải tuyển chọn những người phù hợp hơn với nghề.  
Sự tuyển chọn đó cần phải được thực hiện trước hết trên cơ sở nghiên  
cứu một cách khoa học năng lực của từng cá nhân và cân nhắc đến  
hứng thú của họ.  
Tóm lại các nhà sư phạm tiền bối Xô viết đã soạn thảo cơ sở  
khoa học sư phạm cho hoạt động hướng nghiệp, đồng thời họ chỉ ra  
được vai trò quan trọng của hướng nghiệp, tư vấn, tuyển chọn nghề  
đối với việc giải quyết các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của đất nước.  
Họ rất đúng và nhân đạo khi coi hướng nghiệp không chỉ là giúp  
thanh niên định hướng nghề nghiệp đúng đắn mà còn là phương tiện  
để phát triển hài hòa nhân cách của họ. Đó chính là điểm ưu việt của  
hướng nghiệp xã hội chủ nghĩa. Song hướng nghiệp vẫn chỉ mới có lý  
luận, chưa có được hệ phương pháp hoàn chỉnh; cơ sở vật chất còn  
yếu và chưa có đội ngũ chuyên gia tư vấn, tuyển chọn nghề.  
Thực tiễn nghiên cứu và tiến hành hướng nghiệp nói chung và  
tư vấn nghề nghiệp nói riêng ở Liên Xô (cũ) thực chất bắt đầu từ cuối  
những năm 20.  
Đầu những năm 20 tại thủ đô Mátxcơva và một số nơi bắt đầu  
hình thành hệ thống các cơ quan khoa học có nhiệm vụ nghiên cứu  
9
các vấn đề hướng nghiệp cho học sinh. N ăm 1921 trong Viện N ghiên  
cứu Lao động Trung ương đã thành lập phòng thí nghiệm tâm lý  
chuyên nghiên cứu nhân cách học sinh phục vụ cho hướng nghiệp.  
Các vấn đề khác của hướng nghiệp dần được nghiên cứu tại Viện  
N ghiên cứu Lao động toàn Ucraina (thành phố Khắc- cốp), Phòng thí  
nghiệm chọn nghề thuộc Phòng Tâm sinh lý của Hội đồng tổ chức lao  
động khoa học Cadan, Viện nghiên cứu bệnh nghề nghiệp Mátxcơva  
và nhiều tổ chức khác. N ăm 1922, ủy ban Giáo dục quốc dân xem  
xét việc thành lập hội đồng chọn nghề cho thanh niên.  
Đến cuối những năm 20, nhiều nhà khoa học đã nhận thấy được  
sự cần thiết nghiên cứu đặc điểm hoạt động chuyên biệt của các nghề,  
xác định những yêu cầu về tâm sinh lý của chúng và phân loại chúng.  
Hàng loạt các cơ quan khoa học nghiên cứu hướng nghiệp tiếp tục ra  
đời. N ăm 1927 Hội đồng Hướng nghiệp ở Lêningrat được thành lập.  
Cùng năm, tại Mátxcơva đã diễn ra Hội nghị toàn Liên bang về tâm  
sinh lý lao động và tuyển chọn nghề. Hội nghị đã tổng kết những kết  
quả đầu tiên thu được trong việc nghiên cứu các vấn đề trên, bàn luận  
về các nguyên tắc tổ chức và phương pháp của việc nghiên cứu, tiền  
hành tuyển chọn nghề. N ăm 1929 thành lập Hội đồng hướng nghiệp  
liên ngành trong ủy ban Lao động quốc dân N ga. N ăm 1930 Phòng  
thí nghiệm trung ương về tư vấn, tuyển chọn nghề ra đời. Đến năm  
1932 toàn Liên xô đã có 54 Hội đồng tư vấn nghề nghiệp. Sau một  
thời gian, các hội đồng tư vấn nghề nghiệp này đã tích lũy được một  
số kinh nghiệm bước đầu khá phổ biến. Song, do chúng nằm dưới sự  
điều hành của các ủy ban quốc dân khác nhau, nên chúng không đảm  
bảo được mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Uỷ ban Lao động quốc dân  
không đảm bảo được sự tác động và phối hợp cần thiết trong công tác  
10  
này. Do đó các nhà nghiên cứu đã đề nghị thực hiện toàn bộ hoạt  
động hướng nghiệp thông qua ủy ban Công nghiệp quốc dân trong  
khuôn khổ các trường dạy lao động kỹ thuật tổng hợp.  
Từ năm 1930 hệ thống hướng nghiệp ở các trường phổ thông  
được hình thành. Ban tham mưu chuyên đề thực hiện phối hợp nghiên  
cứu hướng nghiệp cho học sinh ra đời.  
Từ những năm 50, nhu cầu tuyển lựa, bố trí cán bộ trong các  
lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân rất lớn. Do vậy, trong hoạt động  
hướng nghiệp, người ta chú trọng đNy mạnh công tác tuyên truyền,  
định hướng nghề và tuyển chọn nghề cho học sinh. Hàng loạt các tổ  
chức tư vấn nghề nghiệp tiếp tục xuất hiện trên khắp đất nước. N hiều  
Viện nghiên cứu đã góp phần tích cực vào việc giải quyết các nhiệm  
vụ của hướng nghiệp, tư vấn nghề nghiệp cho học sinh và thanh niên.  
Qua nghiên cứu lý luận và từ thực tiễn việc tổ chức các hoạt  
động hướng nghiệp, các nhà khoa học Liên Xô (cũ) đã khẳng định,  
muốn tiến hành các nhiệm vụ hướng nghiệp (định hướng, giáo dục  
nghề nghiệp tư vấn nghề nghiệp, tuyển chọn nghề) có hiệu quả thì  
phải trên cơ sở tiếp cận hệ thống với tuyển chọn nghề nghiệp. Bởi vì  
hướng nghiệp là vấn đề lớn, đa diện, liên quan đến nhiều mặt của  
cuộc sống.  
Quan điểm tiếp cận hệ thống với hướng nghiệp bao gồm:  
hướng tiếp cận kinh tế xã hội (hướng này xem xét, phân tích nhu cầu  
nghề nghiệp của xã hội và nêu rõ triển vọng của các nghề); hướng  
tiếp cận tâm sinh lý, (hướng này rất trọng và là cơ sở của tư vấn nghề  
nghiệp và tuyển chọn nghề. Giữa các cá nhân có sự khác biệt về các  
đặc điểm tâm sinh lý: hứng thú, xu hướng, năng lực, tính cách, khi  
11  
chất,…Vì vậy cần nghiên cứu đặc điểm nhân cách để giúp học sinh  
chọn được nghề phù hợp với bản thân (tư vấn nghề nghiệp) hoặc để  
chọn được những cá nhân có sự phù hợp nghề cao hơn vào học, làm  
trong 1 nghề nhất định (tuyển chọn nghề); hướng tiếp cận sư phạm  
(nhằm tuyên truyền, giáo dục cho học sinh lòng yêu lao động, hình  
thành trong các em hứng thú đối với những nghề mà xã hội đang  
cần); hướng tiếp cận y học (xem xét, phân tích các chỉ định và các  
chống chỉ định của học sinh đối với nghề đã chọn phù hợp với tình  
trạng sức khỏe của học sinh)…  
Ở Việt N am, khái niệm hướng nghiệp được nói đến từ những  
năm 60. Lý luận và thực tiễn hướng nghiệp ở nước ta được bắt đầu và  
phát triển chủ yếu dựa trên cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn  
hướng nghiệp của Liên xô (cũ).  
Thời kỳ đầu, quan niệm hướng nghiệp đi đôi với giáo dục lao  
động, để qua đó giáo dục cho học sinh thái độ sẵn sàng bước vào các  
hoạt động lao động nghề nghiệp. Quan điểm này thể hiện rõ trong  
cuốn "Một số vấn đề giáo dục lao động" (N XB giáo dục, Hà N ội  
1965). Từ cuối những năm 60 có một số công trình hướng nghiệp của  
Ban Tâm lý học thuộc Viện Khoa học Giáo dục Việt N am, trong đó  
có tác giả Phạm Tất Dong. Một trong những vấn đề ông quan tâm là  
hướng nghiệp cho nữ học sinh và phụ nữ. Luận án phó tiến sĩ của ông  
là đề tài "Hướng nghiệp cho nữ sinh phổ thông trung học" (1973).  
Vài năm học sau, ông hoàn thành cuốn "Phụ nữ và nghề nghiệp"  
(N XB phụ nữ, 1978).  
Đến đầu những năm 80, khi xuất hiện nhu cầu đNy mạnh giáo  
dục lao động, kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp nhằm chuNn bị kỹ  
12  
năng cho học sinh phổ thông đi vào cuộc sống thì hướng nghiệp mới  
thực sự được N hà nước chú trọng đến. N ăm 1980 theo sáng kiến của  
Bộ giáo dục và dược sự giúp đỡ của UN ICEF các Trung tâm kỹ thuật  
tổng hợp hướng nghiệp (KTTH - HN ) đầu tiên được thành lập. Đến  
cuối năm học 1980- 1981 chúng ta đã xây dựng được 20 Trung tâm  
KTTH - HN do UN ICEF tài trợ về trang thiết bị (2). Các trung tâm  
này có nhiệm vụ hướng nghiệp, dạy nghề cho thanh niên, bồi dưỡng  
giáo viên, làm dịch vụ khoa học kỹ thuật và nghiên cứu khoa học kỹ  
thuật (từ 8/1991, các trung tâm này được gọi là Trung tâm kỹ thuật  
tổng hợp - hướng nghiệp - dạy nghề). Song, trên thực tế các trung  
tâm này tiến hành dạy nghề cho thanh niên là chủ yếu, chưa quan tâm  
đến việc định hướng, tư vấn nghề nghiệp để giúp thanh niên học sinh  
chọn nghề phù hợp với bản thân.  
Sau khi Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định 126- CP về  
việc đNy mạnh hoạt động hướng nghiệp và sử dụng hợp lý học sinh  
tốt nghiệp phổ thông (19-3-1981) thì hoạt động hướng nghiệp mới  
được coi là nhiệm vụ của toàn xã hội, là một phần của công tác dạy  
học và giáo dục trong nhà trường phổ thông, Tổng cục Dạy nghề đã  
tổ chức Hội nghị chuyên đề "N gành dạy nghề với hoạt động hướng  
nghiệp". Các báo cáo của Hội nghị đã nêu rõ cơ sở lý luận của hoạt  
động hướng nghiệp, đề nghị xúc tiến việc xây dựng nội dung, (đề  
nghị xúc tiến việc xây dựng nội dung), phương pháp tư vấn, tuyển  
chọn nghề…, và một số kết quả, kinh nghiệm bước đầu nghiên cứu  
và thực hiện hướng nghiệp ở các trường dạy nghề và các trường phổ  
thông. Hội nghị này có ý nghĩa như một tiếng chuông kêu gọi các nhà  
2Theo tài liệu Hội nghị Trung tâm. KTTH - HN -DN toàn quốc lần thứ VII Bộ giáo dục đào tạo, nội  
(3-5/11/1993)  
13  
trường, các cơ quan, các ngành, các cấp có liên quan đNy mạnh hoạt  
động hướng nghiệp về nhiều mặt trong phạm vi cả nước. Sau sự kiện  
này các phòng truyền thống hướng nghiệp tại các trường phổ thông ra  
đời. Sự giúp đỡ trực tiếp của các Ban giáo dục chuyên nghiệp, việc  
soạn thảo các tài liệu hướng nghiệp, cho học sinh trong các phòng  
truyền thống hướng nghiệp rất được chú trọng. Báo cáo khoa học của  
Đặng Thành Hưng "Phương pháp xây dựng các tài liệu của phòng  
hướng nghiệp ở trường phổ thông" tại Hội nghị giáo dục học toàn  
quốc lần II (1982) ở Hà N ội đã phản ảnh điều đó. Hình thức hướng  
nghiệp được các phòng hướng nghiệp phổ thông sử dụng là trưng bày  
các tài liệu, hình ảnh, tổ chức các buổi tham quan, nói chuyện, xuất  
bản các sách báo giới thiệu chung về nghề. Trong các công trình về  
hướng nghiệp ở giai đoạn này có cuốn sách của Phạm Tất Dong  
"N ghề em yêu, thích" (N XB Kim Đồng, Hà N ội, 1985) rất được  
thanh thiếu niên học sinh chú ý đến. Trong tác phNm này, tác giả  
nhấn mạnh giá trị xã hội của một số nghề đang cần thiết cho đất nước  
nhằm lôi cuốn, hấp dẫn thanh thiếu niên học sinh. Cuốn sách có vai  
trò quan trọng trong việc tuyên truyền nghề nghiệp cho học sinh.  
N hư vậy, về mặt cơ cấu tổ chức của hoạt động hướng nghiệp  
thì cho đến giữa những năm 80 của thế kỷ này, ở nước ta đã hình  
thành được mạng lưới các phòng hướng nghiệp ở trường phổ thông  
và một số lớn các trung tâm KTTH-HN -DN . Mặc dù Bộ Giáo dục -  
Đào tạo đã ra nhiều chỉ thị hướng dẫn việc tổ chức các hoạt động  
hướng nghiệp cho các trường phổ thông cũng như các trung tâm  
KTTH-HN -DN , đồng thời xuất bản các đầu sách "Sinh hoạt hướng  
nghiệp" cho giáo viên phục vụ công tác này, tuy nhiên thực tế trong  
việc triển khai, các trường phổ thông và các trung tâm KTTH-HN -  
14  
DN mới chỉ thực hiện được nhiệm vụ tuyên truyền, và dạy nghề cho  
học sinh phổ thông là chủ yếu, còn hoạt động tư vấn nghề nghiệp hầu  
như không được thực hiện.  
Hướng nghiệp là một vấn đề đa diện. Muốn tiến hành hướng  
nghiệp có hiệu quả thì phải hiện thực hóa tất cả các mắt xích của nó,  
trong đó tư vấn nghề nghiệp. Chính vì vậy, từ năm 1985 chúng ta đã  
bắt đầu có những xuất bản đầu tiên về lĩnh vực tư vấn nghề nghiệp,  
ấn phNm tiêu biểu trong giai đoạn này là cuốn "Tuổi trẻ và nghề  
nghiệp" (N XB công nhân kỹ thuật, Tổng cục dạy nghề). Đây là tài  
liệu có giá trị, là cơ sở khoa học để các cán bộ tư vấn học đường thực  
hiện đầy đủ chức năng và nhiệm vụ của mình. Trong tài liệu, các tác  
giả đã mô tả và phân tích đặc điểm và yêu cầu tâm sinh lý của hơn 30  
nghề đào tạo phổ biến ở đất nước ta.  
Tiếp sau đó, một loạt công trình, bài viết nghiên cứu về lĩnh  
vực tư vấn nghề nghiệp mà tiêu biểu là nghiên cứu của tác giả Lê  
Đức Phúc "ChNn đoán và tư vấn nghề nghiệp nghiệp"3. N ghiên cứu  
đề cập đến các phương pháp chNn đoán tâm lý trong tư vấn nghề  
nghiệp. N ăm 1992, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho ra mắt tài liệu Tập  
huấn tư vấn nghề nghiệp cho học sinh phổ thông4 nhằm cung cấp cho  
các giáo viên, các cán bộ hướng nghiệp những kiến thức như nội  
dung, phương pháp và qui trình tư vấn nghề nghiệp. Có thể đây được  
coi là cNm nang đối với người làm công tác hướng nghiệp trong việc  
thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình.  
3 Xem trong "Hoạt động hướng nghiệp trong trường phổ thông". Tài liệu của Bộ giáo dục, Hà N ội  
1989.  
4 Tài liệu tập huấn tư vấn nghề cho học sinh phổ thông. Bộ Giáo dục và Đào tạo - Hà N ội, 1992  
15  
Trong những năm gần đây, việc giáo dục tình cảm, sự yên tâm  
gắn bó với nghề thông qua nhận thức rõ về giá trị của nghề và hình  
thành thái độ nghề nghiệp đúng đắn rất dược quan tâm.  
Giai đoạn 1991 - 1995 có một số công trình nghiên cứu đáng chú ý  
có đề cập đến vấn đề hướng nghiệp, xu hướng và sự lựa chọn nghề nghiệp  
của học sinh của các nhà Tâm lý học trong nước. Cụ thể, năm 1991, tác  
giả Phạm N guyệt Lãng với đề tài “Tìm hiểu động cơ chọn nghề của học  
sinh trung học phổ thông” đã đưa ra được xu hướng chọn nghề của học  
sinh là theo hứng thú cá nhân, theo sự phù hợp của khả năng cá nhân với  
nghề nghiệp, nghề có điều kiện học lên, nghề được xã hội tôn trọng…  
Trong năm 1991, tác giả Triệu Thị Phương trong nghiên cứu "Một số đặc  
điểm hứng thú và ý định nghề nghiệp của học sinh phổ thông cơ sở" cũng  
nhận định học sinh phổ thông cơ sở đã hình thành xu hướng nghề nghiệp.  
Trong một số đề tài thuộc chương trình KH-CN cấp nhà nước (mang mã  
số KX-07) đã nghiên cứu về sự biến đổi của con người Việt N am nói  
chung trong đó có đề cập đến vấn đề việc làm và chọn nghề. Tác giả  
N guyễn Quang UNn và cộng sự đã khảo sát định hướng giá trị của con  
người Việt N am, thanh niên Việt N am trên ba mặt định hướng giá trị  
chung, định hướng giá trị nhân cách và định hướng giá trị nghề nghiệp.  
N ăm 1997, Thành Đoàn Hà N ội cũng có một nghiên cứu về xu hướng  
nghề nghiệp của sinh viên. Trong nghiên cứu này đã chỉ ra những bất cập,  
nhiều sinh viên đã không hài lòng với ngành mình đang học từ đó giảm  
hứng thú học tập. N ăm 1998, trong báo cáo "Tổng quan tình hình công tác  
Hội và phong trào sinh viên Việt N am (1993 - 1998)" của Trung ương Hội  
sinh viên Việt N am đã đề cập đến xu hướng nghề nghiệp của học sinh  
dưới góc độ nghiên cứu xã hội học. N ăm 2000, hai tác giả Phạm Tất  
Dong và N guyễn N hư Ất trong cuốn "Sự lựa chọn tương lai" (Tài liệu tư  
16  
vấn hướng nghiệp) cũng đã đưa ra những nhận định về xu hướng chọn  
nghề của học sinh sinh viên hiện nay, đồng thời chỉ ra nhu cầu thị trường  
lao động trong thời gian tới. Trong tài liệu, các tác giả đã đưa ra những cơ  
sở khoa học giúp cho các em học sinh lựa chọn cho mình nghề nghiệp phù  
hợp, đó là trước khi chọn nghề, học sinh phải trả lời được 3 câu hỏi: Tôi  
thích làm nghề gì; Tôi làm được nghề gì; Tôi cần làm nghề gì. Từ đó định  
hướng cho việc chọn nghề nghiệp tương lai cho bản thân một cách phù  
hợp và đúng đắn. Trong năm 2005, cũng đã có một vài tác giả có đề cập  
sâu về vấn đề hướng nghiệp. Cụ thể, tác giả N guyễn Hữu Dũng, xuất bản  
cuốn "Thị trường lao động và định hướng nghề nghiệp cho thanh niên"  
trên cơ sở những nghiên cứu thực tiễn của đề tài khoa học độc lập cấp nhà  
nước "N ghiên cứu thị trường lao động và định hướng nghề nghiệp của  
thanh niên Việt N am hiện nay". Trong cuốn sách này, tác giả cũng đã  
nghiên cứu thực tiễn về xu hướng nghề nghiệp của học sinh và thanh niên  
Việt N am trong giai đoạn hiện nay. Cũng trong năm này, nhóm tác giả  
Phùng Đình Mẫn, Phan Minh Tiến, Trương Thanh Thuý trong cuốn "Một  
số vấn đề cơ bản về hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học  
phổ thông" đã đề cập những vấn đề lý luận liên quan đến vị trí, vai trò của  
hoạt động hướng nghiệp, cũng nhưng các quá trình, nội dung hướng  
nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông. Đáng chú ý là bài  
viết "Tư vấn nghề nghiệp và phân luồng học sinh phổ thông sau trung học  
(Báo cáo tại Hội thảo về Tư vấn nghề nghiệp do ĐHQG Hà Nội tổ chức  
tháng 01/2005) của PGS.TS. Đặng Danh Ánh. Trong bài viết này, ông  
đưa ra những quan điểm mới trong việc tổ chức các hoạt động hướng  
nghiệp cho học sinh. Đó là "dưới góc độ Tâm lý học, hướng nghiệp không  
chỉ được tiến hành ở tất cả các loại trường học mà còn thực hiện ở các cơ  
quan, các cơ sở sản xuất kinh doanh; không chỉ tiến hành với thế hệ trẻ mà  
còn tiến hành với cả người lớn tuổi không có nghề hoặc vì lý do nào đó  
17  
phải thay đổi nghề, lúc đó phải hướng nghiệp lại lần thứ hai, thứ ba. N ói  
cách khác, hướng nghiệp được bắt đầu từ khi học sinh đến trường (trọng  
tâm là trường THCS, THPT) đến khi các em có một nghề trong tay"5  
Tháng 1 năm 2005, Đại học Quốc Gia Hà N ội đã tổ chức một hội  
thảo về Tư vấn nghề nghiệp, trong đó tập trung vào vai trò, biện pháp và  
các giải pháp trong công tác phân luồng học sinh sau tốt nghiệp THPT nói  
chung và trong công tác tư vấn nghề nghiệp nói riêng với tư cách là một  
biện pháp của hoạt động hướng nghiệp.  
Và từ năm 2005 trở lại đây, các nghiên cứu trong lĩnh vực hướng  
nghiệp, tư vấn nghề nghiệp được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên  
cứu, điều này thể hiện sự quan tâm của giới làm khoa học đối với vấn đề  
mới mẻ và quan trọng này, đồng thời nó cũng thể hiện sự đòi hỏi tất yếu  
của xã hội đối với công tác này.  
4. Các phương pháp nghiên cứu trong TLH hướng nghiệp  
Để tiến hành các nội dung trong công tác hướng nghiệp và tư vấn  
nghề nghiệp, người làm công tác hướng nghiệp sử dụng các phương pháp  
và biện pháp tác động chính như sau:  
4.1. Phương pháp Test (trắc nghiệm)  
Phương pháp test là phương pháp nghiên cứu những đặc điểm tâm  
lý tương đối ổn định cá nhân như tính cách, khí chất, khả năng giao tiếp...  
bằng cách đưa ra một loạt các câu hỏi đã chuNn hoá trên một số lượng  
người đủ dại diện.  
5 Đặng Danh Ánh, Tư vấn nghề và phân luồng học sinh phổ thông sau trung học (Báo cáo tại Hội thảo  
về Tư vấn nghề do ĐHQG Hà Nội tổ chức tháng 01/2005)  
18  
Trong hoạt động tư vấn hướng nghiệp, phương pháp trắc nghiệm  
được các nhà tư vấn sử dụng rộng rãi trong việc đánh giá những đặc điểm,  
phNm chất tâm lý của cá nhân, so sánh kết quả của chúng với các yêu cầu  
của nghề nghiệp, qua đó đưa ra những chỉ dẫn khoa học giúp cho cá nhân  
lựa chọn được nghề phù hợp.  
Tuy nhiên, trong việc sử dụng các test (trắc nghiệm), đôi khi nhà tư  
vấn quá lạm dụng hoặc thực hiện các test một cách máy móc, cNu thả. Cả  
hai trường hợp này đều dẫn tới không hiệu quả cho quá trình chNn đoán.  
Điều quan trọng nhất trong quá trình sử dụng Test để hướng nghiệp và tư  
vấn nghề nghiệp, cán bộ làm công tác hướng nghiệp cần lưu ý những điểm  
sau:  
a. Cần xác định toàn bộ cấu trúc ngành nhánh của "cây" nghề.  
Điều này đòi hỏi người làm công tác hướng nghiệp cần xem xét  
nghề mà học sinh chọn thuộc lĩnh vực chuyên môn cụ thể gì, để từ đó lựa  
chọn những trắc nghiệm tương ứng để chNn đoán xem em học sinh đó có  
năng lực, phNm chất phù hợp với nghề đã chọn hay không. N ếu không xác  
định rõ điều này, người làm tư vấn sẽ bỏ qua thực tế là trong cùng một  
nghề nhưng với các chuyên môn khác nhau sẽ đòi hỏi người lao động  
những phNm chất tâm sinh lý khác nhau mà áp dụng cùng một hệ thống  
các trắc nghiệm sẽ làm việc chNn đoán thiếu chính xác, thậm chí tốn kém  
mà không đem lại hiệu quả.  
Ví dụ, cùng nghề bác sỹ nhưng lại gồm nhiều chuyên môn khác  
nhau như bác sỹ đa khoa, bác sỹ nội khoa, bác sỹ ngoại khoa, bác sỹ phẫu  
thuật, bác sỹ điều trị… và ở mỗi một chuyên môn hẹp lại đòi hỏi người  
bác sỹ có những phNm chất tâm sinh lý rất khác nhau. Điều này là quan  
trọng, bởi đôi khi người làm tư vấn dễ nhầm lẫn giữa lĩnh vực nghề  
19  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 120 trang Thùy Anh 14600 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Tâm lý học hướng nghiệp (Phần 1)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_tam_ly_hoc_huong_nghiep_phan_1.pdf