Giáo trình Kinh tế chính trị Mác-Lênin - Ngô Thị Thùy Dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG  
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ  
BÀI GIẢNG  
MÔN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN  
(Dành cho bậc Đại học - không chuyên lý luận chính  
trị)  
Biên soạn: Th.S Ngô Thị Thùy Dung  
Quảng Ngãi, tháng 5 năm 2021  
1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
Kinh tế chính trị  
KTCT:  
PTSX:  
TBCN:  
CNTB:  
CNXH:  
XHCN:  
LLSX:  
QHSX:  
SXHH:  
GTTD:  
CNH:  
Phương thức sản xuất  
Tư bản chủ nghĩa  
Chủ nghĩa tư bản  
Chủ nghĩa xã hội  
Xã hội chủ nghĩa  
Lực lượng sản xuất  
Quan hệ sản xuất  
Sản xuất hàng hóa  
Giá trị thặng dư  
Công nghiệp hóa  
Hiện đại hóa  
HĐH:  
KTTT:  
Kinh tế thị trường  
2
Chương 1  
ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CHỨC NĂNG CỦA  
KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN  
A. Mục tiêu  
1. Về kiến thức:  
- Nắm được lịch sử ra đời và phát triển của KTCT Mác – Lênin.  
- Nắm được đối tượng, phương pháp nghiên cứu và chức năng của KTCT Mác –  
Lênin.  
- Hiểu được sự cần thiết của việc học tập KTCT Mác – Lênin.  
2. Về kĩ năng:  
- Giải thích được xu hướng ra đời những dòng lý thuyết KTCT nằm trong dòng chảy  
phát triển tư tưởng kinh tế của nhân loại.  
- Có năng lực thu thập thông tin, kỹ năng tổng hợp, hệ thống hóa các vấn đề nghiên  
cứu.  
- Sử dụng được các phương pháp nghiên cứu như: trừu tượng hóa khoa học, logic  
kết hợp với lịch sử,… để nắm được bản chất của vấn đề từ đó giải quyết các vấn đề thực  
tiễn đang đặt ra trong quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam hiện nay.  
3. Mức độ tự chủ và trách nhiệm:  
- Có ý thức đúng đắn và thái độ tích cực với việc học tập môn Kinh tế chính trị Mác  
– Lênin.  
- Có ý thức bảo vệ, phổ biến những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và đấu  
tranh chống những quan điểm sai trái.  
B. Nội dung  
1. Khái quát sự hình thành và phát triển của kinh tế chính trị Mác – Lênin  
1.1. Sơ lược về sự hình thành và phát triển tư tưởng kinh tế của loài người  
Giai đoạn thứ nhất, từ thời cổ đại đến cuối thế kỷ XVIII  
+ Tư tưởng kinh tế thời kỳ cổ, trung đại: từ thời cổ đại đến thế kỷ XV.  
Sự xuất hiện của tư tưởng kinh tế thời cổ, trung đại gắn liền với phân công lao động  
lần thứ nhất: chăn nuôi tách ra khỏi trồng trọt.  
Trong các công trình nghiên cứu của những nhà bác học thời cổ đại như Xenophon  
(430-345 tr.CN), Platon (427-347 tr.CN), Aristotle (384-322 tr.CN) và trong một số tác  
phẩm của những nhà tư tưởng thời phong kiến ở Trung Quốc, Ấn Độ,… đã đề cập đến  
những vấn đề kinh tế. Tuy nhiên, do trình độ phát triển khách quan còn lạc hậu của các  
nền sản xuất nên nhìn chung, chưa tạo được những tiền đề cho sự xuất hiện mang tính  
chất chín muồi các lý luận chuyên về kinh tế. Trong thời kỳ này chỉ xuất hiện số ít tư  
3
tưởng kinh tế mà không phải là những hệ thống lý thuyết kinh tế hoàn chỉnh với nghĩa  
bao hàm các phạm trù, khái niệm khoa học.  
Tư tưởng kinh tế thời kỳ cổ đại coi chế độ chiếm hữu nô lệ là hợp lý, đánh giá cao  
vai trò của kinh tế tự nhiên.  
Tư tưởng kinh tế thời kỳ trung đại gắn liền với chế độ phong kiến bảo vệ kinh tế tự  
nhiên, chủ yếu thông qua các bộ luật chịu ảnh hưởng của thần học.  
+ Chủ nghĩa trọng thương: từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XVII.  
Chủ nghĩa trọng thương là hình thái đầu tiên của hệ tư tưởng tư sản trong lĩnh vực  
KTCT, xuất hiện trong giai đoạn tan rã của chế độ phong kiến và đây là thời kỳ tích lũy  
nguyên thủy tư bản. Đây là học thuyết kinh tế đầu tiên về PTSX TBCN.  
Đây cũng là thời kỳ Chủ nghĩa duy vật đấu tranh chống Chủ nghĩa duy tâm, kinh tế  
hàng hóa và khoa học tự nhiên phát triển mạnh. Đặc biệt là những phát kiến địa lý cuối  
thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI, việc tìm ra châu Mỹ, đường biển qua châu Phi, từ châu Âu  
sang Ấn Độ,… đã tạo điều kiện cho ngoại thương phát triển.  
Về mặt thuật ngữ, thuật ngữ KTCT (political economy) được xuất hiện vào đầu thế  
kỷ thứ XVII trong tác phẩm “Chuyên luận về KTCT” (1615) của Antoni Montchrestien  
(1575-1621).  
Đại biểu điển hình: Thomas Mun (Anh, 1571-1641), Antoni Montchrestien (Pháp,  
1575-1621).  
Đối tượng nghiên cứu: lĩnh vực lưu thông.  
Đặc điểm và những quan điểm kinh tế chủ yếu chủ nghĩa trọng thương:  
Thứ nhất, đánh giá cao vai trò của tiền tệ, coi tiền tệ là tiêu chuẩn cơ bản của  
của cải, nhà nước càng nhiều tiền thì càng giàu. Hàng hóa chỉ là phương tiện tăng khối  
lượng tiền tệ.  
Thứ hai, để có thể tích lũy được tiền tệ phải thông qua hoạt động thương mại,  
mà trước hết là ngoại thương.  
Thứ ba, lợi nhuận do lĩnh vực lưu thông buôn bán, trao đổi sinh ra. Nó là kết  
quả của việc mua ít bán nhiều, mua rẻ bán đắt mà có.  
Thứ tư, tích lũy tiền tệ chỉ thực hiện được dưới sự giúp đỡ của nhà nước.  
Thứ năm, hệ thống quan điểm của chủ nghĩa trọng thương còn kém về tính lý  
luận, chưa biết đến quy luật kinh tế. Những đề xuất trong chính sách của họ thiên về tổng  
kết kinh nghiệm thực tiễn.  
Hạn chế: chưa biết đến quy luật kinh tế; phương pháp nghiên cứu là sự khái quát có  
tính chất kinh nghiệm những hiện tượng bề ngoài của đời sống kinh tế xã hội, họ chỉ mới  
đứng trên lĩnh vực lưu thông, trao đổi để xem xét những biện pháp của tích lũy tư bản.  
4
+ Chủ nghĩa trọng nông: từ giữa thế kỷ XVII đến nữa đầu thế kỷ XVIII.  
Chủ nghĩa trọng nông xuất hiện chủ yếu ở Pháp do hoàn cảnh kinh tế đặc biệt của  
Pháp lúc bấy giờ là sự đình đốn của nền nông nghiệp.  
Trong bối cảnh đó, chủ nghĩa trọng nông ra đời nhằm giải phóng kinh tế nông  
nghiệp nước Pháp khỏi QHSX phong kiến, phát triển nông nghiệp theo kiểu TBCN.  
Đại biểu tiêu biểu: Francois Quesnay (Pháp, 1694-1774), Anne Robert Jacques  
Turgot (Pháp, 1727-1771)  
Đối tượng nghiên cứu: lĩnh vực sản xuất.  
Đặc điểm và những quan điểm kinh tế chủ yếu chủ nghĩa trọng nông:  
Thứ nhất, tìm ra nguồn gốc của của cải và sự giàu có của xã hội từ lĩnh vực sản  
xuất.  
Thứ hai, coi lĩnh vực sản xuất nông nghiệp là lĩnh vực duy nhất tạo ra của cải.  
Xem giá trị hàng hóa có trước khi đem trao đổi, còn lưu thông và trao đổi không tạo ra giá  
trị.  
Thứ ba, sản phẩm thuần túy chỉ được tạo ra trong lĩnh vực sản xuất nông  
nghiệp, còn công nghiệp không sản xuất ra sản phẩm thuần túy. Sản phẩm thuần túy (sản  
phẩm thặng dư) là số chênh lệch giữa tổng sản phẩm và chi phí sản xuất.  
Thứ tư, ủng hộ tự do kinh tế.  
Thứ năm, đặt nền móng cho việc nghiên cứu tái sản xuất xã hội thông qua quan  
điểm về “Biểu kinh tế”.  
Hạn chế: chưa thấy vai trò quan trọng của nông nghiệp; chưa thấy mối quan hệ giữa  
sản xuất và lưu thông; chưa phân tích được các khái niệm cơ sở như hàng hóa, giá trị, tiền  
tệ, lợi nhuận.  
+ KTCT tư sản cổ điển Anh: từ giữa thế kỷ thứ XVII đến cuối thế kỷ XVIII.  
Vào thời kỳ này, sau khi tích lũy được khối lượng tiền tệ lớn, giai cấp tư sản tập  
trung phát triển lĩnh vực sản xuất. Các công trường thủ công trong lĩnh vực sản xuất công  
nghiệp và nông nghiệp phát triển mạnh mẽ. Nhiều vấn đề kinh tế của CNTB đặt ra vượt  
quá giải thích của chủ nghĩa trọng thương, đòi hỏi phải có lý luận mới =>KTCT tư sản cổ  
điển đã ra đời và phát triển mạnh ở Anh và Pháp.  
Đại biểu tiêu biểu:  
William Petty (Anh, 1623-1687) – người sáng lập ra KTCT tư sản cổ điển Anh.  
Đặt nền tảng lý luận lao động.  
Adam Smith (Anh, 1723-1790) – nhà kinh tế của thời kỳ công trường thủ công.  
Đặt cơ sở lý luận kinh tế thị trường.  
5
David Ricardo (Anh, 1772-2823) – nhà kinh tế của thời kỳ đại công nghiệp cơ  
khí của CNTB, đỉnh cao lý luận của KTCT tư sản cổ điển Anh. Kế thừa phát triển yếu tố  
khoa học của KTCT.  
Đối tượng nghiên cứu: quá trình sản xuất, quy luật phân phối sản phẩm xã hội.  
Phương pháp nghiên cứu: trừu tượng hóa.  
Đặc điểm và những quan điểm kinh tế chủ yếu:  
Thứ nhất, đã phát triển một cách toàn diện các vấn đề lý luận kinh tế của trường  
phái cổ điển. Đặc biệt là lý thuyết giá trị - lao động được xây dựng một cách hoàn thiện  
hơn cả về chất, lượng và cơ cấu giá trị của hàng hóa.  
Thứ hai, các nhà nghiên cứu này đã áp dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa  
học để nghiên cứu các hiện tượng và quá trình kinh tế để vạch ra bản chất của quan hệ sản  
xuất TBCN.  
Thứ ba, đã xây dựng được hệ thống các phạm trù và quy luật kinh tế của xã hội  
tư bản: giá trị, giá cả, tiền tệ, tư bản, lợi nhuận, lợi tức, địa tô, tiền lương, tái sản xuất xã  
hội.  
Thứ tư, ủng hộ tự do cạnh tranh theo cơ chế thị trường tự điều chỉnh.  
Hạn chế: coi quy luật kinh tế của CNTB là quy luật tự nhiên, tuyệt đối, vĩnh viễn.  
Thiếu phương pháp duy vật lịch sử. Không hiểu được tính chất hai mặt của lao động sản  
xuất hàng hóa. Giới hạn về lịch sử và lợi ích giai cấp.  
Giai đoạn thứ hai, từ sau thế kỷ thứ XVIII đến nay  
- Dòng lý thuyết KTCT Mác - Lênin: từ giữa thế kỷ XIX đến nay.  
KTCT Mác – Lênin kế thừa phát triển những thành tựu của KTCT tư sản cổ điển  
Anh, áp dụng những phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử vào nghiên cứu,  
đưa KTCT trở thành một môn khoa học thật sự.  
C.Mác xây dựng hệ thống lý luận KTCT một cách khoa học, toàn diện về nền sản  
xuất TBCN, tìm ra những quy luật chi phối sự hình thành, phát triển và luận chứng vai trò  
lịch sử của PTSX TBCN.  
Tác phẩm tiêu biểu: Bộ Tư bản.  
Sau khi C.Mác qua đời, Lênin tiếp tục kế thừa, bổ sung, phát triển lý luận KTCT  
theo phương pháp luận của C.Mác và có nhiều đóng góp đặc biệt quan trọng.  
Sau khi Lênin qua đời, các nhà nghiên cứu kinh tế của các Đảng Cộng Sản tiếp tục  
nghiên cứu và bổ sung, phát triển KTCT Mác – Lênin cho đến ngày nay.  
- Dòng lý thuyết kinh tế kế thừa những luận điểm mang tính khái quát tâm lý, hành  
vi của KTCT tư sản cổ điển Anh (những nhà kinh tế chính trị tầm thường): từ thế kỷ XIX  
đến nay.  
6
Đầu thế kỷ XIX, khi cuộc cách mạng công nghiệp đã hoàn thành, mâu thuẫn kinh tế  
và giai cấp của CNTB đã bộc lộ rõ nét: năm 1825 mở đầu cho các cuộc khủng hoảng kinh  
tế có chu kỳ, phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản ngày càng lớn mạnh đe dọa sự tồn  
tại của CNTB. Vì vậy các nhà KTCT tư sản tầm thường xuất hiện nhằm bảo vệ lợi ích  
cho giai cấp tư sản, lợi dụng những yếu tố tầm thường để biện hộ cho CNTB.  
Đại biểu: Tomas Robert Mathus (Anh, 1766-1834), Jean Baptiste Say (Pháp, 1767-  
1823).  
- Dòng lý thuyết phê phán những khuyết tật của CNTB  
+ Một số lý thuyết của các nhà tư tưởng XHCN không tưởng: thế kỷ XV đến  
XIX. (Thomas Moore, Robert Owen, Simon).  
+ KTCT tiểu tư sản: cuối thế kỷ XIX (Sismondi, Proudon).  
Nhìn chung các quan điểm này dựa trên cơ sở tình cảm cá nhân, chịu ảnh hưởng của  
chủ nghĩa nhân đạo, không chỉ ra được quy luật kinh tế cơ bản của nền KTTT TBCN và  
do đó không luận chứng được vai trò lịch sử của CNTB trong quá trình phát triển của  
nhân loại.  
=> KTCT là một môn khoa học kinh tế có mục đích nghiên cứu là tìm ra các quy  
luật chi phối sự vận động của các hiện tượng và quá trình hoạt động kinh tế của con người  
tương ứng với những trình độ phát triển nhất định của xã hội.  
1.2. Sự hình thành và phát triển KTCT Mác - Lênin  
Những năm 40 của thế kỷ XIX, quan hệ sản xuất TBCN đã được xác lập hoàn toàn  
trên các nước Tây Âu, những mâu thuẫn vốn có của CNTB ngày càng gay gắt đặc biệt là  
mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản.  
Phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản chống chế độ áp bức bóc lột của giai cấp tư  
sản ngày càng cao và chuyển từ tự phát sang tự giác, từ đấu tranh kinh tế đến đấu tranh  
chính trị. Thực tiễn đó đòi hỏi phải có lý luận cách mạng làm vũ khí tư tưởng cho giai cấp  
vô sản – Chủ nghĩa Mác ra đời.  
Đại biểu điển hình: Karl Marx - C.Mác (Đức, 1818-1883), Friedrich Engels –  
Ph.Ăngghen (Đức, 1820-1895), Vladimir Ilyich Lenin – V.I.Lênin (Nga, 1870-1924).  
Sự phát triển của KTCT Mác – Lênin trải qua hai giai đoạn:  
C.Mác và Ph. Ăngghen sáng lập ra chủ nghĩa Mác nói chung và học thuyết  
kinh tế chính trị của Mác nói riêng  
C.Mác và Ăngghen đã xây dựng hệ thống KTCT một cách khoa học, toàn diện về  
nền sản xuất TBCN, tìm ra những quy luật chi phối sự hình thành, phát triển và luận  
chứng vai trò lịch sử của PTSX TBCN.  
7
Lý luận KTCT của C.Mác và Ăngghen được thể hiện tập trung và cô đọng nhất  
trong bộ Tư bản. Tác phẩm này đã trình bày một cách khoa học và chỉnh thể các phạm trù  
cơ bản của nền kinh tế TBCN.  
Các lý luận kinh tế của C.Mác được khái quát thành các học thuyết kinh tế lớn như:  
học thuyết giá trị, học thuyết giá trị thặng dư, học thuyết tích lũy, học thuyết về lợi nhuận,  
học thuyết về địa tô,…  
KTCT do Mác và Ăngghen sáng lập ra đã vạch rõ sự phát sinh, phát triển của CNTB  
với những tiến bộ, hạn chế, mâu thuẫn của nó và luận chứng khoa học về CNTB tất yếu  
sẽ bị thay thế bởi một phương thức sản xuất mới, cao hơn và tiến bộ hơn, đó là PTSX  
Cộng sản chủ nghĩa.  
Lênin bảo vệ và phát triển học thuyết KTCT C.Mác  
Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong điều kiện lịch sử mới, Lênin đã tiếp tục  
kế thừa, bổ sung phát triển lý luận KTCT theo phương pháp luận của C.Mác và có nhiều  
đóng góp khoa học quan trọng. Nổi bật là nghiên cứu chỉ ra đặc điểm kinh tế của CNTB  
giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, những vấn đề KTCT cơ bản của thời kỳ quá độ  
lên CNXH.  
Sau khi Lênin qua đời, các nhà nghiên cứu kinh tế của các Đảng Cộng sản tiếp tục  
nghiên cứu và bổ sung, phát triển KTCT Mác - Lênin cho đến ngày nay.  
Như vậy KTCT Mác - Lênin là một trong những dòng lý thuyết KTCT nằm trong  
dòng chảy phát triển tư tưởng kinh tế của nhân loại, được hình thành và đặt nền móng bởi  
C.Mác và Ăngghen, được Lênin kế thừa và phát triển. Đây là một môn khoa học trong hệ  
thống các môn khoa học kinh tế của nhân loại.  
2. Đối tượng, mục đích và phương pháp nghiên cứu của KTCT Mác - Lênin  
2.1. Đối tượng nghiên cứu của KTCT Mác - Lênin  
Là các quan hệ xã hội của sản xuất và trao đổi, các quan hệ này được đặt trong sự  
liên hệ biện chứng với trình độ phát triển của LLSX và kiến trúc thượng tầng tương ứng  
của PTSX nhất định.  
2.2. Mục đích nghiên cứu  
Để tìm ra những quy luật kinh tế chi phối sự vận động và phát triển của PTSX.  
2.3. Phương pháp nghiên cứu  
Trừu tượng hóa khoa học, logic kết hợp với lịch sử, quan sát thống kê, phân tích  
tổng hợp, hệ thống hóa, mô hình hóa,…  
3. Chức năng của KTCT Mác - Lênin  
3.1. Chức năng nhận thức  
8
- KTCTMác - Lênin cung cấp những tri thức lý luận về sự vận động của QHSX  
trong sự tác động qua lại với LLSX và kiến trúc thượng tầng, về các quy luật kinh tế, chi  
phối sự vận động của xã hội qua các giai đoạn lịch sử.  
- Dựa trên những tri thức khoa học đó để người học có nhận thức lịch sử phát triển  
của nền sản xuất xã hội nói chung, về chủ nghĩa tư bản nói riêng trong thực tiễn và xu  
hướng vận động, phát triển xã hội.  
- Giúp con người vận dụng các quy luật kinh tế một cách có ý thức vào hoạt động  
kinh tế nhằm đạt được hiệu quả kinh tế, xã hội cao.  
3.2. Chức năng thực tiễn  
- Là công cụ để cải tạo thực tiễn, thúc đẩy văn minh xã hội.  
- Giải quyết hài hòa các lợi ích trong quá trình phát triển của xã hội, tạo động lực  
thúc đẩy từng cá nhân và toàn xã hội không ngừng sáng tạo từ đó cải thiện không ngừng  
đời sống vật chất và tinh thần của toàn xã hội.  
- Đối với sinh viên, KTCT Mác - Lênin là cơ sở khoa học lý luận để nhận diện và  
định vị vai trò, trách nhiệm sáng tạo của mình => xây dựng tầm nhìn, kỹ năng của bản  
thân.  
3.3. Chức năng tư tưởng  
- Góp phần tạo lập nền tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin cho những người lao  
động tiến bộ và yêu chuộng tự do, yêu chuộng hòa bình, củng cố niềm tin cho những ai  
phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.  
- Góp phần xây dựng thế giới quan khoa học cho những chủ thể có mong muốn xây  
dựng một chế độ xã hội tốt đẹp, hướng tới giải phóng con người, xóa bỏ dần những áp  
bức, bất công giữa con người với con người.  
3.4. Chức năng phương pháp luận  
- Đây là một môn khoa học cơ bản cung cấp cơ sở lý luận và phương pháp luận cho  
các khoa học kinh tế ngành, các khoa học kinh tế ngành cụ thể phát triển dựa trên nền  
tảng lý luận của KTCT.  
- KTCT Mác - Lênin mang tính đảng sâu sắc, nó được quán triệt trong các môn khoa  
học kinh tế ngành cụ thể.  
CÂU HỎI ÔN TẬP  
1. Anh/chị hãy trình bày khái quát lịch sử hình thành và phát triển môn KTCT?  
2. Phân tích đối tượng của KTCT Mác – Lênin?  
3. Trình bày khái quát những phương pháp nghiên cứu chủ yếu của KTCT Mác –  
Lênin. Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề đó là gì?  
9
Chương 2  
HÀNG HÓA, THỊ TRƯỜNG VÀ VAI TRÒ  
CỦA CÁC CHỦ THỂ THAM GIA THỊ TRƯỜNG  
A. Mục tiêu  
1. Về kiến thức:  
- Nhận thức được một cách có hệ thống về lý luận giá trị lao động của C.Mác thông  
qua các phạm trù cơ bản về hàng hóa, tiền tệ, giá cả, quy luật giá trị, tính hai mặt của lao  
động SXHH, năng suất lao động.  
- Hiểu được một cách căn bản cơ sở lý luận của các mối quan hệ kinh tế trong nền  
kinh tế thị trường.  
2. Về kĩ năng:  
- Hình thành tư duy và kỹ năng thực hiện hành vi kinh tế phù hợp với yêu cầu khách  
quan của công dân khi tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội.  
- Có năng lực thu thập thông tin, kỹ năng tổng hợp, hệ thống hóa các vấn đề nghiên  
cứu.  
3. Mức độ tự chủ và trách nhiệm:  
- Có ý thức đúng đắn và thái độ tích cực trong việc nhìn nhận, đánh giá đường lối,  
chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước.  
- Trên cơ sở hệ thống lý luận đã học, sinh viên cần rút ra được những kiến thức nền  
tảng cho việc nghiên cứu về kinh tế thị trường XHCN ở Việt Nam.  
- Có ý thức bảo vệ, phổ biến và phát triển những quan điểm của chủ nghĩa Mác -  
Lênin trong giai đoạn hiện nay.  
B. Nội dung  
1. Lý luận của C.Mác về SXHH và hàng hóa  
1.1. SXHH  
1.1.1. Khái niệm SXHH  
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã và đang trải qua những kiểu tổ chức kinh  
tế:  
- Sản xuất tự cấp tự túc: là kiểu tổ chức kinh tế mà sản phẩm do lao động làm ra là  
nhằm để thỏa mãn trực tiếp nhu cầu của người sản xuất.  
- SXHH: là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm được sản xuất ra để đáp ứng nhu  
cầu của người khác thông qua trao đổi hoặc mua bán trên thị trường.  
SXHH đối lập với sản xuất tự cung tự cấp và là bước tiến bộ hơn so với sản xuất tự  
cung tự cấp. Khi LLSX và phân công lao động xã hội phát triển đến một trình độ nhất  
định SXHH sẽ ra đời thay cho sản xuất tự cung tự cấp.  
10  
SXHH ra đời từ cuối chế độ công xã nguyên thủy đầu chế độ chiếm hữu nô lệ gắn  
liền với sự ra đời của chế độ tư hữu, giai cấp, nhà nước. Đó là SXHH nhỏ (SXHH giản  
đơn) – SXHH của những người nông dân và thợ thủ công cá thể dựa trên cơ sở tư hữu  
nhỏ về tư liệu sản xuất và lao động cá nhân của họ.  
1.1.2. Điều kiện ra đời của SXHH  
Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin để SXHH ra đời phải có hai điều kiện:  
Phân công lao động xã hội  
- Phân công lao động xã hội là sự chuyên môn hóa sản xuất, phân chia lao động xã  
hội vào các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác nhau.  
- Vì có sự phân công lao động nên mỗi người, nhóm người chỉ sản xuất một hoặc  
một số sản phẩm dẫn đến kết quả:  
+ Một là năng suất lao động tăng (do độ thuần thục của tay nghề, cải tiến máy  
móc, công cụ sản xuất) dẫn đến sản phẩm thặng dư ngày càng nhiều, trao đổi sản phẩm  
ngày càng phổ biến.  
+ Hai là sản phẩm làm ra chỉ một vài thứ nhất định, những nhu cầu của cuộc sống  
đòi hỏi họ phải có nhiều loại sản phẩm khác nhau, do đó họ cần đến sản phẩm của nhau  
và phải trao đổi với nhau.  
=> Người sản xuất phụ thuộc vào nhau trong sản xuất và tiêu dùng.  
Như vậy phân công lao động xã hội là tiền đề, là cơ sở của nền SXHH, làm xuất  
hiện nhu cầu trao đổi sản phẩm. Tuy nhiên chỉ có phân công lao động xã hội thôi chưa đủ  
để SXHH ra đời và tồn tại  
Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất  
Những người sản xuất trở thành những chủ thể sản xuất, độc lập nhất định do đó sản  
phẩm làm ra thuộc người có quyền sở hữu tư liệu sản xuất hoặc do họ chi phối. Điều kiện  
này quyết định tính chất của sự trao đổi là trao đổi mua bán hàng hóa.  
Sự tách biệt này là do các quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất, mà khởi  
thủy là chế độ tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất, đã xác định người sở hữu tư liệu sản xuất là  
người sở hữu sản phẩm lao động.  
SXHH chỉ ra đời khi có đồng thời hai điều kiện nói trên, nếu thiếu một trong hai  
điều kiện ấy thì không có SXHH và sản phẩm lao động không mang hình thái hàng hóa.  
1.1.3. Mâu thuẫn của SXHH  
- Do có phân công lao động xã hội nên sản phẩm của người này trở nên cần thiết với  
người khác, cần cho thị trường, cần cho xã hội => lao động SXHH có tính xã hội.  
11  
- Mặt khác,do có sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất nên  
họ có quyền quyết định sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào lại, sản xuất cho ai => lao  
động của họ có tính chất tư nhân, cá biệt.  
Lao động tư nhân đó có thể phù hợp hoặc không phù hợp với lao động xã hội. Lao  
động tư nhân chỉ trở thành lao động xã hội, được xã hội thừa nhận là lao động có ích khi  
hàng hóa được mua bán xong trên thị trường => Lao động SXHH là sự thống nhất giữa  
hai mặt đối lập này.  
=> Mâu thuẫn cơ bản của nền SXHH là mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao  
động xã hội, đây là cơ sở, mầm móng của khủng hoảng sản xuất thừa.  
1.2. Hàng hóa  
1.2.1. Khái niệm hàng hóa  
- Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con  
người, thông qua trao đổi, mua bán.  
- Hàng hóa được phân thành hai loại:  
+ Hàng hóa hữu hình.  
+ Hàng hóa vô hình.  
- Nhu cầu thỏa mãn có nhiều loại:  
+ Nhu cầu cho cá nhân và xã hội về vật chất hoặc tinh thần.  
+ Nhu cầu cho tiêu dùng hay cho sản xuất.  
+ Nhu cầu trực tiếp trước mắt hay gián tiếp, lâu dài,...  
1.2.2. Thuộc tính của hàng hóa  
Hàng hóa có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị.  
Giá trị sử dụng của hàng hóa: là công dụng của hàng hóa nhằm thỏa mãn một  
nhu cầu nào đó của con người (tiêu dùng sản xuất, tiêu dùng cá nhân).  
- Bất cứ một hàng hóa nào cũng có một hay một số công dụng nhất định.  
- Giá trị sử dụng của hàng hóa do những thuộc tính tự nhiên (lý học, hóa học) của  
yếu tố tham gia cấu thành nên hàng hóa đó quy định.  
- Lượng giá trị sử dụng phụ thuộc vào sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật.  
- Giá trị sử dụng là phạm trù vĩnh viễn vì không phụ thuộc vào sự sự thay đổi của  
phương thức sản xuất.  
- Muốn bán được sản phẩm thì người sản xuất hàng hóa luôn quan tâm đến nhu cầu  
của xã hội, làm cho sản phẩm của mình đáp ứng được với yêu cầu của xã hội.  
12  
- Những hình thái của giá trị sử dụng gồm: những vật phẩm tiêu dùng cá nhân và  
những vật phẩm cho tiêu dùng sản xuất. Có hàng hóa vật thể, hữu hình, hàng hóa phi vật  
thể, vô hình.  
- Một vật khi đã là hàng hóa thì nhất thiết nó phải có giá trị sử dụng. Nhưng không  
phải bất cứ vật gì có giá trị sử dụng đều là hàng hóa.  
Giá trị của hàng hóa: là lao động xã hội của người sản xuất đã hao phí để sản  
xuất ra hàng hóa kết tinh trong hàng hóa ấy. Theo C.Mác:  
- Muốn hiểu được giá trị của hàng hóa phải thông qua giá trị trao đổi. Giá trị trao  
đổi, trước hết biểu hiện là một quan hệ về số lượng, là tỷ lệ trao đổi với nhau giữa những  
giá trị sử dụng khác nhau.  
Ví dụ: 1 mét vải đổi lấy 10 kg thóc (tỷ lệ 1/10).  
- Sở dĩ hai hàng hóa trên trao đổi được với nhau theo một tỷ lệ nhất định là vì: chúng  
đều là sản phẩm của lao động, có cơ sở chung là hao phí lao động của con người.  
- Hao phí lao động của con người kết tinh trong sản phẩm không phải lúc nào cũng  
là giá trị. Chỉ khi làm ra sản phẩm để trao đổi thì hao phí lao động mới mang hình thái giá  
trị.  
- Hàng hóa có lao động hao phí để sản sản xuất ra chúng càng nhiều thì giá trị của  
nó càng cao.  
- Giá trị là phạm trù lịch sử, gắn liền với nền sản xuất hàng hóa.  
- Giá trị là thuộc tính xã hội của hàng hóa.  
- Giá trị là nội dung, là cơ sở của giá trị trao đổi, còn giá trị trao đổi chỉ là hình thức  
biểu hiện của giá trị.  
- Giá trị biểu hiện mối quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa, khi nào còn sản  
xuất và trao đổi hàng hóa thì những người sản xuất còn quan tâm đến giá trị.  
1.2.3. Lượng giá trị và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa  
Lượng giá trị của hàng hóa:  
- Lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa được đo bằng lượng thời gian hao phí lao  
động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó.  
Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian cần thiết để sản xuất ra một hàng  
hoá nào đó mà được xã hội thừa nhận trong những điều kiện sản xuất bình thường của xã  
hội với một trình độ trang thiết bị trung bình, với một trình độ thành thạo trung bình và  
một cường độ lao đông trung bình trong xã hội đó.  
- Lưu ý: Lượng giá trị của hàng hóa được đo bằng chi phí xã hội để sản xuất ra hàng  
hóa đó chứ không phải chi phí cá biệt.  
13  
+ Giá trị cá biệt của hàng hóa là hao phí lao động cá biệt của người sản xuất hàng  
hóa kết tinh trong hàng hóa đó, được đo bằng thời gian lao động cá biệt. Thời gian lao  
động cá biệt là thời gian cần để sản xuất một đơn vị sản phẩm của một người sản xuất cụ  
thể. Một loại hàng hóa có thể có nhiều thời gian lao động cá biệt khác nhau, do đó có  
nhiều giá trị cá biệt khác nhau. Sản xuất và trao đổi trên toàn xã hội không thể căn cứ vào  
hao phí lao động cá biệt.  
+ Giá trị xã hội của hàng hóa: Giá trị của hàng hóa được xã hội thừa nhận gọi là  
giá trị xã hội chính là mức hao phí lao động cần để sản xuất ra hàng hoá được xã hội thừa  
nhận, được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiêt.  
- Cấu thành lượng giá trị hàng hóa: hao phí lao động quá khứ (chứa trong các yếu  
tố vật tư, nguyên nhiên liệu đã tiêu dùng để sản xuất ra hàng hóa đó) và hao phí lao động  
mới kết tinh thêm.  
Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa:  
- Năng suất lao động:  
+ Năng suất lao động là năng lực sản xuất của lao động được tính bằng số lượng  
sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian, hay số lượng thời gian cần thiết để sản  
xuất ra một đơn vị sản phẩm.  
+ Có 2 loại: năng suất lao động cá biệt và năng suất lao động xã hội.  
+ Khi năng suất lao động tăng: Số lượng sản phẩm sản xuất ra trong 1đơn vị thời  
gian tăng, thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra 1 đơn vị sản phẩm giảm.  
+ Khi xem xét về mối quan hệ giữa tăng năng suất lao động với lượng giá trị của  
một đơn vị hàng hóa, C.Mác có chú ý thêm về mối quan hệ giữa tăng cường độ lao động  
với lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa. Theo ông, khi tăng cường độ lao động thì tổng  
giá trị hàng hóa tạo ra trong một đơn vị thời gian tăng lên, nhưng lượng giá trị của một  
đơn vị hàng hóa không thay đổi.  
- Mức độ phức tạp của lao động:  
+ Lao động giản đơn là lao động mà bất kỳ một người lao động bình thường nào  
không phải qua đào tạo cũng có thể thực hiện được.  
+ Lao động phức tạp là lao động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện thành lao  
động chuyên môn lành nghề nhất định mới có thể tiến hành được.  
Trong cùng một thời gian, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao động giản  
đơn.  
Khi trao đổi hàng hóa trên thị trường người ta lấy lao động giản đơn làm đơn vị và  
quy lao động phức tạp thành lao động giản đơn, với ý nghĩa đó lao động phức tạp là bội  
số của lao động giản đơn.  
14  
1.2.4. Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa  
Lao động cụ thể  
- Khái niệm: là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của một nghề nghiệp  
chuyên môn nhất định. Mỗi lao động cụ thể có mục đích riêng, phương pháp, công cụ lao  
động, đối tượng lao động và kết quả lao động riêng.  
- Lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa => Lao động cụ thể chính là  
một trong những nguồn gốc hình thành giá trị sử dụng của hàng hóa.  
- Lao động cụ thể hợp thành hệ thống phân công lao động xã hội.  
- Khoa học kỹ thuật càng phát triển các hình thức lao động cụ thể càng đa dạng,  
phong phú.  
- Lao động cụ thể là phạm trù vĩnh viễn.  
- Xã hội càng phát triển các hình thức của lao động cụ thể có thể thay đổi.  
Lao động trừu tượng  
- Khái niệm: là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa đã gạt bỏ hình thức  
biểu hiện cụ thể của nó để quy về cái chung đồng nhất, đó là sự tiêu phí sức lao động, tiêu  
hao sức cơ bắp, thần kinh của con người.  
- Lao động trừu tượng chỉ có trong sản xuất hàng hóa (do mục đích của sản xuất là  
để trao đổi) => là phạm trù lịch sử, chỉ có sản xuất sản phẩm để bán thì lao động sản xuất  
hàng hóa đó mới có tính chất là lao động trừu tượng.  
- Lao động trừu tượng là nguồn gốc duy nhất tạo ra giá trị hàng hóa. Đây là cơ sở để  
so sánh, trao đổi các giá trị sử dụng khác nhau.  
Lưu ý:  
- Ở đây không phải có hai thứ lao động khác nhau mà chỉ là lao động của người sản  
xuất hàng hóa, nhưng lao động đó lại mang tính hai mặt: vừa là lao động cụ thể, vừa là lao  
động trừu tượng.  
- Lao động cụ thể chỉ là một trong hai nhân tố tạo thành giá trị sử dụng, còn lao  
động trừu tượng là nhân tố duy nhất tạo ra giá trị của hàng hóa. Giá trị của mọi hàng hóa  
chỉ là sự kết tinh của lao động trừu tượng.  
Kết luận:  
- Việc phát hiện tính hai mặt của lao động SXHH có ý nghĩa rất to lớn về mặt lý  
luận.  
- Tính hai mặt của sản xuất hàng hóa đã phản ánh tính chất tư nhân và tính chất xã  
hội của của người sản xuất hàng hóa.  
15  
Tính chất tư nhân của lao động của người sản xuất hàng hóa biểu hiện: mỗi người  
sản xuất hàng hóa sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào là quyền của họ vì vậy lao động  
đó mang tính chất tư nhân, lao động cụ thể của họ là biểu hiện của lao động tư nhân.  
Tính chất xã hội của lao động sản xuất của người sản xuất hàng hóa biểu hiện: lao  
động của người sản xuất hàng hóa là một bộ phận của toàn bộ lao động xã hội trong hệ  
thống phân công lao động xã hội. Căn cứ để trao đổi hàng hóa là lao động trừu tượng vậy  
lao động trừu tượng là biểu hiện của lao động xã hội.  
Giữa lao động tư nhân và lao động xã hội có mâu thuẫn, biểu hiện:  
+ Sản phẩm do những người sản xuất hàng hóa riêng biệt tạo ra có thể không ăn  
khớp với nhu cầu của xã hội (thừa hoặc thiếu). Nếu sản xuất vượt quá nhu cầu của xã hội  
sẽ có một số hàng hóa không bán được, không thực hiện được giá trị.  
+ Chi phí cá biệt của người sản xuất hàng hóa cao hơn so với chi phí xã hội cho  
phép, không bán được, không thu hồi được chi phí lao động bỏ ra.  
Mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội là mầm mống của mọi mâu  
thuẫn trong nền sản xuất hàng hóa. Chính vì mâu thuẫn đó mà sản xuất hàng hóa vừa vận  
động phát triển, vừa tiềm ẩn khả năng khủng khoảng.  
1.3. Tiền  
1.3.1. Nguồn gốc và bản chất của tiền  
Nguồn gốc của tiền:  
Muốn hiểu nguồn gốc của tiền ta phải nghiên cứu quá trình phát triển của các hình  
thức giá trị trao đổi, hay nói cách khác nghiên cứu sự phát triển các hình thái biểu hiện  
của giá trị. Có bốn hình thái biểu hiện của giá trị:  
- Hình thái giản đơn hay ngẫu nhiên của giá trị  
+ Xuất hiện vào thời kỳ cuối xã hội cộng sản nguyên thủy, khi đó sản xuất còn ở  
trình độ rất thấp, sản phẩm tạo ra chưa nhiều, các sản phẩm lao động biến thành hàng hóa  
trong những hành vi đơn nhất, ngẫu nhiên và trực tiếp.  
+ Việc trao đổi lúc này chỉ mang tính chất đơn lẻ, ngẫu nhiên, người ta trao đổi  
trực tiếp từ hàng lấy hàng.  
+ Hạn chế: trao đổi mang tính chất ngẫu nhiên, trao đổi trực tiếp từ hàng hóa này  
lấy hàng hàng hóa khác.  
- Hình thái giá trị đầy đủ (mở rộng)  
+ Hình thái này xuất hiện khi sản xuất phát triển hàng hóa nhiều hơn, trao đổi trở  
thành thường xuyên hơn một hàng hóa có thể trao đổi được với nhiều hàng hoá khác một  
cách thông thường, phổ biến.  
16  
+ Tỷ lệ trao đổi đã cố định hơn, tỷ lệ trao đổi không còn mang tính chất ngẫu  
nhiên nữa mà dần dần do lao động quy định.  
+ Hạn chế: trao đổi vẫn là trực tiếp hàng lấy hàng; giá trị hàng hoá được biểu hiện  
còn chưa hoàn tất, thống nhất mà bằng một chuỗi vô tận của các hàng hoá khác.  
- Hình thái chung của giá trị  
+ Với sự phát triển cao hơn nữa của LLSX và phân công lao động xã hội, hàng  
hóa được đưa ra trao đổi thường xuyên hơn, đa dạng và nhiều hơn. Nhu cầu trao đổi do đó  
trở nên phức tạp hơn.  
+ Giá trị của mọi hàng hoá đều được biểu hiện ở một hàng hoá đóng vai trò làm  
vật ngang giá chung, “vật ngang giá phổ biến”.  
+ Hạn chế: Vật ngang giá chung chưa cố định ở một hàng hoá nào cả, tùy từng  
địa phương, từng thời kỳ mà người ta chọn lựa những vật ngang giá chung khác nhau.  
- Hình thái tiền tệ  
+ Giá trị của tất cả mọi hàng hoá đều được biểu hiện ở một hàng hoá đóng vai trò  
tiền tệ.  
+ Khi muốn mua hàng hóa, người ta trao đổi gián tiếp từ tiền lấy hàng.  
Lúc đầu, có nhiều loại hàng hoá đóng vai trò tiền tệ, nhưng dần dần vai trò tiền tệ  
được chuyển sang các kim lại quý (tiền kim loại) như đồng rồi bạc và cuối cùng là vàng.  
Khi bạc và vàng cùng làm chức năng tiền tệ thì chế độ tiền tệ gọi là chế độ song  
bản vị. Khi chỉ còn vàng độc chiếm vị trí tiền tệ thì chế độ tiền tệ được gọi là chế độ bản  
vị vàng.  
Tóm lại tiền ra đời do kết quả sự phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa. Tiền  
là sản phẩm do con người tạo ra.  
Bản chất của tiền  
- Tiền là một hàng hoá đặc biệt, là kết quả của quá trình phát triển của sản xuất và  
trao đổi hàng hóa, tiền xuất hiện là yếu tố ngang giá chung cho thế giới hàng hóa.  
- Tiền là hình thái biểu hiện giá trị của hàng hóa.  
- Tiền phản ánh lao động xã hội và mối quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất  
và trao đổi hàng hoá.  
- Tiền tệ xuất hiện thì thế giới hàng hóa phân làm hai loại:  
+ Là hàng hóa thông thường đại biểu cho những giá trị sử dụng.  
+ Là hàng hóa tiền tệ đại biểu cho giá trị.  
1.3.2. Chức năng của tiền tệ  
- Thước đo giá trị  
+ Tiền dùng để xác định lượng giá trị của tất cả các loại hàng hóa khác nhau.  
17  
+ Giá trị biểu hiện bằng tiền gọi là giá cả hàng hóa. Hay nói cách khác, giá cả  
hàng hóa là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa.  
- Phương tiện lưu thông  
+ Tiền làm môi giới trong trao đổi hàng hoá.  
+ Các loại tiền:  
Trong lịch sử hình thái của tiền đã trải qua quá trình phát triển không ngừng từ  
thấp lên cao: Tiền hiện vật =>Tiền kim loại quý => Tiền ký hiệu =>Tiền tín dụng =>Tiền  
điện tử…  
+ Thực hiện chức năng này, tiền làm cho quá trình mua bán diễn ra được thuận  
lợi, nhưng đồng thời nó cũng làm cho việc mua bán tách rời nhau cả về không gian và  
thời gian, do đó nó đã bao hàm khả năng khủng hoảng.  
+ Ở mỗi thời kỳ nhất định, lưu thông hàng hóa bao giờ cũng đòi hỏi một lượng  
tiền cần thiết cho sự lưu thông. Số lượng tiền này được xác định bởi quy luật chung của  
lưu thông tiền tệ. Khi khối lượng tiền giấy do nhà nước phát hành vào lưu thông vượt quá  
khối lượng tiền cần cho lưu thông, thì giá trị của tiền tệ sẽ bị giảm xuống, tình trạng lạm  
phát sẽ xuất hiện.  
- Phương tiện cất trữ  
Thay vì cất trữ hàng hóa, người ta cất trữ tiền. Lúc này tiền rút ra khỏi lưu thông đi  
vào trạng thái cất trữ dưới hình thái vàng bạc và sẽ đi vào lưu thông khi cần thiết.  
- Phương tiện thanh toán  
Khi thực hiện chức năng thanh toán, tiền được dùng để trả nợ, trả tiền mua chịu  
hàng hóa.  
- Tiền tệ thế giới  
+ Chức năng này xuất hiện khi trao đổi hàng hoá mở rộng ra bên ngoài biên giới  
quốc gia và hình thành quan hệ buôn bán giữa các nước.  
+ Làm chức năng tiền tệ thế giới thì phải là tiền vàng hoặc tiền tín dụng được  
công nhận là phương tiện thanh toán quốc tế.  
Tóm lại, tiền tệ có năm chức năng, những chức năng này ra đời cùng với sự phát  
triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá. Năm chức năng đó quan hệ mật thiết với nhau  
và thông thường tiền làm nhiều chức năng cùng một lúc.  
1.4. Dịch vụ và một số hàng hóa đặc biệt  
Nội dung trình bày ở mục này thể hiện sự nghiên cứu có tính chất làm rõ thêm một  
số khía cạnh mà trong điều kiện thời của Mác chưa có điều kiện nêu ra một cách đầy đủ.  
18  
1.4.1. Dịch vụ  
- Theo cách hiểu của KTCT Mác - Lênin, dịch vụ là một loại hàng hóa, nhưng đó là  
hàng hóa vô hình. Nếu dịch vụ cho sản xuất thì nó thuộc khu vực hàng hóa cho sản xuất,  
nếu dịch vụ cho tiêu dùng thì nó thuộc phạm trù hàng hóa cho tiêu dùng.  
- Dịch vụ cũng có hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng.  
- Dịch vụ là hàng hóa không thể cất trữ.  
- Việc sản xuất và tiêu dùng dịch vụ được diễn ra đồng thời.  
- Do sự phát triển của phân công lao động xã hội dưới sự tác động của KHCN, dịch  
vụ ngày càng có vai trò quan trọng trong việc thỏa mãn nhu cầu văn minh của con người.  
1.4.2. Một số hàng hóa đặc biệt  
Quyền sử dụng đất đai  
- Ở Việt Nam, trong lĩnh vực bất động sản, hàng hóa mà người ta trao đổi mua, bán  
là quyền sử dụng đất chứ không phải là đất đai.  
- Quyền sử dụng đất có giá trị sử dụng, có giá cả nhưng không do hao phí lao động  
tạo ra như hàng hóa thông thường. Giá cả quyền sử dụng đất do tính khan hiếm của bề  
mặt vỏ địa cầu và do trình độ phát triển của sản xuất.  
Sự phát triển của sản xuất gia tăng làm nảy sinh nhu cầu cần mặt bằng để kinh  
doanh; sự gia tăng dân số làm tăng nhu cầu về nhà ở. Trong khi quyền sử dụng đất lại  
được ấn định do các chủ thể nhất định, cho nên làm xuất hiện nhu cầu mua bán quyền sử  
dụng đất. Người mua phải trả cho người bán một khoản tiền, khoản tiển này gọi là giá cả  
của quyền sử dụng đất.  
Thương hiệu (danh tiếng)  
- Ngày nay, thương hiệu của một doanh nghiệp hay danh tiếng của một cá nhân cũng  
là một loại hàng hóa => Được định giá và được trao đổi mua bán trên thị trường.  
- Thương hiệu, danh tiếng cũng có giá trị và giá trị sử dụng.  
+ Giá trị: Thương hiệu không tự nhiên mà có, nó do hao phí sức lao động của  
người nắm giữ thương hiệu tạo ra. Danh tiếng cũng vậy, để tạo nên danh tiếng, bản thân  
người sở hữu danh tiếng cũng phải hao phí sức lao động để tạo ra nó.  
+ Giá trị sử dụng: Có người không đủ khả năng tạo nên thương hiệu thì họ mua  
thương hiệu về để mở chi nhánh; có những doanh nghiệp thuê các cầu thủ nổi tiếng về  
làm người đại diện để thu hút sự chú ý của người tiêu dùng…  
Chứng khoán, chứng quyền và một số giấy tờ có giá  
- Ngày ngay, kinh doanh chứng khoán, chứng quyền và một số giấy tờ có giá cũng  
đem lại một lượng tiền lớn cho người mua bán.  
Chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu) do các công ty, doanh nghiệp cổ phần phát hành.  
19  
Chứng quyền do các công ty kinh doanh chứng khoán chứng nhận.  
Giấy tờ có giá: ngân phiếu, thương phiếu.  
- Sự phát triển của loại hình kinh doanh này hình thành nên thị trường chứng khoán.  
C.Mác gọi những hàng hóa này là tư bản giả, để phân biệt với tư bản tham gia quá  
trình sản xuất trao đổi hàng hóa thực trong nền kinh tế.  
- Để có thể mua bán được các loại chứng khoán, chứng quyền và một số giấy tờ có  
giá này thì bản thân nó phải dựa trên cơ sở sự tồn tại của một tổ chức sản xuất kinh doanh  
có thực.  
- Sự giàu có của các cá nhân có được số lượng tiền tăng lên sau mỗi giao dịch thực  
chất là sự chuyển tiền từ người này sang túi của người khác. Tiền trong trường hợp này  
thực hiện chứng năng thanh toán, không phản ánh giá trị của chứng khoán.  
- Giá cả của chứng khoán phản ánh lợi ích kỳ vọng mà người mua có thể có được.  
- Việc phát hành chứng khoán lên sàn giao dịch chứng khoán giúp doanh nghiệp huy  
động được nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội và giúp người có tiền nhàn rỗi có cơ hội đầu  
tư sinh lãi.  
2. Thị trường và vai trò của các chủ thể tham gia thị trường  
2.1. Thị trường  
2.1.1. Khái niệm và vai trò của thị trường  
Khái niệm:  
- Theo nghĩa hẹp: Thị trường là nơi diễn ra hành vi trao đổi, mua bán hàng hóa giữa  
các chủ thể kinh tế với nhau.  
- Theo nghĩa rộng: Thị trường là tổng hòa các mối quan hệ liên quan đến trao đổi,  
mua bán hàng hóa trong xã hội, được hình thành do những điều kiện kinh tế, xã hội nhất  
định. Tất cả quan hệ và yếu tố kinh tế này được vận động theo quy luật của thị trường.  
Phân loại thị trường:  
Tùy vào cách tiếp cận ta có thể chia thị trường thành các loại như sau:  
- Căn cứ vào đối tượng hàng hóa đưa ra trao đổi:  
+ Thị trường tư liệu sản xuất.  
+ Thị trường tiêu dùng.  
- Căn cứ vào phạm vi hoạt động:  
+ Thị trường trong nước.  
+ Thị trường quốc tế.  
- Căn cứ vào đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất:  
+ Thị trường các yếu tố đầu vào.  
+ Thị trường hàng hóa đầu ra.  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 67 trang Thùy Anh 17540 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Kinh tế chính trị Mác-Lênin - Ngô Thị Thùy Dung", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_kinh_te_chinh_tri_mac_lenin_ngo_thi_thuy_dung.pdf