Thực trạng khả năng quản lí cảm xúc của người vị thành niên Việt Nam tiếp cận từ góc độ sức khỏe cảm xúc – xã hội

TẠP CHÍ KHOA HỌC  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH  
HO CHI MINH CITY UNIVERSITY OF EDUCATION  
JOURNAL OF SCIENCE  
Tập 18, Số 7 (2021): 1200-1212  
Vol. 18, No. 7 (2021): 1200-1212  
ISSN:  
2734-9918  
Bài báo nghiên cứu*  
THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG QUẢN LÍ CẢM XÚC  
CỦA NGƯỜI VỊ THÀNH NIÊN VIỆT NAM  
TIẾP CẬN TỪ GÓC ĐỘ SỨC KHỎE CẢM XÚC – XÃ HỘI  
Giang Thiên Vũ  
Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam  
Tác giả liên hệ: Giang Thiên Vũ – Email: [email protected]  
Ngày nhận bài: 20-05-2021; ngày nhận bài sửa: 15-07-2021; ngày duyệt đăng: 21-7-2021  
TÓM TẮT  
Sức khỏe cảm xúc – xã hội (CXXH) là hướng tiếp cận dưới góc độ sức khỏe tâm thần của  
năng lực CXXH. Bài viết trình bày về khả năng quản lí cảm xúc (QLCX), một trong bốn thành tố  
của mô hình năng lực CXXH dưới góc nhìn sức khỏe tâm thần của người vị thành niên (VTN) Việt  
Nam. Kết quả khảo sát và phân tích định lượng cho thấy người VTN có khả năng QLCX ở mức độ  
khá cao (ĐTB = 3,87). Tuy nhiên, phân tích định tính từ phỏng vấn cho thấy khả năng QLCX của  
người VTN vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là thao tác quản lí và điều chỉnh cảm xúc tiêu cực  
không hợp lí, thao tác thể hiện cảm xúc chủ yếu học từ kinh nghiệm của người khác, không phải đi  
từ việc nhận biết và thấu hiểu cảm xúc bản thân. Kết quả này là căn cứ quan trọng để đề xuất nội  
dung hướng dẫn nâng cao khả năng QLCX, cũng như khắc phục những hạn chế còn tồn tại trong  
thành tố này và các ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển năng lực CXXH dưới góc nhìn thực trạng  
sức khỏe tâm thần của người VTN Việt Nam.  
Từ khóa: khả năng quản lí cảm xúc; sức khỏe tâm thần; năng lực cảm xúc – xã hội; sức khỏe  
cảm xúc – xã hội; người vị thành niên Việt Nam  
1.  
Mở đầu  
Một hướng nghiên cứu về ứng dụng của năng lực CXXH (Social and Emotional  
Competence - SEC) là trong công tác sàng lọc, hỗ trợ và can thiệp các vấn đề sức khỏe tâm  
thần (SKTT) cho học sinh (HS) trong trường học. Các nhà nghiên cứu ứng dụng SEC vào  
việc xây dựng, thiết kế những chiến lược can thiệp, chiến lược giáo dục hoặc kế hoạch  
phòng ngừa rối nhiễu tâm lí học đường để mang lại các dịch vụ chăm sóc SKTT học  
đường tốt nhất, đảm bảo sự khỏe mạnh về tâm lí cho HS.  
Weare (2010) cung cấp một cái nhìn tổng quan về các nguyên tắc thực hành trong  
việc thúc đẩy công tác chăm sóc SKTT trường học và phát hiện một số tranh luận trong  
Cite this article as: Giang Thien Vu (2021). The situation of emotional competence of Vietnamese  
adolescents accessed from the social and emotional healh approach. Ho Chi Minh City University of  
Education Journal of Science, 18(7), 1200-1212.  
1200  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Giang Thiên Vũ  
lĩnh vực này. Nghiên cứu này xem xét cơ sở cho các tác động của SEC đối với việc học tập  
và SKTT của người VTN. Ngoài ra, nghiên cứu này phác thảo một số nguyên tắc bắt  
nguồn từ kinh nghiệm thực tế đang phát triển đang nhanh chóng: (1) sàng lọc nhu cầu hỗ  
trợ, nghiên cứu và đánh giá tâm lí trong trường học; (2) thực hiện nhất quán, tiếp cận toàn  
trường, đảm bảo các chương trình phòng ngừa rõ ràng, cân bằng; và (3) xác định mục tiêu,  
khuyến khích làm việc nhóm giữa các lực lượng giáo dục phù hợp, bao gồm HS và cha mẹ  
HS, hỗ trợ phát triển nhân viên và khuyến khích sự tự chủ trong nhà trường. Từ đây, thuật  
ngữ sức khỏe CXXH (Social-Emotional Health, SEH) ra đời. Dựa theo lí thuyết về SEH,  
You và cộng sự (2015), Furlong và cộng sự (2018) đã bắt đầu phát triển một mô hình và  
công cụ đánh giá dựa trên khái niệm về SEH để đo lường các khuynh hướng tâm lí tích cực  
cốt lõi dưới góc nhìn SKTT, dễ quản lí trong môi trường học đường.  
Như vậy, lí thuyết và mô hình SEH dựa trên tiền đề rằng sự thịnh vượng và thành  
công là có cơ sở trong các điều kiện của cuộc sống của một con người, thúc đẩy sự phát  
triển của các khuynh hướng tâm lí bên trong tập trung vào 4 thành tố chính: (1) Khả năng  
tin tưởng bản thân, (2) Khả năng tin tưởng người khác, (3) Khả năng QLCX (KNQLCX)  
và (4) Khả năng kết nối và hợp tác trong cuộc sống. Bài viết này tập trung nghiên cứu  
thành tố khả năng QLCX để bước đầu tìm hiểu và khám phá SEH trên nhóm khách thể  
VTN, cụ thể là HS THPT.  
2.  
Nội dung  
2.1. Khung lí thuyết và một số khái niệm  
Từ việc xác định khung lí thuyết và mô hình SEH của tác giả Furlong và cộng sự  
(2020), kết hợp với sự hiểu biết, nghiên cứu lược khảo các quan điểm khác nhau về SEC,  
về SKTT tại Việt Nam, với các đặc điểm tâm lí của người Việt, tác giả lựa chọn một số  
khái niệm trong nghiên cứu này như sau:  
Năng lực cảm xúc – xã hội (Social-Emotional Competence)  
Năng lực CXXH là khả năng quản lí hành vi, cảm xúc và tham gia tích cực vào các  
mối quan hệ xã hội của con người. SEC bao gồm: Khả năng hiểu biết về cảm xúc (nhận  
thức về cảm xúc của bản thân và của những người khác); khả năng điều chỉnh cảm xúc và  
thể hiện cảm xúc phù hợp; các kĩ năng xã hội bao gồm thể hiện quan điểm, sự đồng cảm và  
khả năng giải quyết vấn đề xã hội; khả năng quản lí bản thân và ra quyết định có trách  
nhiệm (Furlong et al., 2020).  
Sức khỏe cảm xúc – xã hội (Social-Emotional Health)  
Trong nghiên cứu này, sức khỏe CXXH được hiểu là khả năng con người nhận thức  
được những thế mạnh trong cuộc sống của mình; ứng phó được với những căng thẳng của  
cuộc sống; học tập, làm việc hiệu quả và đóng góp cho cộng đồng, xã hội. Các biểu hiện  
của một người có SEH: (1) Có niềm tin tích cực vào bản thân; (2) Có sự tin tưởng vào các  
mối quan hệ xã hội; (3) Có khả năng quản lí và điều chỉnh cảm xúc cá nhân; và (4) Có khả  
năng tham gia, kết nối vào các hoạt động trong cuộc sống (Furlong et al., 2020).  
Khả năng quản lí cảm xúc (Emotional Competence)  
1201  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 7 (2021): 1200-1212  
Bài viết tiếp cận nội hàm của thuật ngữ “khả năng quản lí cảm xúc” theo mô hình  
SEH của Furlong và cộng sự (2020). KNQLCX là sự nhận biết, thấu hiểu, điều chỉnh, thể  
hiện cảm xúc của bản thân và hiểu được cảm xúc của người khác. KNQLCX được hình  
thành qua ba biểu hiện: (1) Điều chỉnh cảm xúc: Có trách nhiệm với hành động của bản  
thân; thừa nhận sai lầm khi mắc phải và có hành động sửa lỗi tương ứng; điều chỉnh được  
suy nghĩ, hành động của bản thân tương ứng với những trải nghiệm cảm xúc khác nhau và  
tình huống khác nhau; (2) Đồng cảm: Cảm thông, cảm thấy tồi tệ khi người khác bị tổn  
thương về cảm xúc; nhận biết được cảm xúc của người khác; hiểu được hoặc cố gắng tìm  
hiểu cảm xúc và suy nghĩ mà người khác trải qua; và (3) Tự chủ: Chờ đợi được những điều  
mà bản thân mong muốn; kiểm soát được nhu cầu cá nhân trong tình huống cụ thể; suy  
nghĩ trước khi hành động.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu này được thiết kế theo phương pháp hỗn hợp (mixed method), với sự kết  
hợp của khảo sát định lượng bằng bảng hỏi và phân tích định tính dữ liệu phỏng vấn. Theo  
Morse (2016), sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp giúp người nghiên cứu không chỉ  
mô tả được vấn đề trên bình diện số lượng, mà còn giúp khám phá bản chất bên trong  
thông qua dữ liệu định tính thu thập được.  
Bảng hỏi được thiết kế gồm các nội dung chính như sau: Phần 1: Hướng dẫn thực  
hiện và thông tin cá nhân. Phần 2: Hệ thống các câu hỏi tìm hiểu thực trạng SEH của HS  
THPT. Cấu trúc của bảng hỏi gồm 36 câu; trong đó, câu 1-9 đánh giá khả năng tin tưởng  
bản thân, câu 10-18 đánh giá khả năng tin tưởng người khác, câu 19-27 đánh giá  
KNQLCX, câu 28-36 đánh giá khả năng kết nối và hợp tác với cuộc sống của HS THPT.  
Với phương pháp phỏng vấn, khách thể chính là HS THPT, khách thể bổ trợ là giáo viên  
(GV) THPT, cán bộ quản lí (CBQL) và chuyên viên tâm lí học đường (CV TLHĐ) tại  
trường khảo sát bằng bảng hỏi.  
Về xử lí và phân tích kết quả, HS được yêu cầu chọn một câu trả lời phản ánh chính  
xác nhất trong 5 mức độ theo thang đo Likert-5, từ hoàn toàn không đúng đến rất đúng so  
với bản thân của mình. Sau đó, sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để xử lí dữ liệu, tìm ra các  
giá trị trung bình và độ lệch chuẩn. Từ các giá trị trung bình và cách quy đổi mức độ trong  
thang Likert-5, tác giả đưa ra các mức độ KNQLCX của HS như sau: Từ mức 1 đến 1,80:  
Rất thấp; từ mức 1,81 đến 2,61: Thấp; từ mức 2,62 đến 3,42: Trung bình; từ mức 3,43 đến  
4.23: Cao; từ mức 4.24 đến 5.00: Rất cao. Dữ liệu phỏng vấn được xử lí bằng phần mềm  
ATLAS.ti 9.0 và trích dẫn vào các đoạn bình luận dùng cho việc phân tích.  
3.  
Kết quả nghiên cứu  
3.1. Mô tả khách thể nghiên cứu (xem Bảng 1)  
Bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, đảm bảo có đủ đại diện đến từ khu vực đô  
thị/bán đô thị và nông thôn, với 600 phiếu hỏi phát ra, chúng tôi thu về đủ 600 (100%).  
Qua quá trình xử lí bảng hỏi, có 474 phiếu đạt yêu cầu đảm bảo cung cấp dữ liệu nghiên  
cứu cho đề tài (tiêu chí: hoàn thành đầy đủ các thông tin trong bảng hỏi, chiếm 79%).  
1202  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Giang Thiên Vũ  
Bảng 1. Mô tả về khách thể nghiên cứu  
Thông tin chung  
Tần số  
Tỉ lệ (%)  
40,3  
Nam  
Nữ  
191  
273  
10  
57,6  
Giới tính  
Lớp  
Khác  
10  
2,1  
181  
38,2  
11  
149  
31,4  
12  
144  
336  
78  
30,4  
70,9  
16,5  
12,4  
0,2  
Kinh  
Hoa  
Dân tộc  
Khmer  
Khác  
Giỏi  
Khá  
59  
1
304  
155  
13  
64,1  
32,7  
2,7  
Học lực (năm  
học gần nhất)  
Trung bình  
Yếu  
2
0,4  
Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM)  
Cần Thơ  
191  
102  
62  
40,3  
21,5  
13,1  
25,1  
10,5  
22,2  
15,0  
52,3  
100  
Nơi sinh sống  
Đà Nẵng  
Sóc Trăng  
119  
50  
Truyền thống cách mạng  
Truyền thống nghề nghiệp  
Truyền thống tín ngưỡng – tôn giáo  
Không có/Không biết truyền thống của gia đình  
Tổng  
105  
71  
Truyền  
thống  
gia đình  
248  
474  
3.2. Kết quả và bình luận (xem Bảng 2, Bảng 3)  
Bảng 2. Thực trạng khả năng QLCX của HS THPT  
(1=hoàn toàn không đúng, 2=đúng một phần, 3=phân vân, 4=khá đúng, 5=rất đúng)  
Mức độ  
Thứ  
hạng  
Biểu hiện  
ĐTB ĐLC  
4,07 1,003  
3,88 1,064  
1
2
3
4
5
N
7
43  
51 180 193  
Có trách nhiệm với hành động của  
bản thân  
2
4
% 1,5 9,1 10,8 38,0 40,7  
10 52 84 167 161  
% 2,1 11,0 17,7 35,2 34,0  
23 64 95 165 127  
N
Thừa nhận sai lầm khi mắc phải và  
có hành động sửa lỗi tương ứng  
Điều chỉnh được suy nghĩ, hành  
động của bản thân tương ứng với  
những trải nghiệm cảm xúc khác  
nhau (tích cực và tiêu cực) và tình  
huống khác nhau  
N
3,65 1,151  
9
% 4,9 13,5 20,0 34,8 26,8  
1203  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 7 (2021): 1200-1212  
Cảm thông, cảm thấy tồi tệ khi  
người khác bị tổn thương về cảm  
xúc  
N
10 43  
% 2,1 9,1 10,5 31,6 46,6  
48 81 196 141  
% 1,7 10,1 17,1 41,4 29,7  
50 150 221  
4,11 1,055  
3,87 1,005  
3,78 1,089  
1
5
6
N
8
Nhận biết được cảm xúc của người  
khác  
Hiểu được hoặc cố gắng tìm hiểu N 14 63  
cảm xúc và suy nghĩ mà người khác  
72 190 135  
% 3,0 13,3 15,2 40,1 28,5  
23 67 81 151 152  
% 4,9 14,1 17,1 31,9 32,1  
42 63 152 208  
% 1,9 8,9 13,3 32,1 43,9  
12 63 103 163 133  
% 2,5 13,3 21,7 34,4 28,1  
Tổng  
trải qua  
N
Chờ đợi được những điều mà bản  
thân mong muốn  
3,72 1,191  
4,07 1,046  
7
2
7
N
9
Kiểm soát được nhu cầu cá nhân  
trong tình huống cụ thể  
N
Suy nghĩ trước khi hành động  
3,72 1,087  
3,87 1,076  
Từ kết quả khảo sát, có thể nhận thấy ĐTB chung của KNQLCX của HS THPT là 3,87,  
ứng với mức Cao. Kết quả này phản ánh VTN Việt Nam biết quản lí và điều chỉnh cảm xúc  
của mình ở mức cao, giúp cải thiện và cân bằng đời sống tinh thần của các em. Cụ thể:  
HS THPT thể hiện KNQLCX cao nhất ở biểu hiện “Cảm thông, cảm thấy tồi tệ khi  
người khác bị tổn thương về cảm xúc” với ĐTB = 4,11, ứng với mức Cao. Đây là một biểu  
hiện thuộc về sự đồng cảm - khả năng thấu hiểu cảm xúc của người khác, từ đó đưa ra cách  
ứng xử hợp lí – là biểu hiện của người có EQ cao (Nelson, & Low, 2011). Dữ liệu phỏng  
vấn từ HS cũng như GV, CBQL và CV TLHĐ cũng đưa ra những ý kiến tương đồng. HS  
P.Q.K (lớp 11) chia sẻ: “Mỗi lần em lỡ lời với bạn, nhìn bạn buồn, em rất tức giận bản thân  
mình. Đáng lí ra em không nên nói như vậy...”. Cô L.Q.C (GV, 16 năm) đánh giá: “Các thế  
hệ HS mà tôi đã dạy đều có khả năng đồng cảm tốt. Các em luôn biết đặt mình vào vị trí  
người khác để cảm nhận và chia sẻ. Có những lúc tôi buồn khi dạy mà các em không hiểu,  
các em luôn thể hiện sự cầu thị, thiện chí, thậm chí là an ủi và giữ trật tự để tôi có thể giảng  
giải lại.”. Thầy P.P.T (hiệu trưởng) nhận định rằng: “HS trường tôi đồng cảm rất tốt. Các  
chương trình thiện nguyện các em tham gia rất nhiệt tình và để lại nhiều cảm xúc đáng  
nhớ. Không chỉ vậy, những lúc các em chưa ngoan, các em thường làm giáo viên bị tổn  
thương, ngay cả chính tôi cũng từng bị các em làm tổn thương khi đứng lớp dạy. Nhưng  
sau đó, các em tự giác điều chỉnh và khắc phục.”. Về phía CV TLHĐ (B.T.K, 10 năm), dù  
rằng quan điểm có nét tương đồng với GV và CBQL, nhưng có vấn đề về cảm xúc của HS  
cần phải được lưu ý: “HS hiện nay có khả năng đồng cảm tốt. Nhưng tôi thật sự quan ngại  
trường hợp các em nhún nhường, cam chịu trong một mối quan hệ, luôn cảm thấy tiêu cực,  
tồi tệ khi làm người khác bị tổn thương, điều này phải chăng vô tình làm tổn thương chính  
các em ấy? Việc đồng cảm là tốt, nhưng đồng cảm quá thành ra mất đi bản sắc cá nhân và  
trở thành một người dễ bị tác động bởi cảm xúc của người khác. Tôi không bác bỏ ý kiến  
1204  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Giang Thiên Vũ  
việc chúng ta cảm thấy tồi tệ khi làm người khác bị tổn thương. Tôi chỉ giả định rằng tổn  
thương đó là tổn thương tích cực hay tiêu cực. Đôi khi đó lại là cơ hội để cá nhân đó trải  
nghiệm và trưởng thành.”. Như vậy, xét theo góc độ tâm lí học tham vấn, khi phân tích sâu  
về vấn đề cảm xúc và sự đồng cảm, nhất thiết phải đặt trong bối cảnh và đặc điểm của từng  
cá nhân để có các định hướng rõ ràng.  
Xếp thứ hai là biểu hiện “Kiểm soát được nhu cầu cá nhân trong tình huống cụ thể”  
với ĐTB = 4,07, ứng với mức Cao. Đây là một biểu hiện thuộc khía cạnh khả năng tự chủ  
trong QLCX của con người. Kết quả này cho thấy, HS Việt Nam có khả năng tự chủ cao  
trong các mối quan hệ, các em biết tôn trọng các giới hạn trong giao tiếp, cách ứng xử này  
là cách ứng xử rất thanh lịch và tinh tế của người Á Đông. So sánh với một nghiên cứu về  
khả năng tự chủ trong giao tiếp và QLCX của HS người khu vực Bắc Âu, Beattie và Ellis  
(2017) cho biết do xuất thân từ tộc người Vikings, các em có cái tôi rất cao cũng như tính  
vị kỉ cao, các em sẵn sàng xen ngang các cuộc giao tiếp, cũng như “tấn công” vào các cuộc  
giao tiếp kể cả khi đang bận rộn, cốt lõi chỉ để thỏa mãn nhu cầu giao tiếp cũng như thể  
hiện bản thân. Đây là một biểu hiện chịu sự chi phối nhiều của văn hóa giao tiếp tại các  
quốc gia, khu vực khác nhau. HS Q.Y.N (lớp 12) cho biết: “Em không thích làm phiền  
người khác khi họ đang bận. Điều này rất bất lịch sự và đôi lúc làm xấu hình ảnh của mình.  
Vì vậy em không cho phép em có những hành động không thanh lịch như thế.”. Cô  
N.T.N.M (GV, 7 năm) đánh giá về biểu hiện này ở học sinh trường mình: “Đây là một  
phép lịch sự trong giao tiếp. Các em HS đã được học và rèn từ bậc tiểu học. Không thể làm  
phiền người khác khi họ đang bận rộn, trừ những trường hợp cấp bách và bắt buộc phải  
liên hệ. Đôi khi HS của tôi vi phạm và ngay lập tức tôi nhắc nhở các em. Do đó, các em  
luôn thể hiện đúng quy tắc này”.  
Xếp đồng hạng 2 là biểu hiện “Có trách nhiệm với hành động của bản thân” với ĐTB  
= 4,07, ứng với mức Cao. Biểu hiện này thuộc về khả năng điều chỉnh cảm xúc của bản  
thân, nghĩa là các em HS có thể điều chỉnh cảm xúc của mình hợp lí thông qua việc thể  
hiện trách nhiệm cho hành động của mình trong các cuộc giao tiếp, các mối quan hệ. Trách  
nhiệm là một trong 5 phẩm chất cần có của HS (Ministry of Education and Training,  
2018). Vì vậy, việc các em có trách nhiệm về hành động của mình và từ đó điều chỉnh cảm  
xúc, hành động phù hợp là hợp lí, và đây là một thành tựu của giáo dục Việt Nam khi luôn  
đề cập tinh thần trách nhiệm trong học tập, trong lao động, vừa phát huy truyền thống quý  
báu của dân tộc, vừa tiếp thu và phát triển các giá trị phẩm chất mới của thời đại. HS P.Đ.L  
(lớp 10) nhận định: “Em luôn có trách nhiệm với hành động của mình. Không thể nói một  
đằng, làm một nẻo”. GV và CBQL khi được phỏng vấn về nội dung này cũng đồng quan  
điểm rằng giá trị trách nhiệm và thể hiện trách nhiệm đã được đưa vào giáo dục đạo đức  
nói riêng, giáo dục toàn trường nói chung từ bậc tiểu học.  
Xếp thứ 4 là biểu hiện “Thừa nhận sai lầm khi mắc phải và có hành động sửa lỗi  
tương ứng” với ĐTB = 3,88, ứng với mức cao. Biểu hiện này nằm trong khả năng điều  
1205  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 7 (2021): 1200-1212  
chỉnh cảm xúc, thể hiện cách ứng phó của HS trước những sai lầm, biến cố trong cuộc  
sống. Kết quả cho thấy, HS dễ dàng thừa nhận và chấp nhận những lỗi sai của mình và từ  
đó có thể đưa ra cách ứng xử phù hợp, cách QLCX phù hợp. Phân tích ở khía cạnh giáo  
dục học, HS có được biểu hiện hành vi ở mức cao là thành quả của quá trình học tập và rèn  
luyện đạo đức. Ngay từ bậc mẫu giáo, các em đã được học cách nhận lỗi và sửa lỗi, dần  
dần lớn lên theo thời gian, các bậc tiểu học và THCS luôn đề cập việc giáo dục cho HS biết  
thế nào là đúng, thế nào là sai và đưa ra cách ứng xử phù hợp, trong đó có nói lời xin lỗi và  
khắc phục sai lầm (Dinh, 2016). Dữ liệu phỏng vấn từ GV và CBQL cho phép rút ra kết  
luận tương tự. Cô N.T.C.H (GV, 9 năm) chia sẻ: “HS lớp tôi có khả năng điều chỉnh cảm  
xúc và hành vi rất tốt. Khi các em mắc lỗi sai, đôi lúc các em sẽ không nhận ra, các em cần  
được định hướng... Các em rất có trách nhiệm với sai sót của mình”. Thầy L.P.R (phó hiệu  
trưởng) cho biết: “Khi HS làm bẩn lớp học do đùa giỡn, các em luôn nhận thức được lỗi  
sai và thường dọn dẹp một cách tự nguyện sau đó. Kể cả khi làm rơi rác trong sân trường,  
bất kể khi được nhắc nhở hoặc không, các em đều tìm cách khắc phục phù hợp [quay lại  
nhặt và bỏ rác đúng nơi quy định]”. Tuy nhiên, ở góc độ tâm lí học, việc thừa nhận lỗi dễ  
dàng khi mắc sai lầm cần phải được phân tích sâu vì (1) có thể HS không có chính kiến, dễ  
bị dẫn dắt và thừa nhận lỗi sai dù không biết chắc lỗi đó là hợp lí hay không; và (2) HS  
không quan tâm, không tỏ thái độ với những sai lầm do đó dễ thừa nhận để cho qua dễ  
dàng. Dữ liệu phỏng vấn từ chính HS và CV TLHĐ cho tác giả minh chứng rõ nét về quan  
điểm này. HS T.T.D (lớp 10) bày tỏ: “Thật ra em không quan tâm lắm đến việc nhận lỗi và  
xin lỗi, đặc biệt là khi đụng chuyện với người lớn. Vốn dĩ họ coi mình nhỏ hơn họ, mình  
không biết nhiều bằng họ, họ nói mình sai mà mình phản ứng [cãi lại] thì dễ bị thiệt thòi  
lắm. Do đó em thường im lặng và xin lỗi cho xong chuyện. Còn khi bạn em mà bắt lỗi em  
một cách vô lí, em sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ quan điểm của mình”. Về phía cô N.T.H  
(CV TLHĐ, 7 năm) nhận định: “Nhiều HS bức xúc khi bị bắt lỗi oan chạy đến gặp tôi chia  
sẻ. Trông các em tội lắm. Các em bảo là lúc đó các em không biết phải làm gì, ai nói gì thì  
nghe theo thôi. Khi xong chuyện rồi mới chợt vỡ ra là mình đâu có lỗi mà phải nhận. Dù  
vấn đề được giải quyết nhanh chóng, nhưng người tổn thương sau đó lại là người không có  
đủ hiểu biết và chính kiến về vấn đề”. Như vậy, có thể nhận thấy việc điều chỉnh cảm xúc  
hiện nay bị áp đặt một cách khuôn khổ, các vấn đề cảm xúc đều bị lí trí hóa cũng là vấn đề  
cần xem xét thêm.  
Xếp hạng 5 là biểu hiện “Nhận biết được cảm xúc của người khác” với ĐTB = 3,87,  
ứng với mức cao. Biểu hiện này nằm trong khả năng đồng cảm, phản ánh việc HS biết đặt  
mình vào vị trí của người khác để hiểu cảm xúc của họ. Điều này không phải ai cũng có  
thể làm được, nếu họ không có sự tinh tế trong giao tiếp cảm xúc (Huynh, 2011). Tuy  
nhiên, dữ liệu từ phỏng vấn lại cho kết quả khá trái ngược và mang màu sắc cảm tính khi  
đề cập vấn đề cố gắng hiểu những gì người khác đã trải qua. HS N.L.Q.A (lớp 12) chia sẻ:  
“Tại sao phải cố gắng cảm xúc của người khác? Mình đâu có sống cuộc đời của họ dùm họ  
1206  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Giang Thiên Vũ  
đâu?”. HS D.T.T (lớp 10) lại có quan điểm trái ngược: “Khi nghe một câu chuyện, em luôn  
cố gắng hiểu cảm xúc mà người kể đã trải qua. Việc này khiến em có cái nhìn rõ nét hơn  
về câu chuyện của họ”. Cô H.T.T (GV, 10 năm) đồng quan điểm: “Tôi luôn dạy học trò  
phải biết đặt mình vào vị trí của người khác. Không bao giờ được chủ quan. Học trò tôi  
luôn nỗ lực để hiểu, để đặt mình vào người khác, hiểu cảm xúc của họ. Đôi lúc tôi còn thấy  
các em khóc nhiều hơn cả người bạn đang buồn kia”. Đề cập đến vấn đề này, thầy P.P.L  
(CV TLHĐ, 5 năm) phân tích: “Đồng cảm là tốt. Nên giáo dục HS về sự đồng cảm. Tuy  
nhiên, việc cố gắng hiểu cảm xúc của người khác đôi lúc không hợp lí trong những trường  
hợp HS đang có vấn đề SKTT, đặc biệt là rối loạn cảm xúc. Khi một người tiếp nhận quá  
nhiều cảm xúc tiêu cực, cũng như cố gắng hiểu người khác mà ngay chính bản thân mình  
còn không hiểu mình thì rất nguy hiểm. Do đó, để đảm bảo SKTT cho HS, cần phải hướng  
dẫn các em cách đặt mình vào vị trí người khác thích hợp, như là đứng ở vị trí của họ để  
nhìn nhận vấn đề, hiểu được họ đang có cảm xúc gì và lựa chọn cách ứng xử phù hợp.  
Đừng đặt nặng việc thấu hiểu cảm xúc và nhập tâm vào cảm xúc của người khác, vì khi đó  
chắc chắn các em sẽ bị chủ quan”. Đây là một nhận định hỗ trợ tác giả trong việc đề xuất  
biện pháp nâng cao khả năng đồng cảm hoặc phòng ngừa các vấn đề về QLCX của HS.  
Xếp hạng 6 là biểu hiện “Hiểu được hoặc cố gắng tìm hiểu cảm xúc và suy nghĩ mà người  
khác trải qua” với ĐTB = 3,78, ứng với mức cao. Biểu hiện này thuộc khả năng đồng cảm,  
phản ánh việc HS hiểu hoặc cố gắng tìm hiểu cảm xúc và suy nghĩ của người khác. Đây là  
một biểu hiện thuộc EQ và là mức độ vận dụng cao của người có EQ, vì khi đó họ không  
chỉ hiểu được cảm xúc của mình, mà còn nhận biết và hiểu cảm xúc của người khác, từ đó  
có những hành vi ứng xử phù hợp (Goleman, 2005). Tuy vậy, để thực hiện được điều này  
không phải dễ dàng, dù rằng nhiều HS có thể làm được, nhưng không có gì chắc chắn các  
em hiểu đúng. Dữ liệu phỏng vấn từ các nhóm khách thể minh chứng cho quan điểm này.  
HS T.Y.K (lớp 10) chia sẻ: “Hiểu thì hiểu đó, em biết người ta đang cảm thấy gì và nghĩ  
như nào luôn. Nhưng khi nói ra thì người ta chối, người ta bảo không đúng. Đôi lúc em  
không biết sự cố gắng của em là nên hay không nên”. Cô L.T.H (CV TLHĐ, 6 năm) chia  
sẻ: “HS rất nhạy với cảm xúc và suy nghĩ của người khác. Trừ những trường hợp họ quá  
giỏi che dấu thì mới không nhận ra. Tuy nhiên, các em thường bị chính việc đồng cảm này  
làm tổn thương. Khi mà những người mà các em quan tâm chối bỏ, phủ nhận sự cố gắng  
của các em. Đây là một rào cản trong giao tiếp mà chúng ta cần phải có giải pháp”. Một  
quan điểm khác từ thầy G.T.H (GV, 22 năm) nhận định: “HS hiện nay rất giỏi nhận biết  
cảm xúc của người khác, nhưng không giỏi nhận biết cảm xúc của mình. Tôi thấy điều này  
hơi vô lí nhưng nó là sự thật. Tôi tự hỏi liệu rằng việc cố gắng hiểu cảm xúc và suy nghĩ  
của người trong khi bản thân mình chưa làm được thì sự cố gắng đó, sự hiểu đó có ý nghĩa  
hay không?”. Những nhận định này giúp tác giả củng cố thêm một số nội dung quan trọng  
nhằm xây dựng nội dung phù hợp hỗ trợ nâng cao KNQLCX cho HS.  
1207  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 7 (2021): 1200-1212  
Xếp đồng hạng 7 là hai biểu hiện thuộc nhóm tự chủ “Chờ đợi được những điều mà bản thân  
mong muốn” và “Suy nghĩ trước khi hành động” với ĐTB = 3,72, ứng với mức Cao. Hai biểu  
hiện này thể hiện trong việc HS sẵn sàng chờ đợi những gì các em muốn và các em luôn suy  
nghĩ trước khi hành động. Đây là những biểu hiện thể hiện các em là người biết cách QLCX  
của mình rất hiệu quả thông qua cách thức điều khiển và điều chỉnh hành vi phù hợp. Một  
người không có khả năng tự chủ sẽ không thể nhẫn nại và luôn nhanh nhảu trong việc hành  
động, không nghĩ đến hậu quả. Dữ liệu từ các cuộc phỏng vấn mô tả một cách khái quát về  
vấn đề này. HS L.D.A (lớp 10) giãi bày rằng: “Trước khi làm gì đó em luôn suy nghĩ. Muốn  
nói gì em cũng phải suy nghĩ một hồi mới nói”. HS L.Q.K (lớp 11) chia sẻ: “Em không phải  
là một người có tính kiên nhẫn. Tuy nhiên khi em thích, em có hứng thú với thứ gì đó, em sẵn  
sàng chờ đợi nó”. Cô P.T.D (GV, 14 năm) cho hay: “HS của tôi rất kiên trì. Những lúc tôi cho  
lớp thuyết trình, dù một số em bị run khi nói, hoặc quên bài, cả lớp đều cố gắng giữ trật tự,  
không xen ngang để bạn lấy lại bình tĩnh và trình bày tiếp”. Cô P.K.D (CV TLHĐ, 4 năm)  
cho biết: “Khả năng tự chủ phụ thuộc rất nhiều vào tính cách và hứng thú của HS. Khi các em  
đã muốn đợi, các em sẽ đợi. Với vai trò là người tư vấn tâm lí cho các em, tôi luôn định  
hướng cách làm chủ cảm xúc, trước hết phải làm chủ được hứng thú và nhu cầu của bản thân,  
không để hai thứ này vượt qua sự kiểm soát. Nếu không, các em sẽ có những bột phát cảm  
xúc mang tính gây hấn, làm tổn thương chính mình và người khác”. Như vậy, HS sẽ gặp nguy  
cơ nếu vấn đề mà các em đối diện tác động đến hứng thú và nhu cầu, khiến các em mất kiểm  
soát hành động và cảm xúc của mình. Đây là một nội dung phòng ngừa quan trọng để hỗ trợ  
HS phát triển khả năng QLCX của mình.  
Xếp thứ hạng cuối cùng là biểu hiện “Điều chỉnh được suy nghĩ, hành động của bản  
thân tương ứng với những trải nghiệm cảm xúc khác nhau (tích cực và tiêu cực) và tình  
huống khác nhau” với ĐTB = 3,65, ứng với mức cao. Biểu hiện này thuộc nhóm khả năng  
điều chỉnh cảm xúc, cho thấy khách thể có khả năng ứng phó với những cảm xúc tiêu cực  
ở mức tốt, đồng thời biết điều chỉnh suy nghĩ, hành động của mình tương ứng với cảm xúc  
của bản thân. Tuy nhiên, dữ liệu phỏng vấn lại đặt ra một số vấn đề đối ngược. Một tình  
huống giả định về sự kiện HS sẽ ứng xử như thế nào nếu bị từ chối trong cuộc sống được  
sử dụng khi phỏng vấn để làm sáng tỏ. HS D.M.M (lớp 12) chia sẻ: “Khi bị người khác từ  
chối, bên ngoài em có thể tỏ vẻ em ổn, nhưng tối về em day dứt lắm. Cảm giác rất khó  
chịu, nhất là khi em bị người thương từ chối tình cảm”. HS L.P.Q (lớp 11) đồng quan  
điểm: “Cách ứng phó của em khi bị từ chối là bỏ chạy thật nhanh khỏi vấn đề đó. Nếu đối  
mặt thì chắc chắn em sẽ bị tổn thương”. HS L.T.D (lớp 11) giãi bày: “Khi bị từ chối, em  
không biết làm gì ngoài việc khóc. Em khóc rất nhiều. Em cho rằng đây là cách ứng phó  
hiệu quả, vì khi mình buồn mà mình khóc được là điều tốt mà”. Về phía GV, thầy N.Q.K  
(GV, 12 năm) trình bày: “HS ứng phó khá tốt với việc bị từ chối, nhất là khi các em nhận  
được điểm kiểm tra. Nhiều HS khi nhận bài điểm kém lúc đầu thì không ý kiến, các em  
dửng dưng. Rồi sau tiết học lại dùng những từ không hay nói về tôi. Vì vậy tôi không đánh  
1208  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Giang Thiên Vũ  
giá cao khả năng ứng phó của HS, rất cảm tính.”. Nhận định về vấn đề này, cô P.T.B.P  
(CV TLHĐ, 7 năm) phân tích: “HS có cách ứng phó tốt với việc bị từ chối, nhưng các em  
không hiểu được rằng cách ứng phó của các em là ứng phó tiêu cực. Vấn đề sẽ không được  
giải quyết và các em là người bị tổn thương. Im lặng, rời bỏ và cam chịu là những cách  
ứng phó sẽ dồn nén cảm xúc tiêu cực, và có nguy cơ bùng phát bất cứ lúc nào mà chúng ta  
không biết. Tôi đã tham vấn nhiều trường hợp bị quá tải cảm xúc khi lúc nào cũng im lặng,  
không chịu lên tiếng nói để xử lí vấn đề, nhất là những vấn đề về chia li, từ chối, bỏ mặc”.  
Một cách khách quan có thể thấy, dù HS ứng phó với việc bị từ chối ở mức cao, các em có  
sự đồng cảm tốt, nhưng chỉ là bề mặt, các em chưa thật hiểu rõ về bản chất của ứng phó  
với sự từ chối cũng như biết cách điều chỉnh suy nghĩ, hành động phù hợp với những trải  
nghiệm về cảm xúc của mình. Đây là nguyên nhân làm nảy sinh rất nhiều vấn đề tâm lí  
xoay quanh cảm xúc và áp lực của lứa tuổi VTN hiện nay. Do đó, biện pháp hướng dẫn  
cách điều chỉnh suy nghĩ và hành vi phù hợp với trạng thái cảm xúc để không làm bản thân  
bị tổn thương là cần thiết để định hướng HS phát triển KNQLCX của mình.  
Với thực trạng này, dù đạt mức cao, nhưng KNQLCX của khách thể vẫn còn các hạn chế:  
sai về thao tác QLCX (thao tác điều chỉnh cảm xúc), cách quản lí hiện tại chủ yếu học từ  
kinh nghiệm của người khác mà thiếu đi sự cân xét và rút kinh nghiệm cho bản thân.  
Những hạn chế này là cơ sở quan trọng để chúng tôi đề xuất, thiết kế biện pháp rèn luyện,  
nâng cao KNQLCX của HS.  
Bảng 3. Kiểm định sự khác biệt giới tính, khối lớp, dân tộc, học lực, nơi sinh sống  
và truyền thống gia đình về KNQLCX của HS THPT  
Sig.(Anova)  
Các biến số kiểm định  
Nam  
Nữ  
Khác  
10  
11  
12  
Kinh  
Hoa  
Khmer  
Khác  
Giới tính  
Khối lớp  
0,110  
0,173  
0,415  
Dân tộc  
Học lực  
Giỏi  
Khá  
Trung bình  
0,068  
0,029  
0,206  
Yếu  
TPHCM  
Cần Thơ  
Đà Nẵng  
Sóc Trăng  
Nơi sinh sống  
Truyền thống cách mạng  
Truyền thống nghề nghiệp  
Truyền thống tín ngưỡng – tôn giáo  
Truyền thống  
gia đình  
Không có/Không biết về truyền thống của gia đình  
1209  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 7 (2021): 1200-1212  
Kết quả kiểm định Anova ở Bảng 3 cho thấy, không có sự khác biệt ý nghĩa thống kê  
về KNQLCX ở các biến giới tính, khối lớp, dân tộc, học lực và truyền thống gia đình (chỉ  
số sig. đều lớn hơn 0,05). Riêng biến nơi sinh sống, với p = 0,029 (<0,05) cho thấy có sự  
khác biệt giữa HS sống ở 4 khu vực TPHCM, Cần Thơ, Đà Nẵng và Sóc Trăng trong  
KNQLCX. HS sống ở khu vực TPHCM sẽ có cách QLCX khác so với Cần Thơ, Đà Nẵng,  
Sóc Trăng và ngược lại. Có thể lí giải cho sự khác biệt này bắt nguồn từ sự khác biệt về  
tính chất của sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa của 4 khu vực trên, từ đó, tác động đến  
đời sống tinh thần, trong đó có KNQLCX.  
Với kết quả trên, có thể đề xuất ba biện pháp để củng cố và nâng cao KNQLCX cho  
HS THPT: (1) Tư vấn/Tham vấn tâm lí cá nhân tập trung vào giải quyết các vấn đề SKTT  
gặp phải liên quan đến QLCX (đặc biệt là cách thức HS xử lí những cảm xúc tiêu cực của  
mình); (2) Huấn luyện/Đào tạo các kĩ năng CXXH lồng ghép trong nội dung môn học hoặc  
trong hoạt động giáo dục ngoài lớp học để định hướng cho HS cách rèn luyện và củng cố  
khả năng điều chỉnh cảm xúc (đề xuất: kĩ năng QLCX; kĩ năng giải tỏa áp lực, căng thẳng;  
kĩ năng vượt qua cơn tức giận; kĩ năng chăm sóc cảm xúc bản thân; kĩ năng thể hiện sự  
cảm thông…); (3) Tổ chức các chuyên đề sân cờ, góc thông tin, bài viết mạng xã hội để  
truyền thông về vấn đề hiểu và xử lí cảm xúc tiêu cực đúng cách, tầm quan trọng của việc  
điều chỉnh và chăm sóc cảm xúc bản thân. Đây cũng là cơ sở để tiến hành thực nghiệm  
phát triển SEC dưới góc nhìn SKTT theo định hướng ở các nghiên cứu tiếp theo.  
4.  
Kết luận  
Kết quả nghiên cứu cho thấy VTN có KNQLCX ở mức cao, tuy nhiên, khả năng này  
hiện tại có vấn đề, bị sai về thao tác quản lí, điều chỉnh cảm xúc. Đây là nguyên nhân dẫn  
đến việc VTN chỉ quản lí được bề nổi của cảm xúc. Những nguy cơ ẩn bên trong cảm xúc  
chưa được điều tiết và điều chỉnh hợp lí. Hơn nữa, cơ sở đề xuất biện pháp cải thiện  
KNQLCX cũng như xây dựng chương trình phòng ngừa phải căn cứ dựa theo khu vực sinh  
sống của HS, cũng như đặt trong mối tương quan nâng đỡ với các thành tố còn lại trong  
mô hình SEH. Ngoài ra, các biện pháp phải tập trung hướng dẫn HS các thao tác cơ bản để  
QLCX hiệu quả, đặc biệt ở thao tác xoa dịu và thể hiện cảm xúc thích hợp. Từ đây, có thể  
đề xuất 3 biện pháp tập trung vào củng cố khả năng điều chỉnh cảm xúc, thấu hiểu và xử lí  
các cảm xúc tiêu cực đúng cách, hướng đến sự cân bằng và hạnh phúc cho mỗi cá nhân  
VTN. Các phát hiện này là nền tảng để xây dựng các chương trình phòng ngừa TLHĐ  
cũng như là dữ liệu để kế thừa trong các nghiên cứu thực nghiệm phát triển SEC dưới góc  
nhìn SKTT, hoặc SEH tại Việt Nam.  
1210  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Giang Thiên Vũ  
Tuyên bố về quyền lợi: Tác giả xác nhận hoàn toàn không có xung đột về quyền lợi.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Beattie, G., & Ellis, A. W. (2017). The psychology of language and communication. Taylor &  
Francis.  
Dinh, T. T. H. (2016). Moral education for high school students in Hai Duong province (Master  
thesis). Hanoi National University.  
Furlong, M. J., Dowdy, E., & Nylund-Gibson, K. (2018). Social Emotional Health Survey-  
Secondary— 2015 edition. University of California Santa Barbara, International Center for  
School Based Youth Development.  
Furlong, M. J., Nylund-Gibson, K., Dowdy, E., Wagle, R., Hinton, T., & Carter, D. (2020).  
Modification and standardization of Social Emotional Health Survey-Secondary-2020  
edition. University of California Santa Barbara, International Center for School Based Youth  
Development.  
Goleman, D. (2005). Emotional intelligence. Bantam.  
Huynh, V. S. (2011b). Giao trinh Tam li hoc giao tiep [Communication in Psychology Textbook].  
Ho Chi Minh City University of Education Publisher.  
Ministry of Education and Training (2018). Thong tu 32/2018/TT-BGDDT ban hanh Chuong trinh  
giao duc pho thong moi [Circular 32/2018/TT-BGDDT on Promulgating the New General  
Educational Program]. Vietnamese Government Publishing House.  
Morse, J. M. (2016). Mixed method design: Principles and procedures (Vol. 4). Routledge.  
Nelson, D. B., & Low, G. R. (2011). Emotional intelligence. Prentice Hall.  
Weare, K. (2010). Mental health and social and emotional learning: Evidence, principles, tensions,  
balances. Advances in school mental health promotion, 3(1), 5-17.  
You, S., Furlong, M., Felix, E., & O'Malley, M. (2015). Validation of the Social and Emotional  
Health Survey for five sociocultural groups: Multigroup invariance and latent mean  
analyses. Psychology in the Schools, 52(4), 349-362.  
1211  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 7 (2021): 1200-1212  
THE SITUATION OF EMOTIONAL COMPETENCE OF VIETNAMESE ADOLESCENTS  
ACCESSED FROM THE SOCIAL AND EMOTIONAL HEALH APPROACH  
Giang Thien Vu  
Ho Chi Minh City University of Education, Vietnam  
Corresponding author: Giang Thien Vu – Email: [email protected]  
Received: May 20, 2021; Revised: July 15, 2021; Accepted: July 21, 2021  
ABSTRACT  
Social-emotional health is an approach from the mental health perspective of social and  
emotional competence. This article reports on the Vietnamese adolescents’ emotional competence,  
one of the four components of the social-emotional competence model from the mental health  
perspective. The result from the questionnaire shows that the emotional competence of Vietnamese  
adolescents is fairly high (M = 3.87). However, the qualitative data from interviews reveal that the  
adolescents’ emotional competence is still limited, in particularinappropriate ways of managing  
and adjusting negative emotions and ways to express themselves primarily learning from the  
experiences of others, not from recognizing and understanding one’s own emotions. Based on the  
findings, it is suggested that instructional content should be offered to improve the emotional  
competence andovercome the reported limitations and other negative influences on the  
development of social and emotional competence from the mental health perspective approach  
Keywords: emotional competence; mental health; social and emotional competence; social  
and emotional health; Vietnamese adolescents  
1212  
pdf 13 trang Thùy Anh 21920 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng khả năng quản lí cảm xúc của người vị thành niên Việt Nam tiếp cận từ góc độ sức khỏe cảm xúc – xã hội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_kha_nang_quan_li_cam_xuc_cua_nguoi_vi_thanh_nien.pdf